Skip to content

Bình An và Thiện Hảo

Nơi nào có giả dối sai lầm, xin giúp con rao truyền chân lý.



Hiện có 14 khách 
Những nét tiêu biểu cần cho một ứng sinh

Một ứng viên có năng lực, trước tiên, phải là một người trưởng thành, tâm lý lành mạnh. Chỉ người có sự bình an nơi chính mình mới có thể chu toàn sứ vụ. Như vậy, một số khả năng mà bất cứ một người trưởng thành lành mạnh nào đều cần thì lại càng quan trọng hơn đối với người sống đời tu trì hay linh mục. Sau đây là một số nét cần thiết nơi ứng sinh.

Khả năng biết quan tâm

Một người không vị kỷ, là người có khả năng nhận thức được nỗi đau của người khác và lưu tâm đến họ. Thiếu khả năng này là dấu hiệu của một sự bất ổn về nhân cách, đó là yêu mình quá đáng. Một người như thế sẽ lạnh lùng, ích kỷ và thích dùng quyền bính. Một ứng sinh linh mục hay tu sĩ phải biết quan tâm tới người khác, kể cả người xa lạ.

Khả năng sống cô tịch

Một người không sống được trong sự cô tịch sẽ dễ dàng chiều theo quan điểm của đoàn, nhóm và cần có người khác ở với mới sống được. Khả năng sống cô tịch quan trọng trong đời sống tu trì vì nhiều lý do:

• Nhu cầu tách lìa với những người thân yêu.

• Nhu cầu để cho mình thong dong để sống nội tâm.

• Khả năng tuân giữ những quy định trong đời sống chung.

• Khả năng tạo được bầu khí thinh lặng và cầu nguyện, ít là một phần trong ngày.

• Khả năng đón nhận những câu nói chói tai, khó ưa.

Khả năng đóng góp vào đời sống của nhóm

Ứng sinh có năng lực, có tính xã hội tốt, ý thức rằng sự ổn định của nhóm cũng là của mình và biết đóng góp phần của mình. Đối với ứng viên người châu Á thì đôi khi cần mạnh mẽ để có thể tạm thời tách khỏi nhóm, và khi cần, đi ngược lại với ước muốn của nhóm.

Khả năng có tương giao ổn định

Trong khi đồng hành cần hỏi ứng sinh về mối tương giao với bạn bè và gia đình. Một lần nữa, cần lưu ý lượng định ứng sinh trong bối cảnh văn hóa. Thường xuyên thay đổi trường học, nơi làm việc là một chỉ dẫn tiêu cực cho thấy một người như thế sẽ không có khả năng thân thiện với thầy cô, bạn bè hay người trên.

Khả năng thông cảm

Linh mục hay tu sĩ là người phục vụ kẻ khác hoặc nắm giữ quyền bính. Họ cần có sự thông cảm đối với người khác nghĩa là người có khả năng đặt mình vào trong hoàn cảnh của người khác và có khả năng hình dung các phản ứng hay cảm xúc của mình trong một hoàn cảnh xảy ra.

Khả năng biết thăng hoa, đặc biệt trong vấn đề tính dục

Nói thăng hoa có nghĩa là làm cho mọi xu hướng thể xác đạt đến một đích điểm ít thú tính và nhiều tính người hơn. Trong việc thăng hoa tính dục,điều được nhấn mạnh, không ở việc thỏa mãn mà hướng tới yêu thương, đánh giá người khác vì lợi ích của họ chứ không như một đối tượng để thỏa mãn. Do đó, ứng sinh cần được yêu cầu cho biết lịch sử về tính dục (sexual history) và những suy nghĩ về tính dục của họ. Mục đích là để biết ứng sinh có hiểu tính dục trong mối tương quan liên vị hơn là việc bị cô lập hay khai thác người khác.

Khả năng biểu tượng hóa

Khả năng này cho phép vận dụng các dữ liệu bằng lý trí hơn là với hành động tay chân, giải quyết vấn đề bằng ngôn từ chứ không bằng sức mạnh thân xác. Khả năng biểu tượng hóa có liên quan tới khả năng sống cô tịch. Khả năng biểu tượng hóa là một chỉ dẫn quan trọng cho thấy nét phù hợp của ứng sinh. Luôn hiểu theo nghĩa đen không phải là điều thích hợp cho người tu sĩ hay linh mục. Phụng vụ công giáo dùng rất nhiều nghi thức và biểu tượng. Sự thăng hoa và những hi sinh nói đến trong các lời khấn đạt đến một ý nghĩa cá nhân và được làm cho trở nên nhẹ nhàng nhờ một khả năng vận dụng và thay thế mang tính biểu tượng.

Khả năng điều chỉnh cảm xúc

Thông thường cảm xúc của một người lành mạnh không diễn tả tới cao độ ra bên ngoài như la hét ồn ào, khóc lóc, ngất xỉu... Rõ ràng, khả năng điều chỉnh cảm xúc cũng là một bức tường bảo vệ lời khấn khiết tịnh. Một số nền văn hóa tại châu Á nhấn mạnh việc giữ kín cảm xúc. Trong khi tiếp xúc, ứng viên cần được yêu cầu cho biết cảm xúc khi họ sợ hãi hay là cách diễn tả tình cảm trước một vấn đề.

Khả năng thoái lui và củng cố lại

Bằng cách thoái lui có nghĩa là quay về với sự vận hành ở mức phát triển trước đó. Việc củng cố lại là khả năng trở về cách dễ dàng từ một chuyển động hay giai đoạn thoái lui tới một mức độ cao hơn của chức năng tâm lý. Thoái lui là câu trả lời thông thường của việc tự-bảo-vệ, điều này cần thiết trong cách xử sự hay trong công việc mang tính sáng tạo, như là viết và diễn tả qua nhiếu loại hình nghệ thuật khác nhau. Tiến trình chuyển động qua lại của thoái lui và củng cố cho thấy sự mềm dẻo của nhân cách được bảo vệ hoặc là một sự lành mạnh về tâm lý. Sự thoái lui tạm thời cũng có thể là một cách bảo vệ chính mình khỏi đau đớn quá độ hay sợ hãi, nhờ đó mà không bị "chạm", "mát", và như thế, cũng là chiêm ngưỡng, theo nghĩa là thoái lui, loại bỏ sự kiểm soát có ý thức của các hiện tượng tâm lý.

Khả năng tự chủ

Tự chủ là khả năng đạt được một sự cân bằng giữa điều thích thú và việc tự kềm chế những nhu cầu, ước muốn, khát vọng. Khả năng này cho thấy không chỉ các nhu cầu nội tại của con người, sự tăng trưởng ý thức về chính mình và kỷ luật cá nhân, nhưng còn là sự nội tâm hoá những nhân tố như lề luật, các tiêu chuẩn luân lý, đường lối và những quy định xã hội... Cần ghi nhận rằng phát triển khả năng này trong giai đoạn niên thiếu là không dễ dàng khi họ bị thách thức đạt được một mức độ tự chủ, và chăm chú vào sự phát triển mạnh mẽ các kích thích tố, năng lực tính dục và sự nhiệt tình của tuổi trẻ.

Khả năng đối với trách nhiệm, sự hợp tác, và sự tự siêu thăng

Trách nhiệm hay tự định hướng là khả năng kiểm soát, điều chỉnh, và thích nghi tính cách của mình phù hợp với các mục tiêu đã chọn, các giá tri, và những điều đòi buộc bên ngoài mà không trách mắng, đỗ lỗi hay chạy trốn. Hợp tác là sẵn sàng cùng làm việc với người khác để đạt được mục đích chung mà không giới hạn sức lực, thoái thác, hoặc khắt khe. Tự siêu thăng là khả năng ra khỏi thực tại của chính mình, chẳng hạn, các nhu cầu, quan điểm để nhìn nhận những thực tại khác như là Thiên Chúa và sự tốt đẹp của vũ trụ. Thiếu các khả năng này là dấu cho thấy có sự bất ổn trong nhân cách.

Khả năng chín chắn trong các mối tương quan thân mật

Đây là khả năng giúp diễn tả chính mình cách trọn vẹn trong một mối tương quan gần gủi mà không đến nỗi lo âu hoặc sợ bị bỏ rơi. Điều này đòi hỏi ứng sinh khả năng ra khỏi những ranh giới riêng tư để dám chia sẻ những cảm nghĩ sâu xa với những người đáng tin cậy. Mặt khác, những người không có ý thức về mình cách lành mạnh, như là những người nhập nhằng, không dứt khoát, có thể rơi vào thái độ thân mật và để cho ranh giới giữa các cá nhân bị xúc phạm cách dễ dàng bởi những người không xứng đáng để được chia sẻ sự thật cách tự do như thế.

Peter Nguyễn Văn Khoan ofm

Trích dịch phần II, C, bài Screening Procedures for Vocations: An Assessment of Candidates to Priesthood / Religious Life của Lawrence Pinto, MSIJ, được đăng trong Tạp chí Religious Life Asia Vol. IX, No. 4, October-December 2007. Bài này đã được trình bày trong Hội Nghị Chuyên Đề về Ơn Gọi tại Châu Á của Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á, diễn ra vào ngày 22-27/10/2007 tại Samphran, Thái Lan.