Skip to content

Bình An và Thiện Hảo

Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài con đang ẩn náu.



Hiện có 8 khách 
Thường huấn số 03-2009 - Kết luận
Mục lục
Thường huấn số 03-2009
Làn sóng Hồi giáo
Kinh nghiệm Thập tự chinh của Phanxicô
Phanxicô sau cuộc tiếp xúc với Vua Hồi giáo
Kết luận
Tất cả các trang
KẾT  LUẬN

Hành trình tìm kiếm khá dài trên đây dẫn tới những kết quả nào? Chúng tôi thử nêu ra một số kết luận, kèm theo những câu hỏi gợi ý suy nghĩ: trước tiên về quá trình phát triển đời sống tâm linh của chính thánh Phanxicô; tiếp đến là một số kết luận và gợi ý liên quan tới đời sống của Dòng anh em hèn mọn và Giáo Hội.

1. Về quá trình phát triển đời sống tâm linh của Phanxicô

1.1. Chúng ta đã thấy: trong quá trình hoán cải, Phanxicô đã đi từ ước mơ đầy đam mê trở thành hiệp sĩ quân sự qua việc tham gia cuộc thập tự chinh quân sự nội địa, đến việc khám phá ra ơn gọi làm hiệp sĩ tâm linh để thực hiện một cuộc thập tự chinh tâm linh nơi bản thân, ở nội địa và hải ngoại. Vậy đâu là chìa khóa của sự thành công ấy? - Chắc hẳn chìa khóa thứ nhất là ân sủng của Chúa mà Phanxicô sẽ nêu rõ trong Di Chúc, khi nhìn lại cuộc đời mình,  bằng cụm từ "Chúa ban cho tôi..."(x. DC 1, 4, 6, 14, 39) hoặc "Chúa mặc khải cho tôi...(x. DC 14, 23), và ân sủng đó cũng đồng nghĩa với "tác động thánh của Thần Khí Chúa" (x. L 10,8), hoạt động trong nội tâm chúng ta như ngọn lửa thánh thiêng (x. T TD 50-52). Và chắc hẳn chìa khóa thứ hai nằm trong trái tim Phanxicô biết lắng nghe và phục tùng tiếng nói của Thiên Chúa gửi tới cho mình qua nhiều trung gian ("Tiếng nói của Thiên Chúa trong cuộc đời Thánh Phanxiccô" là một đề tài đáng được nghiên cứu sâu thêm).

-   Vua Salomon được biết đến như là con người khôn ngoan nhất giữa loài người, vì ông đã xin và được Chúa ban cho "một trái tim biết lắng nghe" (x. 1 V 3,9). Vậy thì sự khôn ngoan của vị Thánh Nghèo thành Assisi chắc hẳn cũng chỉ có thể trào vọt từ một trái tim biết lắng nghe cách khiêm tốn và chân thành như thế.

- Phần chúng ta, phải làm gì để có được một trái tim biết laéng nghe như Thánh Phanxicô?

1.2. Chúng ta cũng đã thấy quá trình hoán cải của Phanxicô bao hàm sự thăng hoa chiều kích hiệp sĩ đã ăn sâu trong tính cách, tác phong và ngôn ngữ của một con người sống trong bối cảnh lịch sử thời Trung cổ mang dấu ấn sâu đậm của văn hóa thập tự chinh, văn hóa phong kiến và lý tưởng hiệp sĩ. Điều đó cống hiến cho chúng ta một bài học lớn. Những gì đã xảy ra nơi Phanxicô cho thấy rằng ân sủng không phá hủy vốn liếng tự nhiên của con người, nhưng thăng hoa nó bằng cách thanh luyện, uốn nắn và hướng nó vào việc phục vụ cho một chính nghĩa cao cả hơn, đó là chính nghĩa của TC.

1.2.1. Mỗi người chúng ta được mời gọi nhìn lại cuộc hóan cải của mình, để xem ơn hóan cải đã thăng hoa vốn liếng tự nhiên của mình như thế nào. Nói cách khác: Phúc Am và tinh thần Phan sinh đang biến đổi con người tôi như thế nào? Có những vùng nào trong cuộc đời tôi, Phúc Am và tinh thần Phan sinh chưa bén rễ được?

1.2.2. Ơn hoán cải đã biến đổi Phanxicô thành một hiệp sĩ tâm linh để thực hiện một cuộc thập tự chinh tâm linh. Đặc biệt Phanxicô đã khước từ thập tự chinh quân sự để dấn thân vào cuộc thập tự chinh truyền giáo cho anh em Hồi giáo. Nhưng ngôn ngữ này vẫn mang màu sắc Trung cổ. Vậy có cách nào diễn tả lại theo ngôn ngữ hôm nay? Nên chăng nói rằng: Phanxicô đã gặp được Chúa Kitô, được Phúc Âm biến đổi tận căn, và được sai đi làm chứng cho Phúc Âm trước mặt mọi người, cách riêng trước mặt anh em Hồi giáo?

2. Đối với đời sống Dòng anh em hèn mọn, phương pháp truyền giáo do Thánh Phanxicô trình bày trong Luật không sắc dụ, đặc biệt chương XVI, là một sáng kiến rất độc đáo, phát sinh từ kinh nghiệm bản thân của Thánh nhân trong chuyến đi truyền giáo tại Cận Đông (1219-1220), nhất là với cuộc gặp gỡ, chưa từng thấy trong lịch sử Giáo Hội trước đó, giữa Thánh nhân và Vua Hồi giáo el-Melek el-Kamel.  Chúng ta ở Việt Nam không sống trong môi trường văn hóa Hồi giáo (như anh em tại Pakistan, Indonexia hoặc Marốc), nhưng sống trong môi trường xã hội chủ nghĩa. Theo triết gia công giáo Jean Guitton, chủ nghĩa xã hội Mác-xít có nhiều nét giống với Hồi giáo (x. Le Christ écartelé). Vậy chúng ta nên ứng dụng phương pháp truyền giáo do Cha Thánh đề xướng (và được Hiến Chương giới thiệu trong chương V, đặc biệt trong các điều 83 đến 110) như thế nào? Có khả thi không? Có những khó khăn nào?

3. Đối với đời sống Giáo Hội, tầm nhìn và hành động của Phanxicô trong cách ứng xử với thế giới Hồi giáo đánh dấu một bước ngoặt hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử Giáo Hội.

3.1. Phanxicô lấy tình thương thay thế hận thù, dùng đối thọai thay thế đối đầu. Những kiểu nói như thế, ngày nay đều ở đầu cửa miệng mọi người trong Giáo Hội và cả xã hội nữa. Nhưng vào thời Trung cổ thì khác hẳn.

- Trong ngôn ngữ chính thức của Giáo hội, có cả một truyền thống miệt thị người Hồi giáo, vốn được xem là hậu duệ của Ít-ma-ên, do nữ tỳ gốc Ai cập Ha-ga sinh hạ cho ông Ap-ra-ham. Các Giáo hoàng chủ xướng thập tự chinh chống Hồi giáo, như Urbanô II, Innocentê III, Hônôriô III, Boniphaxiô VIII, v.v...., đều khai thác lời bà Xara xui xiểm ông Ap-ra-ham: "Hãy đuổi đứa nữ tỳ này và thằng con của nó đi" (St 21,10), để động viên toàn thể Giáo Hội Công giáo phương Tây tham gia thánh chiến nhằm xua đuổi quân Hồi giáo là "kẻ thù của Chúa Kitô và của Dân Người" ra khỏi những Nơi Thánh tại Thánh Địa. Chính ĐGH Innocentê III đã gọi họ như thế, còn Thánh Bênađô, nhà thần học của Thánh chiến Kitô giáo,  thì gọi họ là "kẻ thù của Thập giá Chúa Kitô"[53]. Trước đó, Thánh Giáo Hoàng Lêô III gọi họ là " đám hậu duệ của Ha-ga dễ ghét hết chỗ nói" ("...illa nefandissima Agarenorum Gens"). Chân phước Giáo hoàng Urbanô II dành cho họ danh hiệu "đám dân Xa-ra-danh vô đạo" ("Sarracenorum Gens  impia"). Riêng Thánh Bênađô, nhà giảng thuyết lừng danh vận động cho cuộc thập tự chinh thứ hai (1147-1149), đã có những lời nói nảy lửa vào năm 1146: "...Hỡi những con người dũng cảm, các bạn đang làm gì? Hỡi các Đầy tớ của Thánh Giá, các bạn đang làm gì? Phải chăng các bạn muốn vứt các Nơi Thánh cho chó và ném các viên ngọc quý cho heo? Các bạn có biết đã có bao nhiêu tội nhân sám hối tội lỗi mình với đôi mắt đẫm lệ và được ơn tha thứ tại các Nơi Thánh, từ khi lưỡi gươm của cha ông chúng ta đã xua đuổi đám tiện dân ngọai đạo ra khỏi đó không?...Vậy hãy thắt lưng xứng bậc nam nhi, hãy mang khí giới hồng phúc vì danh Chúa Kitô. Bạn là hiệp sĩ dũng cảm, là chiến sĩ can trường ư? Bây giờ bạn có một mối thù truyền kiếp phải trả, nhưng không hề có nguy hiểm nào hết, vì chiến thắng sẽ mang lại thanh danh, còn chết là một mối lợi cho bạn. Bạn là một thương gia thông minh, một con người tìm kiếm lợi nhuận trên đời này ư? Tôi báo cho bạn biết một thị trường béo bở. Đừng bỏ lỡ cơ hội nha! Hãy mang lấy huy hiệu Thập tự vào mình, và tất cả những gì bạn xưng thú mà thật lòng thống hối, bạn sẽ được tha tất tần tật. Hàng hóa rất rẻ nếu bạn mua; nếu bạn trả giá cho chúng với lòng đạo đức, thì không một chút hồ nghi, bạn sẽ thấy chúng có khả năng mở toang cửa Nước Trời cho bạn..." (x. Bài MZF 16, tr. 37-38). Và "... Người chiến sĩ của Chúa Kitô tiêu diệt (kẻ thù) một cách an toàn,  và chết một cách an toàn hơn. Chết là làm lợi cho mình; tiêu diệt kẻ thù là làm lợi cho Chúa Kitô. Phải có lý do mới mang gươm. Người chiến sĩ phụng sự Thiên Chúa bằng việc chiến thắng kẻ gian ác và tôn vinh người thiện hảo. Khi anh ta giết một người gian ác, thì anh ta không phải là một kẻ sát nhân, nhưng là người tiêu diệt sự ác, và anh ta thực sự được kể như người trả thù cho Chúa Kitô chống lại những kẻ làm điều gian ác, và như người bảo vệ các Kitô hữu"(trích lời Thánh Bênađô trong "Tractatus de nova militia seu exhortatio ad milites Templi = Chuyên luận về đội quân tự vệ mới hoặc huấn dụ ngỏ với các Hiệp sĩ Đền Thờ"). Đó là những lời biện bạch cho thánh chiến thập tự chinh của vị thánh được mệnh danh là "Doctor mellifluus" = "Tiến sĩ có lời nói ngọt ngào như mật ong" (x. G. BASETTI-SANI, OFM, sđd, tr. 219). -Thực ra Thánh Bênađô rất ngọt ngào khi nói về Mẹ Maria và cuộc hôn phối huyền nhiệm giữa linh hồn tín hữu với Chúa Kitô.

- Thánh Phanxicô không bao giờ tham gia hoặc hô hào tiêu diệt kẻ thù, trái lại nhiều lần ngài nhắc lại lời Chúa Giêsu dạy trong Phúc Âm: "Hãy yêu thương kẻ thù  và cầu nguyện cho kẻ bách hại và vu khống anh em" (x. Mt 5,44, trích dẫn trong Lksd 22,1 // L 10,11...). Thánh Phanxicô đã đưa giới răn đặc biệt này vào cả hai bản Luật. Và trong cả hai bản Luật, ngài đều mở đường cho các anh em hèn mọn đến với người Hồi giáo để rao giảng Phúc Am cho họ (x. Lksd chương  XVI // L chương XII).

-Ngôn ngữ của Phanxicô hoàn toàn khác với ngôn ngữ của Giáo Hội thời đó: ngài không bao giờ nói hoặc viết những lời mạ lị, xúc phạm tới phẩm giá của người Hồi giáo. Trái lại, ngài trân trọng những giá trị cao đẹp trong đời sống tôn giáo của họ, như chúng ta đã chứng minh trên đây (x. Phần III của bài này). Công Đồng Vatican II đã tuyên bố: "Giáo Hội Công giáo không loại bỏ bất cứ điều gì là chân thật và thánh thiện trong các tôn giáo" ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate, số 2b). Lời này xác nhận một cách trân trọng tầm nhìn của Thánh Phanxicô về Hồi giáo.

3.2. Linh mục sử gia Joseph LORTZ đã từng nói: "Phanxicô là một mầu nhiệm, một mầu nhiệm cho người đồng thời của ngài và cho chúng ta hôm nay"[54]. Thật vậy, cách sống và tư duy của ngài mang nhiều bí ẩn, cũng chính là những bí quyết thành công phi thường. Một trong những bí quyết đó là: Phanxicô không bao giờ lên tiếng chỉ trích, đả kích các tệ đoan hoặc nhược điểm mà người ta thấy tỏ tường nơi một số chức sắc của Giáo Hội, từ Linh mục, Giám mục đến Giáo hòang. Trái lại Phanxicô luôn bày tỏ lòng kính trọng và phục tùng các ngài, kể cả những linh mục thấp kém và tội lỗi ở thế gian này nữa (x. DC 6-10). Lòng trung thành và tuân phục các chức sắc và giáo sĩ của Mẹ Hội Thánh được Phanxicô khẳng định mạnh mẽ nhiều lần trong các di cảo (x. Lksd mở đầu 3; L 1, 3; 12, 5; N Dc 5). Khi đối diện với những hành động và những lời nói của các chức sắc, mà mình không thể chấp nhận vì không phù hợp với Phúc Am, thì Phanxicô làm những hành động khác đi hoặc ngược lại, nhưng chỉ hành động cách thầm lặng và tuyệt đối không lên tiếng phê bình chỉ trích. Bằng chứng hiển nhiên nhất là Phanxicô không bao giờ nói hoặc viết những lời mạ lị người Hồi giáo theo kiểu các Đức Giáo Hòang thời Trung Cổ và những vị Thánh lớn như Thánh Bênađô, nhưng không bao giờ ngài giải thích tại sao ngài không làm như các vị ấy. Ngài đi theo đòan quân thập tự chinh sang Ai Cập, không phải để tham gia chiến đấu trực tiếp hoặc động viên các thập tự quân Kitô giáo hăng hái chém giết quân Hồi giáo, nhưng là để gặp gỡ vua Sultan của Hồi giáo và rao giảng Phúc Am cho đức vua và quần thần. Chính Phanxicô khởi xướng phương pháp đối thọai thay vì đối đầu.

- Một trong những khía cạnh khó hiểu của Dòng anh em hèn mọn, là mặc dầu Cha Thánh đã nêu gương rõ ràng như thế về cách ứng xử với anh em Hồi giáo, nhưng có những người con ưu tú của ngài vẫn bị tiêm nhiễm bởi thứ ngôn ngữ miệt thị đã phổ biến tràn lan trong Giáo Hội. Ví dụ: Anh Tôma Cêlanô, sử gia đầu tiên viết hạnh Thánh Phanxicô và hạnh Thánh Clara, khi kể lại sự kiện quân lính Xa-ra-danh (Hồi giáo) tấn công Đan viện Đamianô của Thánh Clara, đã gọi họ là "thứ người tồi tệ nhất..., và dám làm bất cứ hành vi quỷ quyệt nào vô nhân nhất; là bầy chó liều lĩnh..." (x. Hạnh Clara, số 21 và 22). Thánh Bonaventura, trong bài giảng XIII về Chúa Nhật III Mùa Vọng, khi mô tả cảnh phát xét chung trong ngày sau hết, đã đề cập tới "đám người bị án phạt đời đời, trong đó có Mahômét và các tín đồ của y". Chân phước Duns Scotus hai lần nhắc tới Mahômét như là người "pha trộn các thứ uế tạp khác nhau không kể xiết". Roger Bacon, tuy rất ngưỡng mộ khoa học và triết lý của người Ả-rập, vẫn gọi đạo của Mahômét là " một tôn giáo tồi tệ"[55]. Phải cần nhiều thế kỷ, tinh thần Thánh Phanxicô mới phát huy tác dụng đối với đời sống của Dòng anh em hèn mọn và của Giáo Hội nói chung.

- Đối với đời sống Giáo Hội: sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Phanxicô và Sultan el-Melek el-Kamel, các Đức Giáo Hòang còn tổ chức thêm ba cuộc thập tự chinh nữa, nhưng nhìn chung đều thất bại. Cuộc thứ bảy (1248-1254) và thứ tám (1268-1270) có sự tham gia của Vua Thánh Lu-y IX của Nước Pháp, một thành viên Dòng Ba Phan sinh. Ngài chết vì bệnh dịch hạch ngoài thành Tunis (Bắc Phi) năm 1270. Vào năm 1291 đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo đánh bại vương quốc Latinh tại Giêrusalem, chấm dứt vĩnh viễn hai thế kỷ thập tự chinh của Giáo Hội Công giáo phương Tây. Kể từ đó Hồi giáo không ngừng bành trướng một cách lạ lùng.

3.3. Linh mục Joseph LORTZ đã gọi "Thánh Phanxicô là một mầu nhiệm". Còn Cha Giulio BASETTI-SANI, OFM thì nói tới "mầu nhiệm Hồi giáo", "mầu nhiệm Hồi giáo trong tương quan với Ap-ra-ham" [56]. Trong ngôn ngữ của Phanxicô không có những cụm từ này, nhưng khi tiếp cận thế giới Hồi giáo, ngài tỏ thái độ kính cẩn như đối với một mầu nhiệm. Lý do rất đơn giản: Chính Chúa Giêsu đã dạy phải yêu thương kẻ thù (x. Mt 5,44); mà người Hồi giáo thời đó đang bị cả Giáo Hội Công giáo coi như kẻ thù không đội trời chung, bị ghét bỏ triệt để, và bị đe dọa tiêu diệt bằng vũ lực quân sự, thì Phanxicô càng yêu mến và kính trọng họ hơn. Rất có thể tự đáy lòng, Phanxicô muốn kính trọng và yêu mến họ để bù đắp cho sự miệt thị và ghét bỏ của Giáo Hội đối với họ. Thái độ đầy chất Phúc Âm này càng biến Phanxicô thành một mầu nhiệm trong lòng Giáo Hội. Nhưng phải sau nhiều thế kỷ, mầu nhiệm Phanxicô mới phát huy tác dụng trong tư duy và đời sống của Giáo Hội. Chính Giáo Hội, từng bước chậm mà chắc, nhận thức về tính chất mầu nhiệm của Hồi giáo. Nếu vào thời Trung cổ, nhiều vị Giáo hoàng và nhiều nhà thần học khai thác lời xui xiểm của bà Xa-ra ngỏ với ông Ap-ra-ham trong câu chuyện Ha-ga và It-ma-ên (x. St 21,10), thì trong thế kỷ XX, một  số nhà thần học chú ý tới các lời hứa của Thiên Chúa ngỏ với Ha-ga và những lời Người tiên báo về tương lai của It-ma-ên. Đúng là Thiên Chúa gọi It-ma-ên là "con lừa hoang, nó giơ tay chống mọi người, mọi người giơ tay chống nó, nó sẽ luôn đối đầu với tất cả anh em nó" (St 16,12), và Thiên Chúa hứa lập giao ước với I-xa-ác (St 17, 20-21) chứ không phải với It-ma-ên; nhưng Thiên Chúa chúc phúc cho It-ma-ên (St 17,20) và hứa đến ba lần: sẽ làm cho nó thành một dân tộc lớn (x. St 17,10; 21,13.18). Chính Mahômét ý thức rằng mình đã tái khám phá một sự kiện quan trọng: dân tộc Ả-rập của mình là hậu duệ của tổ phụ Ap-ra-ham qua trung gian It-ma-ên; còn toàn bộ truyền thống Hồi giáo thì giải thích lời chúc phúc của Thiên Chúa dành cho It-ma-ên là một sấm ngôn của Kinh Thánh Do thái giáo nhắm vào Mahomét và đạo Hồi. Những nhà thần học Công giáo trước Công Đồng Vatican II, như Đức hồng y Jean DANIÉLOU và Lm Charles LEDIT, cũng thấy "một liên hệ mầu nhiệm giữa Ap-ra-ham, qua trung gian It-ma-ên, với Mahômét và đạo Hồi", và nghĩ rằng người Hồi giáo cũng được hưởng lời chúc phúc của tổ phụ Ap-ra-ham. Đúng, Hồi giáo là một mầu nhiệm[57], bên cạnh "mầu nhiệm Do thái giáo".

- Cánh cửa còn mở rộng cho các suy tư thần học về "mầu nhiệm Hồi giáo", nhất là sau Vatican II. Còn chính Công Đồng đã bày tỏ quan điểm rất tích cực và trọng thị về Hồi giáo trong tuyên ngôn "Nostra Aetate" (số 3). Công Đồng nhìn nhận cách thanh thản rằng: "Trong dòng chảy các thế kỷ, đã có nhiều sự bất đồng và thù nghịch giữa người Kitô hữu và người Hồi giáo, nhưng Công Đồng khuyến khích tất cả họ hãy quên đi quá khứ và hãy cố gắng chân thành hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau bảo vệ và cổ xúy công lý xã hội, các giá trị luân lý, hòa bình và tự do cho mọi người". Trong thực tế, không ai quên được quá khứ đâu, nhưng điều mọi người có thể và phải làm là thanh luyện ký ức, thanh thản và khiêm tốn rút ra những bài học tích cực từ những sự kiện tiêu cực của quá khứ. Khi Đức Giáo Hòang Gioan-Phaolô II, vào ngày Lễ Tro năm 2000, khiêm tốn xin Thiên Chúa và Anh em Hồi giáo tha thứ những sai trái của người Công giáo trong quá khứ, thì chắc hẳn ngài nghĩ tới những biểu hiện thù nghịch trong ngôn ngữ cũng như trong hành động của Giáo Hội Công giáo từ khi Hồi giáo xuất hiện.

- Chắc chắn "mầu nhiệm Phanxicô" đã có phần đóng góp sâu sắc và hữu hiệu dẫn tới sự thay đổi thái độ và ngôn ngữ của Giáo Hội Công giáo như thế sau nhiều thế kỷ dài. Là con cái của ngài, chúng ta được mời gọi đào sâu "mầu nhiệm Phanxicô" để có thể tiếp cận "mầu nhiệm Hồi giáo" một cách trọng thị, và ứng dụng cách xác tín phương pháp làm chứng cho Phúc Âm trước mặt anh em Hồi giáo như Cha Thánh đã trình bày trong chương XVI của Luật không sắc dụ.

*        *         *

Phi Khanh Vương Đình Khởi, ofm
Thủ Đức, ngày 07/07/2009

 


[1] Xem K. ESSER, Giải thích Luật Dòng..., chương XII, bản Việt ngữ, tr. 90.

[2] Xem bách khoa tự điển Công giáo « THÉO », 1993, tr. 54-55.

[3] Xem Jean GUENNOU, Missions Étrangères de Paris. Fayard, Paris 1986, tr. 10.

[4] Xem John Holland SMITH, Francis of Assisi, London 1972, tr. 38-39.

[5] Xem J.H. SMITH, Sđd, tr. 10.

[6] Xem J.H. SMITH, Sđd, tr. 30.

[7] Xem J.H. SMITH, Sđd, tr. 31.

[8] Vị này được truyện ký Khuyết danh Pêrugia (Kdp 5c)Ba Người Bạn (3NB 5) gọi là "Bá Tước Gentile", nhưng thực ra đó là Bá Tước Gauthier de Brienne, được dư luận đánh giá cách trân trọng và thân thiện là "Ngài Bá Tước dễ thương" (gentile, tính từ, bị hiểu thành danh từ riêng!).

[9] Chúng tôi tạm viết tắt các tư liệu nguồn như thế, trong lúc chờ đợi Ban Tu Thư của Tỉnh Dòng đề nghị một hệ thống viết tắt có thể chấp nhận được, vì hiện nay đang lưu hành hai hệ thống viết tắt khác nhau dành cho các văn bản trong Tác Phẩm của Thánh PXC và các tư liệu nguồn, do các Anh Khanh+Phước và Anh Thịnh đề xuất.

[10] Xem Sđd, tr. 39-40.

[11] Xem Sđd, tr. 39-42. Ông Smith cũng nghi ngờ chuyện PXC nhận được Năm Dấu Thánh. Ông xếp PXC vào hạng người cuồng lọan: "Technically, Francis was a hysterical type" (x. Sđd, tr. 159). Ngòai ra, đối với bản Luật có sắc dụ 1223, ông nghĩ rằng "các Giám Tỉnh và Đức Hồng Y Bảo Trợ (Hugôlinô) đã thành công trong việc ăn gian (cheating) với Thiên Chúa và Phanxicô bằng cách đem cái nhìn của họ về cách hiểu Dòng Phan sinh phải như thế nào thay vào cái nhìn của chính PXC" (x. Sđd, tr. 147). Về điểm này ông Smith có quan điểm giống như mục sư Tin Lành Paul Sabatier.

[12] Xem J.H. SMITH, Sđd, tr. 40: "...to return home, and fight the spiritual crusade from there".

[13] Xem Smith, Sđd, tr. 43.

[14] "A crusade verbo et exemplo": xem Smith, Sđd, tr. 95.

[15] Tai tiếng vì nhà thần bí này đã nói tiên tri rằng từ năm 1260 một Giáo Hội hòan tòan mang sắc thái "đan tu" sẽ thay thế Giáo Hội do các Giám mục cai quản, và cả thế giời sẽ hóan cải trở về với đức nghèo Phúc Âm: Xem Sđd "THÉO", tr. 366.

[16] Xem Smith, Sđd, tr. 94.

[17] Xem Smith, Sđd, tr. 94

[18] Đó là các Thánh Bêrađô, Phêrô, Adjuto, Accursio và Ottone.

[19] Xem Fortunato MARGIOTTI, Missione, trong Dizionario Francescano. Spiritualità. A cura di Ernesto CAROLI. Padova. II edizione 1995. I ristampa 2002, cột 1160.

[20] Xem Giulio BASETTI-SANI, OFM, Mohamed et Saint Francois. Ottawa, Canada 1959, tr. 158.

[21] Hai chứng từ trên đây được đăng trong Sđd của Giulio BASETTI-SANI, OFM, tr. 167-168.

[22] Có thể đọc các chứng từ  « ngòai Phan sinh » này trong bản dịch bằng tiếng Ý :Fonti Francescane. Nuova edizione 2004 a cura di Ernesto CAROLI, tr. 1457-1473.

[23] Xem Giulio BASETTI-SANI, Sđd, tr. 269, chú thích 36.

[24] Chúng tôi dựa theo: Fortunato MARGIOTTI, Sđd, cột 1157-1160; và  J.H. SMITH, Sđd, tr. 123-135.

[25] Xem Giulio BASETTI-SANI, Sđd, tr. 163; J.H. SMITH, Sđd, tr. 127.

[26] Xem J.H. SMITH, Sđd, tr. 134.

[27] Xem J.H. SMITH, Sđd, tr. 131.

[28] Xem J.H. SMITH, Sđd, tr. 131.

[29] Xem Carlo PAOLAZZI, Lettura degli "Scritti" de Francesco d'Assisi. Milano 2002. Đặc bịêt các trang 9-15: Profilo biografico e cronologia degli "Scritti" (1ý lịch trích ngang của PXC và niên đại các văn bản làm thành tác phẩm của ngài). Bảng niên đại này được đưa hầu như  nguyên si vào pho sách "Fonti Francescane. Nuova edizione 2004", tr. 14-19, với hai dị biệt quan trọng: 1) Sắc dụ Cum dilecti của ĐGH Hônôriô III được Carlo Paolazzi định vị vào ngày 11/06/1218 trong ấn bản Lettura...năm 2002 (tr. 11), nhưng trong Fonti... thì ghi là ngày 11/06/1219 (tr. 15). Cách làm của Fonti đúng hơn, vì cuối Sắc dụ ấy ĐGH ghi rõ:"Ban hành tại Lateranô ngày 11 tháng 06 năm 1219" (x. Fonti, tr. 1709), và như thế Fonti đã đính chính Lettura. 2) Dị biệt thứ hai là Fonti thêm phần Niên đại tiếp theo sau sự  kiện cải táng và  di dời hài cốt Thánh PXC từ Nhà Thờ Thánh Giocgiô đến Đại Hòang Đường Thánh Phanxicô ngày 15/05/1230. Phần mới của bảng Niên Đại trải dài từ năm 1230 đếnnăm 1337.

[30] Xem Johannes JOERGENSEN, Saint Francois d'Assise. Sa vie et son œuvre, traduit du danois par Teodor De Wyzewa. Nguyên bản xuất bản lần đầu vào năm 1909. Bản dịch tiếng Pháp, ấn bản thứ 43 xuất hiện tại Paris vào năm 1917. Tác giả thuật lại rất sơ lược cuộc gặp gỡ giữa PXC và Sutan, tr. 306-307.

[31] Xem CUTHBERT, OFM Cap, Vie de Saint Francois d'Assise, xuất bàn lần đầu bằng tiếng Anh năm 1912 ; bản dịch tiếng Pháp, ấn bản thứ hai, năm 1927, tr. 299-313.

[32] Xem Omer ENGLEBERT, Saint Francis of Assisi: A Biography. Xuất bàn lần đầu  tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1947. Bản dịch tiếng Anh của Eve Marie Cooper xuất bản lần đầu tiên năm 1956. Ấn bản Paperback (sách bỏ túi) chúng tôi đang tham khảo là "First Servant Books Edition 1979" in tại Mỹ. Cuộc gặp gỡ PXC-Sutan, ở tr. 176-178.

[33] Antôn và một nhóm Anh em, Thánh Phanxicô Assisi. Xuất bản lần đầu vào năm 1961. Xuất bản lần thứ năm có sửa đổi và bổ sung. Hoc Viên Phanxicô, 2005. Về cuộc gặp quốc vương Ai Cập, xem tr. 209-213.

[34] Xem Giulio BASETTI-SANI,OFM, Sđd, tr. 182.

[35] Như trên, tr. 183.

[36] Xem Anton ROTZETTER, OFMCap, Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di. Thân thế - Chương trình - Kinh nghiệm thần bí, Phần thứ nhất trong quyển sách được dịch sang tiếng Việt với đầu đề "Một Lối Sống Tin Mừng. Tinh thần Phan sinh hôm qua và hôm nay" của ba tác giả: Anton ROTZETTER, OFMCap, Wilibrord-Christian VAN DIJK, OFMCap và Thaddée MATURA, OFM. Bản dịch tiếng Việt: Du Sinh 2002, tr.52-53. Nguyên bản tiếng Đức: Franz von Assisi. Ein Anfang und was davon bleibt xuất bản lần đầu tại Zuerich năm 1981, chúng tôi có trong tay ấn bản thứ 4 năm 1993, tr. 44-45.

[37] Xem Paul ROUT, Francis and Bonaventure, pubished by HarperCollinsPublishers Ltd 1996, First U.S. Edition 1997, Chapter 7: Francis, the Sultan and Interfaith Dialogue, tr. 77-87 (quy chiếu về tài liệu này theo ký hiệu: Rout 1).

[38] Xem Paul ROUT, Sđd, tr. 82 và 90 quy chiếu về Bernard LONERGAN, Method in Theology. New York: Herder and Herder, 1973.

[39] Xem Carlo PAOLAZZI, Lettura degli "Scritti" di Francesco d'Assisi. Seconda edizione. Milano: Edizioni Biblioteca Francescana, 2002, tr. 295-296.

40 Xem The Stigmata of Francis of Assisi: New Studies and new Perspectives (New York: Franciscan Institute Publications,2006).

41  Xem Michael CUSATO, Of Snakes and Angels: The Mystical Experience behind the Stigmatization Narrative, trong Sđd tại chú thích 38, tr 29-74.

42  Xem Bài học số 5 Inter-Religious Dialogue - Franciscan Insights, trong khóa bồi dưỡng về Thần Học Phan sinh, được tổ chức tại Học Viện Phanxicô Thuû Ñöùc, kèm với bản dịch tiếng Việt của Anh Paul Nguyễn Đình Vịnh: Bài 5: Đối Thọai Liên Tôn - Những Nội-Trực-Giác Phan Sinh (quy chiếu về tài liệu này theo ký hiệu: Rout 2).

[43] Xem P. GRATIEN, OFMCap, Les opuscules de Saint Francois d'Assise, 4e édition, Paris 1946, tr. 97-106.

[44] Xem David FLOOD, La genèse de la Règle, trong quyển sách "La naissance d'un charisme. Une lecture de la première Règle de saint Francois » của ba tác giả : David Flood, Willibrord van DIJK, Thaddée MATURA. Présence de saint Francois-No 24. Paris 1973, tr. 23-84. Trích đọan nằm ở tr. 69.

[45] Xem Giulio BASETTI-SANI, OFM, Sđd, tr. 185.

[46] Xem Carlo PAOLAZZI, OFM, Sđd, tr. 101-115.

[47] Xem Carlo PAOLAZZI, OFM, Sđd, tr. 103.

[48] Xem Michael CUSATO, OFM , Sđd Of Snakes and Angels..., theo bản tóm luợc trong Paul ROUT 2.

[49] Phần trình bày này dựa trên bài tóm lược của cha Paul Rout về bài viết của cha Cusato (x. Phụ trương của bài học số 5 của Paul Rout), cộng thêm một số thông tin từ những nguồn khác.

[50] Chúng tôi theo cách đọc của nhà nghiên cứu Attilio Bartoli LANGELI và cha PAOLAZZI: refugium (=nơi nương náu), thay cho cách đọc của hai cha Duane LAPSANSKI và Kajetan ESSER: refrigerium (=suối nước mát mẻ). X. Paolazzi, Sđd, tr. 111 và 115.

[51] Xem bách khoa tự điển Công Giáo "THÉO", 1993, tr. 664-665

[52] Xem MZF 16, tr. 13; Rout 1, tr. 81.

[53] Xem Giuliio BASETTI-SANI, OFM, Sđd, tr. 20-21; 31.

[54] J. LORTZ, Francois l'incomparable (Phanxicô, vị thánh vô song), trong lọat sách "Présence de saint Francois = Sư hiện diện của Thánh PXC", số 1", Paris 1956, tr. 9-11.

[55] Xem G. BASETTI-SANI, OFM, Sđd, tr. 215.

[56] Xem G. BASETTI-SANI, OFM, Sđd, tr. 11, 59, 183 và 185.

[57] Xem G. BASETTI-SANI, OFM, Sđd, tr. 213-214.