| Gioan 20,22-23 dưới ánh sáng của Bản LXX |
|
Các nhà thần học công giáo chung chung đồng ý rằng Công đồng Trentô, tuy đã một cách bất khả ngộ và vĩnh viễn thiết lập ý nghĩa tín lý của Gioan 20,22-23, vẫn không cấm các tranh luận sau này liên hệ đến ý nghĩa nguyên thủy của bản văn. Nói theo ngôn ngữ của lý thuyết giải thích Kinh Thánh theo Công giáo, lối hiểu áp dụng vào lãnh vực bí tích của Ga 20,22-23 có thể được nêu ra như là một ví dụ về sensus plenior thay vì chỉ là sensus litteralis được xác định bởi phương pháp phê bình lịch sử. Trong thực tế, dường như có thể hiểu cách khác mà vẫn tôn trọng được ý hướng của tác giả. Và có điều này là bởi vì giữa bản văn Híp-ri và bản văn Hy-lạp có những điểm khác nhau (Chúng ta đã có một ví dụ trứ danh là Is 7,14: từ ngữ almâh [= thiếu nữ] trong bản Híp-ri được bản Hy-lap dịch là parthenos [= trinh nữ]), mà Hội Thánh Công Giáo thì công nhận cả hai bản văn đều được linh hứng. Tuy nhiên, những suy tư được ghi lại đây chỉ là một chia sẻ trong nỗ lực tiếp tục nghiên cứu.
Bản văn Ga 20,22-23 như sau: 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." 1. Ngữ cảnh Sau khi chúc bình an lần thứ hai, Đức Giêsu nói đến việc sai phái các môn đệ (Ga 20,21). Trước đây, tác giả TM IV cũng đã nói đến một việc sai phái các môn đệ tương tự việc Chúa Cha sai phái Đức Giêsu (13,20; 17,18). Thiên Chúa sai phái Đức Giêsu đi nói các lời của Thiên Chúa và giảng dạy (3,34; 7,16; 8,26; 12,49; 14,24), để thực hiện ý muốn và các công việc của Thiên Chúa (4,34; 5,30.36; 6,38-39; 9,4), và cứu độ thế gian (3,17). Từ ngữ "như" (kathôs) ở 20,21 khiến nhớ lại nhiều đoạn trong TM IV cho hiểu rằng các môn đệ phải làm việc như các ngôn sứ của Đức Giêsu, y như Đức Giêsu đã làm việc như là ngôn sứ của Cha Người. Như Đức Giêsu đã thấy Chúa Cha, họ cũng đã thấy Đức Giêsu; qua việc thấy Đức Giêsu, họ cũng đã thấy Chúa Cha (14,7-9). Bởi vì Đức Giêsu đã cho họ tất cả được biết những gì Người nghe được từ Chúa Cha (15,15), những gì họ đã nghe được từ Đức Giêsu bây giờ là lời của Chúa Cha (14,24). Các lời (rêmata) đã được Chúa Cha ban cho Đức Giêsu, Đức Giêsu đã ban cho các môn đệ (17,8). Như Đức Giêsu đã làm chứng về những gì Người đã thấy và nghe (3,11.32), các môn đệ Người cũng phải làm chứng về Người (15,27). Như một cành nho không thể sinh hoa trái tự mình (aph' [h]eautou) nhưng chỉ nhờ ở lại trên cây nho, họ cũng phải ở lại trong Đức Giêsu, "vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (15,4-5). Đức Giêsu đã ban cho họ vinh quang (doxa) mà Chúa Cha đã ban cho Người (17,22). Như vậy, các đặc điểm ngôn sứ trong sứ mạng của Đức Giêsu nay được gán cho các môn đệ sau khi Người đã chết, sống lại và lên trời vinh hiển. Nói xong, Người "thổi hơi vào" (enephysêsen) các môn đệ; nói như thế là tác giả giải thích rằng hơi thở của Đức Giêsu là Thánh Thần. Y như sự cố Thần Khí xuống đã đánh dấu khởi đầu sứ vụ của Đức Giêsu (1,32-33), nay ân ban Thần Khí khai mạc sứ mạng của các môn đệ. Trước đây Đức Giêsu đã nói đến Thần Khí sự thật, Đấng ở lại (menei) với các môn đệ (14,17) như Ngài đã ở lại (emeinen) trên Đức Giêsu (1,32). Đây là Thần Khí ngôn sứ, theo như Đức Giêsu đã giải thích: "Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến (16,13). Ở đây nhiều đặc tính ngôn sứ được áp dụng cho Thần Khí: Ngài vừa nghe vừa nói/loan báo những điều giấu kín, và Ngài là trung gian truyền tải sứ điệp. Ngài sẽ làm chứng cho Đức Giêsu và như thế cung cấp cho các môn đệ một điển hình (15,26-27). Bây giờ chúng ta thấy ảnh hưởng của Bản LXX trên bản văn Gioan. Động từ emphysian ("thổi hơi vào") ở Ga 20,22 đã được dùng tại St 2,7 LXX là chỗ nói về việc Thiên Chúa thổi hơi sống vào Ađam. Dựa vào đó, có những nhà chú giải đã giải thích rằng, chức năng của Thần Khí là rửa sạch các môn đệ khỏi tội lỗi và làm cho họ thành một cuộc tạo dựng mới. Nhưng ở đây Thần Khí được ban cho các môn đệ không phải vì lợi ích cá nhân họ, nhưng vì những kẻ khác. 2. Bản văn Ga 20,23 Trong câu 23, "Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" dường như có tiếng vọng của bản văn Ds 22-24 trong Bản LXX, đó "Chu kỳ Bilơam" hay "Truyện Bilơam". Chẳng hạn so sánh Ga 20,23 // Ds 22,6 LXX. Theo bản văn Híp-ri, vua Balác xác tín rằng "kẻ nào bị ông nguyền rủa thì mắc họa/bị nguyền rủa" (Ds 22,6 Híp-ri), nghĩa là, sẽ bị nguyền rủa qua lời nguyền Bilơam tuyên bố. Ông không bận tâm với quyền năng của Thiên Chúa Israel, là Đấng có đồng ý thì Bilơam mới có thể chúc phúc hoặc nguyền rủa (Ds 22,12; 23,8). Hai động từ Híp-ri, mbrk ở dạng phân từ (participle) pual ("được [chúc] phúc") và yw'r ở thái bị động (passive) qal ("bị nguyền rủa"/"mắc họa") được Bản LXX chuyển thành hai động từ ở thì hoàn thành lối trình bày (perfect indicative) tương ứng là eulogêntai và kekatêrantai. Hai động từ Híp-ri đó ở trong lời của Balác ở Ds 22,6 khi được chuyển thành hy-ngữ (Bản LXX) không còn ý nghĩa đơn thuần nữa, mà có một ý nghĩa hàm hồ: có thể hiểu "được phúc" (eulogêntai) và "mắc họa/bị nguyền rủa" (kekatêrantai) là những thì hoàn thành kín đáo (gnomic perfects), với ý nghĩa ít nhiều tương đương với dạng phân từ và vị hoàn Híp-ri. Nhưng cũng có thể hiểu lời nói của Balác là một lời thú nhận không chủ ý, là chỉ những ai đã được Thiên Chúa chúc phúc hoặc bị Thiên Chúa nguyền rủa thì Bilơam mới có thể chúc phúc hoặc nguyền rủa. Đó chính là điều Thiên Chúa đã nói với Bilơam: "Ngươi không được đi với chúng! Không được nguyền rủa dân đó, vì nó đã được chúc phúc (estin gar eulogêmenon)". Bilơam không thể nguyền rủa kẻ đang sống trong tình trạng được chúc phúc, từ đó chúng ta hiểu là kẻ nào ông nguyền rủa được, kẻ ấy đã đang bị Thiên Chúa nguyền rủa rồi. Balác đã nói như thế và ông có lý, mà ông không biết. Dạng hoàn thành apheôntai ("được tha") và kekratêntai ("bị cầm giữ") ở Ga 20,23 có thể được hiểu theo cách đó. Phải lý giải các thì hoàn thành này như thế nào thì vẫn còn đang được các chuyên viên tranh luận ráo riết, mà dường như giải pháp không nằm đơn giản trong bình diện ngữ pháp. Nếu nhìn nhận rằng ở đây có một tiếng vang của Chu kỳ Bilơam, dường như lại mở ra được một hướng giải quyết. Nếu hiện tượng các môn đệ Đức Giêsu tha tội và cầm tội bằng quyền lực Thánh Thần song song với hiện tượng Bilơam chúc phúc và nguyền rủa trong thần khí Thiên Chúa, thì các thì hoàn thành của Ga 20,23 không có nghĩa là Thiên Chúa phê chuẩn "khống" cho bất cứ việc tha tội và cầm tội nào mà các môn đệ "tùy ý" công bố. Đúng hơn, các thì hoàn thành này diễn tả điều này: do Thánh Thần ngôn sứ được ban cho các ông, các môn đệ sẽ có khả năng tha tội cho những người, và chỉ những người đã được Thiên Chúa hoặc Đức Giêsu tha tội trước rồi. Origiênê cũng hiểu như thế (Or. 28). Thêm một ghi nhận nữa là phải chăng kekratêntai đã được chọn là vì có một tiếng vọng lại về ngữ âm với kekatêrantai trong Ds 22,6? Thật ra, Tin Mừng Gioan, trong những phần tường thuật sứ vụ Đức Giêsu, cũng đã có đề cập đến lời công bố tha tội và cầm tội này rồi. Chẳng hạn, trong chiều hướng của tư cách ngôn sứ của Người, Con đã nhận được từ Cha "quyền xét xử" (Ga 5,22.27.30; 8,16.26; x. 3,19; 12,31.48; 16,11), mặc dù mục tiêu tối hậu của Thiên Chúa khi sai Đức Giêsu là không phải để lên án thế gian mà là để cứu thế gian (3,17; 12,47; xem lời của Bilơam có giọng tương tự: Ds 23,8). Đức Giêsu đã cảnh giác những ai không tin vào Người rằng họ sẽ chết trong tội của họ (8,21.24). Tội của họ "vẫn còn" (9,41; x. 15,22.24; 19,11). Trong bài Diễn từ về Đấng Bảo Trợ, Đấng sẽ thay thế Người, Đức Giêsu nói rằng Thánh Thần sẽ tiếp nối sứ vụ của Người là xét xử và "làm việc" với tội không tin của thế gian (16,8). Tư cách ngôn sứ được gán cho Thánh Thần. Do đó, hợp lý là coi Ga 20,21-23 là lệnh truyền Đức Giêsu ban cho các môn đệ là hãy thực hành sứ vụ của Thánh Thần ngôn sứ, một sứ vụ có hàm chứa một sự khéo léo mang tính ngôn sứ để có thể nhận ra và công bố kết tội và sự tha thứ. 3. Một ví dụ để kết Vấn đề trên đây chưa có giải đáp kết thúc. Nhưng từ đó, chúng ta hiểu là chú giải cho tốt để dịch bản văn là điều rất hệ trọng. Đây là một ví dụ. Trong sách Cv, đến cuộc truyện kể là các tông đồ quyết định rút thăm để chọn người thay thế Giuđa Ítcariốt, họ đã cầu nguyện. Lời cầu nguyện của họ có câu (Cv 1,24): "se kyrie kardiognôsta pantôn anadeixon [h]on exelexô ek toutôn tôn dyo [h]ena". Để làm nổi rõ các sắc thái, xin diễn tả như sau: "Lạy Ngài, Ngài mới là Đức Chúa, xin chỉ cho thấy Ngài đã chọn ai trong hai người...". Bản văn không nói: "Ngài sẽ chọn ai..." hoặc "Ngài muốn chọn ai...", mà "Ngài đã chọn ai...", vì exelexô là động từ ở thì quá khứ aorist. Điều này cho hiểu: các môn đệ biết rằng sự chọn lựa của Chúa là chuyện đã rồi; bây giờ họ chỉ xin Người cho họ biết sự chọn lựa này mà thôi, để có thể đưa ra thi hành, bởi vì chỉ "Ngài mới là Đức Chúa", có toàn quyền quyết định. Thế nhưng lâu nay dường như vẫn có cách giải thích là họ chọn ai, thì Chúa cũng chọn người đó. Ngay trong các cuộc bầu chọn người của chúng ta, chúng ta thường hiểu thế nào? F.X Vũ Phan Long, OFM
Tham khảo:
CADBURY, H.J., "The Meaning of John 20:23, Matthew 16:19, and Matthew 18:18", JBL 58 (1939) 251-54.
DERRETT, J.D.M., "Binding and Loosing [Matt 16:19; 18:18; John 20:23]", JBL 102 (1983) 112-117.
HAŠGERLAND, T., "The Power of Prophecy: A Septuagintal Echo in John 20:19-23", CBQ 1 (2009) 84-103.
HANSEN, S.E., "Forgiving and Retaining Sin: A Study of the Text and Context of John 20:23", HBT 19 (1997) 24-32.
MANTEY, J.R., "The Mistranslation of the Perfect Tense in John 10:23, Mt 16:19, and Mt 18:18", JBL 58 (1939) 243-49.
-, "Evidence that the Perfect Tense in John 20:23 ang Matthew 16:19 is Mistranslated", JETS 16 (1973) 129-138.
-, "Distorted Translations in John 20:23; Matthew 16:18-19 and 18:18", RevExp 78 (1981) 409-16.
MORRIS, L., The Gospel according to John: The English Text with Introduction, Exposition and Notes, NICNT; Eerdmanns Grand Rapids 1971. |