| Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. |
| Tài liệu nguồn |
| Linh đạo |
| Giám tỉnh |
| Phúc âm hóa |
| Góc suy tư |
| Lịch phụng vụ |
| Cầu nguyện |
| Hỏi - đáp |
| Thư mục |
| Tìm kiếm |
| Thường huấn số 02-2009 |
THÁNH PHANXICÔ VÀ GIÁO HỘIĐề tài Thánh Phanxicô và Giáo Hội chắc hẳn là một đề tài rất quen thuộc đối với anh em. Ngay từ thời Thỉnh sinh (và có khi trước đó), qua năm Nhà tập đến giai đoạn Khấn tạm và cả sau khi khấn tạm, chúng ta đã có không ít dịp học tập – bằng những cách khác nhau – đề tài này. Vì thế, tôi nghĩ Ban Thường Huấn có nhiệm vụ soạn bài chỉ phải nhắc lại một đôi điều anh em đã biết và nhìn sâu hơn một chút vào một hai khía cạnh, với mục đích một đàng là đổi mới (re-nouveler, re-new) lòng yêu mến và gắn bó của mình đối với Cha Thánh, đàng khác là tạo cơ hội để anh em kiểm điểm lại đời sống mình và củng cố ý chí chúng ta noi gương ngài, luôn luôn yêu mến, kính trọng, tuân phục và hết lòng phục vụ Giáo Hội, Mẹ chúng ta. I- Xác tín nền tảng của Thánh Phanxicô Thánh Phanxicô xác tín sâu xa rằng chính Giáo Hội ban phát sự Sống cho chúng ta qua lời giảng dạy và các bí tích của mình. Ngài cũng xác tín rằng anh em chúng ta có bổn phận phải kiện toàn sự Sống này với sự giúp đỡ của Giáo Hội, bằng sự hoán cải (metanoia) của ta và bằng cách thức chúng ta thuận theo lối sống của Tin Mừng. Vì thế, với một lòng tôn kính thẳm sâu, Cha Thánh đã gọi Giáo Hội là “Mẹ Thánh Giáo Hội của chúng ta” (notre Sainte Mère l’Église). Suốt cuộc đời, dù gặp bao khó khăn, ngài vẫn giữ nguyên một lòng gắn bó với Giáo Hội đúng đạo làm con. Ngài vâng phục Giáo Hội, coi sự tuân phục đó như là một trong những nền móng không chuyển lay của đời sống “không có của riêng” (sine proprio) mình đã chọn. Ngài chỉ muốn sống cuộc đời theo Phúc Âm trong lòng tuân phục và chịu luỵ (soumission) trọn vẹn đối với Hội Thánh Chúa Kitô. Mấy điều nhắc lại trên đây được lấy lại từ cuốn Luật Dòng Anh Em Hèn Mọn. Nghiên cứu lịch sử và thiêng liêng của nhóm nghiên cứu người Đức có uy tín, đứng đầu là cha Cajetan Esser OFM (x. Bản dịch tiếng Pháp La Règle des Frères Mineurs. Etude historique et spirituelle, Éditions Franciscaines, Paris 1961, tr 222). Tương tự như cha Esser và trước cha Esser mấy thập niên, cha Hilarin một nhà nghiên cứu người Thụy Sĩ, cũng đã tóm tắt thái độ của Thánh Phụ Phanxicô như sau: “Phanxicô là hiện thân của lòng gắn bó với Giáo Hội. Tin, cầu nguyện, sống, suy nghĩ, cảm nhận với Hội Thánh: sentire cum Ecclesia, đối với ngài, đó là một nguyên tắc cũng hiển nhiên như nguyên tắc khác sau đây: trong mọi sự phải lấy Phúc Âm làm chuẩn mực. Không, không một lúc nào, không một tình tiết nào trong các Truyện ký chân chính nào về ngài cho thấy có lấn cấn dù là nhỏ nhất trong sự hài hoà giữa vị Thánh Nghèo và Giáo Hội” ( Hilarin, L’idéal de S. Francois d’Assise, Tome I, 1924, tr 135). Xác tín và chọn lựa căn bản trên đây giải thích đầy đủ tất cả những lời giảng dạy và hành động cụ thể của Thánh Phanxicô liên quan tới Giáo Hội. II- Sống Phúc Âm và trung thành tuyệt đối với Giáo Hội Các tác giả nêu trên cho thấy trong quan niệm của Cha Thánh, có một mối liên hệ không thể tách rời giữa chọn lựa sống theo Tin Mừng và gắn bó với Hội Thánh. Không có đối lập nào giữa hai chọn lựa ấy, như có thời một số người đã quả quyết là có. Vào khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, một số tác giả như RENAN, KARL VON HASE, HENRI THODE, đặc biệt là PAUL SABATIER đã tìm cách trình bày Thánh Phanxicô như một người thù nghịch với Giáo Hội và Giáo Hội như kẻ chống lại lý tưởng Phan-sinh. Theo họ, Phanxicô là một kẻ “cá nhân chủ nghĩa” không chịu nổi sự gò bó, nên ngài đã phải vật lộn nhiều năm tháng trong những trói buộc của Giáo Hội Rôma, nhưng dần dần đã bị khuất phục bởi sức mạnh ngoại giao của giáo quyền và phải từ bỏ lý tưởng ban đầu. - Ngày nay, những khẳng định như thế đã bị các nhà nghiên cứu bác bỏ với những bằng chứng lịch sử chắc chắn nhất (x. Hilarin, sđd, tr 135, note 1). Thánh Phanxicô không tự phong làm nhà giám sát, cũng không tự nhận là một nhà cải cách hay một nhà tiên tri. Ngài tự biết mình và chỉ muốn là kẻ quá bé nhỏ để làm công việc đó. Không phải là Phanxicô không gặp khó khăn nào nhưng lòng yêu mến và trung thành của ngài với Hội thánh không hề bị suy suyển. Không bao giờ người ta tìm thấy nơi Phanxicô dấu vết một lời phê bình Giáo Hội, mặc dù cách sống của ngài và của anh em tương phản rõ ràng với đời sống Giáo Hội thời bấy giờ. Đối diện với “hoạ thối nát” của các giáo sĩ, ngài và các bạn đồng hành từ chối đóng vai “kẻ trong sạch”, “người công chính” như những nhóm nhóm cải cách quá khích đương thời, họ luôn viện vào Phúc Âm để chống lại quyền bính Giáo Hội; đơn giản ngài và anh em tự nhận là “những người đền tội thành Assisi”, “những người anh em hèn mọn” theo ý nghĩa đầy đủ của danh xưng này. Thái độ khiêm cung ấy đem lại cho phong trào huynh đệ khởi thủy và kinh nghiệm phúc âm của phong trào sự trong sáng và bình thản khôn sánh (x. Eloi Leclerc, Francois d’Assise. Le retour à l’Évangile, bàn dịch Việt ngữ: Thánh Phanxicô trong luồng gió lịch sử, bản in roneô, tr 65-66). Đúng là Thánh Phanxicô đã gặp một số khó khăn từ phía giáo quyền (như thái độ dè đặt, ái ngại, thậm chí nghi ngờ về tính chính thống và tính khả thi của dự định của ngài), nhất là vào giai đoạn đầu, khi mà thoạt nhìn, phong trào sống Phúc Âm của ngài có những nét khá giống với những phong trào dị giáo đương thời (như: phát sinh từ giáo dân, chủ trương sống Phúc Âm, sống nghèo khó, loan báo Tin Mừng lưu động). Đúng là Giáo Hội đã có can thiệp vào việc soạn thảo bản Luật có sắc dụ với sự trợ giúp của Hồng y Hugolin, nhưng không bao giờ chống lại lý tưởng của Thánh Phanxicô hay làm sai lệch lý tưởng ấy. Nếu vị Sáng Lập đã chấp nhận một ít sửa đổi chi tiết ít quan trọng mà Giáo Hội đề nghị ngài thì vì ngài cũng nhận ra rằng chỉ bằng cách đó, lý tưởng mới có thể đi vào thực tế và tồn tại với thời gian được. Phanxicô là con người đầy lý tưởng hơn là con người thực tế và con người tổ chức. Nếu lìa khỏi Giáo Hội, liệu nhóm “Người đền tội thành Assisi” có thoát khỏi thảm bại như các nhóm Phúc Âm kia không? Đã từ lâu, người ta lưu ý cần phải nối kết đoạn mở đầu với đoạn kết thúc của bàn Luật có sắc dụ (quen gọi bản Luật II) như một nét độc đáo của phong trào Phan-sinh: “Luật và đời sống anh em hèn mọn là tuân giữ thánh Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta (v.v…)” (chương I), và: “Để tuân giữ tất cả những điều được viết trong Luật này, nhân danh đức vâng lời, tôi buộc các anh Phục vụ phải xin Đức Thánh Cha một vị Hồng y của Hội Thánh Rôma làm người hướng dẫn, bảo trợ và sửa dạy huynh đệ đoàn này. Như thế, chúng ta sẽ luôn phục tùng và quỳ gối dười chân Hội Thánh, bền đỗ trong đức tin công giáo, hầu tuân giữ sự nghèo khó, khiêm nhường và thánh Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô, như chúng ta đã dốc lòng thề hứa” (chương 12). Thánh Phanxicô chỉ bảo đảm sự tồn tại của Hội Dòng bằng cách cố định nó vào hai “cực”: một đàng là trở về với Tin Mừng và đàng kia là phục tùng Giáo Hội cách trọn vẹn (x. Hilarin, sđd, tr 139). Chính Cha Thánh đã giải thích “linh kiến” của ngài về con gà mẹ nhỏ bé đen đủi với bầy gà con quá đông của nó như sau: con gà mẹ đó là chính ngài, còn bầy gà con là các anh em không ngừng tăng số mà ngài lo lắng vì không đủ sức để bảo vệ; ngài tiếp: “Vậy tôi sẽ lên đường, phó thác anh em cho thánh Giáo Hội Rôma. Những kẻ ác tâm sẽ bị ngọn roi quyền năng của Hội Thánh trừng trị […]. Từ nay, đoàn con cái hãy nhận biết lòng ưu ái dịu dàng của Mẹ Hội Thánh, và hãy hết lòng tha thiết luôn luôn bước theo chân thánh thiện của Mẹ. Dưới sự che chở của Hội Thánh, sẽ không có tai hoạ nào xảy ra cho Dòng […]. Dưới mắt Hội Thánh, việc tuân thủ sự tinh tuyền của Phúc Âm sẽ luôn tiến triển và Hội Thánh sẽ không để cho hương thơm đời sống của họ phải tan biến đi dù chỉ trong một giờ” ( 2 Cel 24). Tóm lại, từ thời Giám mục địa phận Assisi lấy áo choàng của mình bao bọc tấm thân trần trụi của Phanxicô khi ngài trả lại tất cả cho người cha trần thế để thuộc trọn về Cha trên trời – (cử chỉ của vị giáo sĩ cao cấp này mang một ý nghĩa biểu tượng cao) - cho đến khi ngài từ trần, ngài luôn nhận được sự che chở của Mẹ Hội Thánh đối với mình và anh em mình trong lý tưởng sống hoàn toàn theo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô. III- Cảm thức của Cha Thánh Phanxicô về Giáo Hội Trong đoạn văn ở đầu bản Di Chúc (từ số 4 đến 14), có một số từ ngữ được dùng và được đặt gần nhau, nói đến ý niệm của Thánh Phanxicô về Giáo Hội như: Nhà thờ – Linh mục – Thánh Thể – Loan báo Lời Chúa – Các nhà thần học (x. A.Rotzetter – W. Van Dijk –T. Matura, Một lối sống Tin Mừng, bản dịch Việt ngữ, roneô 2002, tr 141). 1- Giáo Hội: những thực tại rất cụ thể 1.1. Giáo Hội-Toà nhà : Tôi nghĩ, với mỗi người chúng ta, khái niệm Giáo Hội hình thành bắt đầu từ những kinh nghiệm rất cụ thể. Giáo Hội trước hết là ngôi nhà nguyện/nhà thờ nơi chúng ta theo mẹ đến tham dự những buổi kinh, lễ; Giáo Hội là những sinh hoạt, những đoàn thể chúng ta nhìn thấy hoặc đích thân tham gia trong thời niên thiếu; Giáo Hội là những ông trùm, ông biện, anh trưởng chị trưởng của thiếu nhi Thánh Thể chẳng hạn, là các thầy chủng sinh và nữ tu trong giáo họ về nghỉ hè nghỉ tết, nhất là cha xứ, và xa hơn, cao hơn là Đức Giám mục giáo phận đôi khi về ban phép Thêm Sức … Với Thánh Phanxicô, cũng có cái gì tương tự, kể từ ngày ngài trở lại. Thật đáng chú ý: ngay đầu bản Di Chúc, sau khi nhắc tới biến cố gặp gỡ và phục vụ người phung cùi, Cha Thánh lập tức nói tới nhà thờ. Chúng ta biết rằng, trong thời gian dò dẫm tìm kiếm một hướng đi mới cho cuộc đời, Phanxicô đã lui tới cầu nguyện trong các nhà thờ trong vùng, và chính trong nhà nguyện thánh Đamianô mà ngài đã nghe tiếng Chúa chịu đóng đinh phán dạy (x. 2 Cel 10); nguyện đường này là nguyện đường đầu tiên ngài tu sửa trước khi bắt tay tu sửa vài ngôi nhà nguyện đổ nát khác; rồi cũng chính trong khi dự thánh lễ tại một ngôi nhà thờ, Phanxicô đã bị đánh động bởi bài Phúc Âm về sứ vụ truyền giáo, và sau khi xin vị linh mục sở tại giải thích thêm cho chắc chắn, ngài đã reo lên: “Đây là điều tôi muốn, đây là điều tôi tìm …” (x. 1 Cel 22). Nhóm tác giả cuốn Một lối sống Tin Mừng viết: “Cái mà người ta nắm bắt được trước tiên nơi Giáo Hội là toà nhà dùng vào việc thờ phượng, là nhà thờ. Đối với Thánh Phanxicô, nhà thờ là nơi ngài cảm thấy đó là chỗ ở của ngài, nơi ngài đọc kinh, suy ngắm, nơi ngài thấy Đấng Chị Đóng Đinh hiện diện, nơi ngài cởi mở cõi lòng […], nhưng cũng là nơi ngài nghỉ ngơi, ngủ qua đêm, tránh mưa tránh nắng […]. (Thế nên) ngài không thể an lòng khi thấy nhà thờ ấy, -nhà thờ mà ngài coi như của ngài- lại trở thành hoang tàn, đầy rác rưởi bụi bặm. Đã có lúc, đi dâu ngài cũng cắp theo cái chổi để quét nhà thờ” (tr 142). Trong Di Chúc, Cha Thánh viết: “Chúa ban cho tôi ơn TIN mạnh mẽ (une grande FOI) VÀO CÁC NHÀ THỜ” (câu 4). Bản dịch Việt ngữ vừa dịch vừa giải thích: “Chúa ban cho tôi ơn tin mạnh mẽ VÀO SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA TRONG các nhà thờ”. Dịch như thế không sai nhưng có lẽ làm lu mờ một nét rất độc đáo trong thái độ của ngài đối với các nơi thờ phượng. Đồng ý là liền theo sau câu này, Cha Thánh nói đến việc ngài quen đọc một lời kinh thờ phượng Chúa Giêsu Kitô hiện diện trong mọi nhà thờ ngài bước vào. Nhưng vẫn rõ ràng là ngài nói ngài tin vào các nhà thờ. Sao lại tin vào một nơi chốn? Nhóm tác giả nói trên giải thích: “Thật là thú vị khi thấy từ “tin” được hướng về Giáo Hội -Toà nhà, trong khi từ này chỉ áp dụng cho con người. Quả thế, khi ở trong một nhà thờ, thánh Phanxicô biết mình đang ở trước một mầu nhiệm có nhân cách, và tâm trí ngài tràn đầy một thứ niềm tin bẩm sinh, vì ngài thờ lạy nguyên lý đầu và cuối, điểm tựa của cuộc đời ngài” (sđd, tr 142). 1.2. Hàng giáo sĩ : Không phải chỉ với anh em, mà ngay với mọi tín hữu, Cha Thánh cũng nhắc nhở phải năng viếng các nhà thờ, tôn kính (respecter) và quí chuộng (vénérer, sùng kính) các giáo sĩ’ (x. Thư gởi các tín hữu, bản gốc II, câu 33). Cêlanô viết: “Ngài tôn kính hàng linh mục cùng mọi phẩm trật trong Giáo Hội” (1 Cel 62). Chính ngài liệt kê các cấp bậc này (ecclesiasticus ordo = phẩm trật) trong Luật không sắc dụ, ch.23 như sau: Linh mục, phó tế, phụ phó tế, thầy giúp lễ, thầy trừ quỷ, thầy đọc sách, thầy giữ cửa và hết mọi giáo sĩ. Điều đáng nói là không phải chỉ có các chức sắc cao cấp, mà ngay cả những người mới nhập vào hàng ngũ giáo sĩ ở những bậc thấp nhất (theo giáo luật thời bấy giờ), Phanxicô cũng kính trọng và dạy anh em phải kính trọng. Nhưng trong hàng giáo sĩ, hình như ngài nói tới linh mục nhiều hơn cả. Chắc hẳn vì trong thực tế đời sống Kitô hữu, ngài và các anh em ngài tiếp xúc và liên hệ với linh mục thường xuyên nhất. Về thái độ của Cha Thánh đối với hàng linh mục, đa số anh em chúng ta đây đã biết nhiều lời dạy và nhiều việc làm của ngài, chỉ xin nhắc tới câu chuyện sau đây, do Etienne de Bourbon, một tu sĩ Đa-minh (+ 1261) kể lại, có thể là mới mẻ đối với một số người: Một hôm Thánh Phanxicô đến một làng nhỏ ở Lombácđi. Tất cả dân chúng trong làng: giáo sĩ, giáo dân, công giáo và cả ly giáo cùng hăm hở kéo nhau đến quảng trường đón tiếp ngài. Một người ly giáo Ca-ta (Cathares) tiến đến gần ngài, chỉ tay về phía cha xứ địa phương và nói: “Thầy là người đức hạnh, xin thầy nói cho tôi nghe, làm sao mà tin tưởng và kính trọng một người mục tử như ông cha kia được, bởi ông ta rất bê bối và đang chung sống với một người đàn bà?”. Thánh Phanxicô lẳng lặng đến quỳ gối xuống hôn tay cha xứ và nói: “Tôi không biết đôi tay này có thật sự làm điều tội lỗi không, nhưng dù có thế đi nữa, chúng cũng không cản trở được Thiên Chúa đến với loài người qua các bí tích cha xứ này ban. Đôi tay này đã chạm tới Chúa và, vì tôn kính Chúa, tôi kính trọng vị đại diện của Người. Đối với Chúa, ngài có thể là xấu, song đối với tôi, ngài là tốt ” (x. P. Hilarin, sđd, tr 93-94). 2- Trong cái nhìn đức tin Tôi thiển nghĩ rằng việc Thánh Phanxicô, trong Di Chúc, lần lượt nói tới Nhà thờ – Linh mục – Thánh Thể – Loan báo Lời Chúa – Các nhà thần học, đó không phải là tình cờ, nhưng là một sự liên kết có ý nghĩa dựa trên kinh nghiệm thiêng liêng của ngài. Khi bước vào nhà thờ, ngài không chỉ vào trong một kiến trúc bằng gạch bằng đá, nhưng vào một không gian linh thiêng tràn ngập sự hiện diện của Chúa, ngài bị thu hút hoàn toàn bởi sự hiện diện ấy như thể nhà thờ không còn là nhà thờ nữa mà chỉ là Chúa Giêsu Kitô. Bởi thế ngài mới viết: tôi được ơn tin vào các nhà thờ. Đó có lẽ là điều mà nhóm tác giả cuốn Một lối sống Tin Mừng gọi là “mầu nhiệm có nhân cách”. Như trên đã lưu ý, không phải chỉ trong Di Chúc, mà cả trong Thư gởi các tín hữu, Phanxicô cũng nói tới bổn phận đối với các nhà thờ, rồi tiếp theo là với các linh mục. Dường như trong tâm thức của Thánh Phanxicô, nhà thờ và các giáo sĩ gắn liền với nhau. Ngài “tin vào các linh mục sống theo qui luật Hội Thánh Rôma” cũng giống như ngài tin vào các nhà thờ vậy. Ngài nhìn linh mục tiên vàn như người cử hành các bí tích mà trên hết là bí tích Thánh Thể mà ngài có lòng sùng mộ hết sức đặc biệt. Ngài viết: “Dù tôi có khôn ngoan như vua Salomon, nếu tôi gặp những linh mục thấp kém ở thế gian này, tôi cũng không muốn giảng dạy trong giáo xứ của các ngài, nếu các ngài không chấp thuận. Tôi muốn kính sợ, yêu mến và quý trọng các ngài như là tôn chủ của tôi; tôi không muốn xem xét tội lỗi của các ngài, vì tôi nhìn thấy Con Thiên Chúa nơi các ngài … Tôi hành động như thế vì tôi không thấy có gì cụ thể trong thế gian này về Người Con chí thánh của Thiên Chúa, ngoài Mình và Máu rất thánh của Người, mà chính các ngài nhận lấy và chỉ các ngài mới được ban phát cho kẻ khác. Tôi muốn các mấu nhiệm cực thánh nầy được mọi người kính trọng, tôn sùng trên hết mọi sự, và cất giữ ở những nơi quí giá …” (Di Chúc, 8-11). Thánh Thể là đề tài Cha Thánh thích bàn đến nhất. Trong 8 lá thư của ngài, có đến 5 thư đề cập một phần hoặc toàn bộ về Thánh Thể. Mỗi lần nhắc tới bổn phận phải tôn kính các linh mục, bao giờ ngài cũng đưa ra lý do Thánh Thể. Lại nữa, nhiều lần nói tới linh mục và Thánh Thể, Thánh Phanxicô nói tiếp ngay đến Lời Chúa (x.Di Chúc, 37; Thư gởi các tín hữu, 34; Thư gởi toàn Dòng, 37; Thư gởi các anh Phục vụ, 2-5…). Ngài cũng tỏ lòng quí mến và tôn kính “các nhà thần học và những người ban phát lời chí thánh của Chúa vì họ “thông ban cho ta thánh khí và sự sống” (câu 13). Ngài xác tín rằng “không ai có thể được cứu độ nếu không phải là nhờ các lời thánh thiện và Máu của Chúa Giêsu Kitô mà các giáo sĩ đọc, rao giảng và ban phát, và chỉ các ngài có phận sự ban phát mà thôi, không ai khác” (Thư gởi các tín hữu, 34-35). Như vậy, đối với Thánh Phanxicô, linh mục tiên vàn là người cử hành Thánh Thể và rao giảng Lời Chúa. Giáo hội vừa hữu hình vừa vô hình Tạm kết: Mấy khai triển trên đây, tuy chưa đầy đủ nhưng cũng cho thấy rằng Cha Thánh nhìn Giáo Hội một cách rất cụ thể: Giáo Hội là một cơ chế, một phẩm trật, là giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, Giáo Hội có một giáo lý, một phụng tự, và trên hết, Giáo Hội thánh hoá nhân loại bằng các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và bằng việc rao giảng Lời Chúa. Nhưng đồng thời Cha Thánh cũng luôn luôn nối kết những thực tại hữu hình trên với chiều kích siêu nhiên của chúng, với cái “linh hồn” làm cho chúng sống thật, chẳng hạn: Nhà thờ với Chúa hiện diện trong nhà thờ; Linh mục với Thánh Thể và Lời Chúa; Nhà thần học với sứ mạng ban phát Lời mang lại Thánh Khí và Sự sống … Chiều kích siêu nhiên và vô hình này là tuyệt đối vì đến từ Thiên Chúa, còn chiều kích tự nhiên, hữu hình bao giờ cũng giới hạn vì mang dấu của con người hữu hạn, yếu đuối, tội lỗi. Nhìn Giáo Hội như thế, Cha Thánh chúng ta không bao giờ lấy làm vấp phạm vì gương xấu hay tội lỗi nơi các vị lãnh đạo Giáo Hội, không bao giờ giảm bớt niềm tin vào Giáo Hội như là “bí tích tức dấu chỉ và khí cụ” của ơn cứu độ, không thất vọng về Giáo Hội … IV- Vài gợi ý suy nghĩ kết thúc 1. Ngày nay, có những người Kitô hữu nhìn thấy sự cách biệt quá lớn lao giữa bản chất và sứ mạng cao siêu thánh thiện của Giáo Hội [hoặc của hàng giáo sĩ] và thực tế đời sống quá ư phản chứng của Giáo Hội [hay của các giáo sĩ] đã nói: “Tôi yêu mến Chúa Kitô nhưng tôi không thể yêu mến Giáo Hội”. Một số người khác còn chua cay hơn, họ nói: “Giáo Hội là mồ chôn Thiên Chúa!”. Thông thường hơn, ta vẫn gặp những cá nhân, có khi cả một gia đình công giáo do bất mãn về một hành động, một lời nói mang tính xúc phạm … của cha xứ, đã tự ly khai với đời sống giáo xứ với ý nghĩ rằng mình có thể giữ đạo riêng tư với Chúa mà chẳng cần qua cơ chế Giáo Hội. Chúng ta nghĩ gì về những phản ứng như thế ? 2. Bản thân ta chắc không đi xa tới chỗ lên án hay tách rời khỏi Giáo Hội, nhưng trước những tình hình hay những sự việc cụ thể khi đối diện với một gương xấu, một sai lầm …của một linh mục, ta phản ứng thế nào? Thánh Phanxicô chắc chắn không đồng tình hay chấp nhận những điều sai trái trong Giáo Hội thời ngài, nhưng ngài có cách “phản kháng” tích cực: khiêm nhương nhẫn nhục làm điều tốt mình phải làm hay có thể làm, nhất là điều tốt ngược lại điều xấu nào đó nơi Giáo Hội mà mình “phản kháng”. Ngày nay, chúng ta có nghĩ cách phản kháng đó là quá “lý tưởng” và không hiệu lực không? Anh em nghĩ sao? 3. Cha Thánh nhắc lại cho ta rằng Chúa luôn hành động và thánh hoá chúng ta qua các bí tích và lời rao giảng của linh mục, và hành động đó luôn luôn có hiệu lực, bất kể thừa tác viên cử hành ra sao hay tội lội kém cỏi thế nào. Điều này rất đúng và rất tốt cho những ai lãnh nhận bí tích và nghe lời rao giảng. Nhưng đó không phải là lý do để các linh mục bê trễ hay coi thuờng việc tự hoàn thiện mình, hoặc cử hành, giảng dạy “cho qua chuyện” hay một cách thiếu xứng đáng … Hãy nêu những lời Cha Thánh dạy anh em linh mục về điểm này. 4. Người trình bày bài học tự do nêu những suy nghĩ hay câu hỏi khác.
Tài liệu:
Q. 9, ngày 7-3-2009 |