Skip to content

Bình An và Thiện Hảo

Nơi nào có u sầu buồn bã, xin giúp con đem lại an vui.



Hiện có 15 khách 
Thường huấn số 06-2009

THÁNH BONAVENTURA

Thánh Bonaventura là một tác giả vừa phong phú vừa sâu sắc. Thật khó mà trình bày cuộc đời và tư tưởng của ngài trong vài trang. Để anh em hiểu biết phần nào thánh nhân là ai, tính cách hiện đại trong  tư tưởng của ngài, chúng tôi xin giới hạn vào ba mục:

  • Cuộc đời của thánh nhân;
  • Quan niệm của thánh nhân về chiêm ngưỡng;
  • Ảnh hưởng của thánh nhân trên Công đồng VATICANÔ II.

I. Cuộc đời thánh Bonaventura

1. Tuổi trẻ

Bonaventura ra đời năm 1217, tại một làng nhỏ nằm trên đồi Ba-nhô-rê-gi-ô (Bagnoregio) miền trung nước Ý, giữa thành Vi-tec-bô và thành Ô-vi-e-tô.  Cha của ngài, Gio-van-ni di Fi-đan-za là một thầy thuốc. Mẹ ngài tên là Maria Ri-tê-lô. Khi ngài chịu phép Thánh Tẩy, người ta lấy tên cha ngài, Giovanni, để đặt cho ngài. Về sau, khi vào dòng, ngài được gọi là Bonaventura .

Khi Bonaventura sinh ra thì Dòng Anh em Hèn Mọn (A.E.H.M.), do thánh Phanxicô sáng lập, đang trong thời phát triển của giai đoạn đầu và khi ngài còn học bậc tiểu học thì đã quen biết cộng đoàn Phan-sinh tại làng Bagnoregio. Lúc còn trẻ, ngài phải trải qua một cơn bệnh rất nặng. Mẹ ngài chạy đến với  thánh Phan-xi-cô dâng phó đứa con (chắc lúc này thánh Phan-xi-cô đã qua đời rồi!), nên ngài đã thoát chết. Biến cố này sẽ ghi dấu ấn sâu sắc trong tâm tình của ngài đối với vị thánh tổ phụ Dòng A.E.H.M.

2. Sinh viên tại Paris

Trong thời gian 1236-1243, Bonaventura theo học Triết lý tại Đại Học Paris. Tại kinh-đô nước Pháp, một kinh thành văn học nổi tiếng thời bấy giờ, Bonaventura đã được tiếp xúc rất sớm với các trào lưu triết-học.

Trong lãnh vực triết học, Bonaventura có thiện cảm với Pla-tô hơn là A-ris-tốt, vì triết học của Pla-tô chấp nhận thế giới các ý niệm, mở ra chiều kích hướng thượng, dễ đưa người ta đến với Thiên Chúa; còn triết học của A-ris-tốt chỉ dừng lại nơi thế giới vật chất.

3. Vào Dòng

Năm 1243, Bonaventura gia nhập Dòng Anh Em Hèn Mọn tại Paris. Nhiều lý do giải thích sự kiện này: lòng biết ơn đối với thánh Phan-xi-cô đã chữa lành ngài lúc ngài còn bé, gương sáng của một số danh nhân tại đại-học đã bước  vào Dòng của những người muốn sống đời đền tội, và nhất là ảnh hưởng của A-lê-xan-đê Ha-let (Alexandre de Halès) mà sau này ngài gọi là "sư phụ" (magister et pater). Đó là một vị giáo sư người Anh đã nổi tiếng tại phân-khoa thần học trước khi vào dòng A.E.H.M. năm 1231, lúc đã  56 tuổi. Trong nhiều năm, ngài mải miết học Kinh Thánh và thần học dưới sự hướng dẫn của vị thầy danh tiếng này và của Gioan La Rô-sen.

Sau khi hai vị tôn-sư ấy qua đời vào năm 1245, Bonaventura tiếp tục công việc học hành và nghiên cứu cho đến năm 1248 thì ngài đậu bằng tú tài Kinh Thánh (bachelier biblique), năm 1250 tú tài Thần học (bachelier sentenciaire), và năm 1253 là tiến sĩ. Tuy nhiên ngài còn phải chờ cho đến ngày 12-8-1257 mới được đại học Paris chính thức nhìn nhận là tiến sĩ và là giảng sư thần học cùng với người bạn của ngài là Tôma Aquinô, theo lệnh của Đức Giáo hoàng A-le-xan-đê IV. Sở dĩ có sự việc chậm trễ như vậy vì có cuộc tranh cãi giữa hàng giáo sĩ triều và giáo sĩ dòng. Đại học không muốn nhận các tu sĩ thuộc các Dòng Hành-khất (Dòng Thuyết giáo và Dòng Anh em Hèn mọn) vào số các giáo sư.

Trong thực tế thì Bonaventura đã khởi sự dạy Kinh Thánh tại đại học từ năm 1248. Rồi từ năm 1250 ngài khởi công giải thích "Sách Các Luận Đề" của thần học gia Pie Lôm-ba (Pierre Lombard), một tác phẩm được xem như sách giáo khoa thần học từ thế kỷ 12 cho tới cuối thời kỳ Trung cổ.

Bộ sách "Giải thích các luận đề" (Commentarii in 4 Libros Sententiarum) là kết quả nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy của Bonaventura cho tới năm 1255 [1].

Trong thời gian thụ huấn trong Dòng A.E.H.M, rồi làm giáo sư, Bonaventura nỗ lực sống điều mình đã học hỏi. Ngài không thể quan niệm một người A.E.H.M. thu thập được nhiều kiến thức về Thiên Chúa mà lại không yêu mến Người nhiều hơn. Lý tưởng của ngài về vấn đề học vấn cũng chính là lý tưởng mà thánh Phan-xi-cô đã dạy anh em trong Huấn ngôn VII: "Những người được tinh thần Chúa trong Kinh Thánh nuôi sống là những người không gán cho bản thân mình mọi điều họ biết hay muốn biết, nhưng dùng lời nói và gương sáng mà dâng trả cho Thiên Chúa tối cao, Đấng sở hữu mọi điều tốt lành".

Bonaventura hoàn toàn thấm nhuần Bài ca các thụ tạo của Cha Thánh. Với tư cách là thần học gia, ngài khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi thụ tạo, và xem mọi thụ tạo như là chiếc thang đưa con người trở về với Thiên Chúa Tạo-hoá. Đó là nét một độc đáo trong tư tưởng của ngài.

4. Tổng Phục-vụ

Ngày 2-2-1257, tức vài tháng trước khi mang tước hiệu chính thức là giảng-sư thần học, Bonaventura được bầu chọn làm Tổng Phục-vụ Dòng A.E.H.M. Ngài vẫn ở Paris, nhưng bây giờ ngài phải gánh một trọng trách mới.

Những cuộc thăm viếng anh em đã đưa ngài đi khắp các nước Pháp, Tây-ban-nha, Ý, Anh, Đức. Trong thời gian làm Tổng-phục-vụ, ngài đã chủ trì năm cuộc Tổng- tu-nghị, đặc biệt là Tổng tu nghị tại Nac-bon năm 1260: từ cuộc đại hội này phát xuất bản Hiến-chương đầu tiên của Dòng. Cũng chính các anh em tại Tổng tu-nghị này đã yêu cầu ngài viết lại cuộc đời của thánh Phan-xi-cô. Để thực hiện nguyện vọng đó của anh em, thì mùa hè 1261 ngài đã sáng tác quyển Đại Truyện, một tác phẩm mang tính tu-đức nhiều hơn là lịch sử, so với tác phẩm của Anh Tôma Xêlanô, kiểu như Tin Mừng của Gio-an so với Tin Mừng của Mat-thêu. Liền sau đó ngài viết quyển "Tiểu truyện", tóm tắt lại cuộc đời của thánh Phan-xi-cô, để anh em dùng trong các giờ kinh.

Trong suốt 17 năm làm Tổng-phục-vụ, Bonaventura đã điều hành Hội Dòng trong tâm tình hoà bình và hoà giải giữa các phe nhóm, đồng thời giúp anh em tuân giữ Luật Dòng một cách nhiệm nhặt.

Mặc dầu công việc của ngài không trực tiếp liên hệ đến Đại học, nhưng ngài vẫn quan tâm gìn giữ cho tư tưởng thần học của Dòng đi đúng chiều hướng mà trước kia ngài đã vạch ra. Vì thế ngài vẫn thường xuyên lui tới Paris, thuyết giảng cho các sinh-viên tại tu-viện cũng như tại đại-học trong nhiều dịp và nhất là đóng góp một phần quan trọng trong những cuộc tranh cãi về đạo lý giữa giáo sĩ dòng và giáo sĩ triều. Một tác phẩm đáng lưu ý của ngài trong thời gian này (1269) là "Lời Bào chữa của những người nghèo" (Apologia pauperum): trong tác phẩm này ngài dựa trên Kinh Thánh và Truyền thống để chứng minh rằng lối sống hành khất của các tu sĩ là một hình thức sống phù hợp với Tin Mừng của Chúa.

5. Hồng y

Ảnh hưởng của Bonaventura càng ngày càng quan trọng trong Giáo-hội. Năm 1265 Đức giáo-hoàng Clê-men-tê IV đặt ngài làm tổng giám mục giáo phận York, nước  Anh; nhưng ngài khẩn khoản xin Đức Thánh cha rút lại quyết định, để ngài được tiếp tục phục vụ anh em trong Dòng.

Năm 1271 ngài tới Vi-tec-bô, nơi mà các hồng y trong suốt 3 năm chưa nhất trí bầu ra được một vị giáo hoàng kế vị Đức Clê-men-tê IV. Nhờ sự cố vấn của ngài, một vị giáo hoàng mới đã được bầu chọn: đó là Đức Giáo hoàng Grê-gô-ri-ô X. Vị này là học trò cũ của ngài tại Paris.

Vì muốn thực hiện sự hiệp nhất giữa Giáo-hội Hy-lạp và Giáo-hội Rô-ma, nên năm 1273 Đức Giáo hoàng Grê-gô-ri-ô X yêu cầu Bonaventura giúp đỡ ngài trong việc điều hành Giáo-hội.Vì những lời lẽ khẩn thiết của Đức Giáo hoàng, nên Bonaventura đành phải chấp nhận.  Ngày 23-5 năm ấy ngài được phong chức Hồng-y, giám mục giáo phận An-ba-nô.

Từ nay Bonaventura dốc toàn sức mình vào việc  chuẩn bị Công đồng Li-ông (Lyon). Công đồng chung XVI này được khai mạc ngày 7-5-1274. Trong thánh lễ hoà giải với Giáo-hội Hy-lạp được cử hành ngày 28-6, chính Bonaventura thuyết giảng.

Có lẽ do suy kiệt vì công việc, nên vào ngày 15-7-1274, cũng tại Li-ông, ngài qua đời sau khi Công đồng kết thúc, thọ 57 tuổi. Ngài được an táng ngay ngày hôm ấy, trong nguyện đường Dòng A.E.H.M., trước mặt Đức giáo hoàng và đông đảo chức sắc của Giáo hội.

Ngày 14-4-1482 ngài được phong hiển-thánh và hơn một thế kỷ sau, tức vào năm 1587, được nâng lên hàng tiến-sĩ của Hội-thánh với tước hiệu là "Tiến-sĩ Sốt mến" (Doctor Seraphicus).

KẾT LUẬN

Nếu cần phải nêu ra một vài đặc điểm cho cuộc đời của Thánh Bonaventura, chúng tôi xin nêu ra hai nhận định sau đây:

1. Thánh Bonaventura là con người của sự hiệp nhất.

Trong nội bộ Dòng Anh Em Hèn Mọn, người đã có công liên kết các phe phái. Vào thời Thánh Bonaventura, Hội dòng đã có con số lên tới chừng ba mươi ngàn tu sĩ. Các "anh em nhiệt thành" (Zelanti) hay "hướng linh" (Spirituels) thì muốn trở về với lối sống thời đầu (sống từng nhóm nhỏ trong các ẩn viện, đi làm thuê trong các nông trại hoặc đi hành khất...); còn "nhóm Tu viện" thì chấp nhận theo lối sống các Dòng cũ (sống trong các cộng đoàn lớn, tổ chức việc học hành, sở hữu nhà cửa...) Lý do sâu xa của sự tranh cãi và sự chia rẽ là sự phát triển quá nhanh chóng của Dòng, nhất là có đông đảo anh em giáo sĩ và trí thức nhập Dòng. Thánh Bonaventura đã có công tạo nên sự hiệp nhất giữa các nhóm, giúp anh em hiểu được sự cần thiết phải thích ứng Luật Dòng vào một hoàn cảnh mới mà không làm suy giảm lý tưởng của Thánh Phan-xi-cô.

Trong Giáo Hội, với tư cách là Hồng y, thánh Bonaventura đã được Đức Giáo hoàng Gregorio X giao cho trách nhiệm đứng ra tổ chức Công đồng Lyon II năm 1274 mà một trong những mục đích chính là sự hiệp nhất với Giáo Hội Chính thống Hy lạp. Mặc dầu kết quả không tồn tại lâu dài, nhưng dẫu sao tại Công đồng chung đó một số đại diện các giáo đoàn Đông phương đã chấp nhận trở về với Giáo hội Công giáo Rô-ma và đọc lời tuyên xưng đức tin do Đức Giáo hoàng Clementê IV đã soạn và đề nghị cho Hoàng đế Michel Paléologue năm 1267 (xem "La Foi Catholique", số 32-41; Denzinger-Schoenmetzer, số 851- 861).

2. Thánh Bonaventura là "người tìm kiếm Thiên Chúa không bao giờ chán nản", theo nhận định của Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô XVI. Trong cuộc tìm kiếm ấy thánh nhân luôn luôn liên kết "việc đọc sách" với "ơn xức dầu" (ơn Chúa Thánh Thần), việc "suy luận bằng lý trí" với "lòng sốt mến", việc "tìm kiếm" với "lòng ngưỡng mộ", "việc suy ngắm" với "lòng hoan hỉ", "tài năng" với "lòng đạo đức", "kiến thức" với  "đức mến", "trí thông minh" với lòng khiêm hạ", "việc học hỏi của con người" với  "ơn Chúa và sự khôn ngoan do Chúa linh hứng". Đức Thánh Cha nói rõ thêm: "Con đường thanh luyện ấy đòi hỏi sự dấn thân của toàn diện con người, để , nhờ Đức Ki-tô, đạt tới tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, một tình yêu biến đổi cuộc đời chúng ta" (xem Zenit Francais, ngày 7-9-2009: Sur les pas de saint Bonaventure).

II. QUAN NIỆM THÁNH BONAVENTURA VỀ CHIÊM NGƯỠNG

Tác phẩm "Lộ trình" của thánh Bonaventura  vẫn thường được xem là quyển thủ-bản về chiêm ngưỡng. Bonaventura không nêu ra một định nghĩa nào về chiêm ngưỡng. Nhưng dựa trên mạch ý chung của tác phẩm ấy, chúng ta có thể nói chiêm ngưỡng là hành vi của con người khao khát được gặp gỡ Thiên Chúa, vì thế chấp nhận mọi khó nhọc để lên đường đi tìm kiếm Thánh nhan Người.

1. Tìm kiếm Thiên Chúa ở đâu?

Con người chiêm ngưỡng sẽ tìm kiếm khuôn mặt và sự hiện diện của Thiên Chúa nơi thế giới vật chất chung quanh, rồi nơi chính bản thân mình là thụ tạo cao cả hơn mọi thụ tạo khác, và cuối cùng nơi hai danh hiệu cơ bản của Thiên Chúa: đó là Hiện-hữu Tốt lành.

2. Hai phương cách chiêm ngưỡng:

Vì trong cuộc tìm kiếm này, con người chiêm ngưỡng phải đặc biệt vận dụng hai khả năng tâm linh, tức là lý trí và ý chí (tình yêu), nên Bonaventura phân biệt hai phương cách chiêm ngưỡng: chiêm ngưỡng bằng lý trí và chiêm ngưỡng cảm ái .

2.1. Chiêm ngưỡng bằng lý trí: chiêm niệm.

Chiêm ngưỡng bằng lý trí (speculatio) hay chiêm niệm là một cái nhìn chăm chú và tổng hợp của lý-trí về một đối tượng, sau khi đã xem xét các yếu tố, các liên hệ, tầm quan trọng của đối tượng ấy. Lý trí cảm thấy như được nghỉ ngơi trên một kết luận mà nó đã đạt được sau nhiều nỗ lực tìm hiểu.

Chiêm ngưỡng bằng lý trí là một cái nhìn gián tiếp về Thiên Chúa (contuitus): con người nhìn ngắm Thiên Chúa qua trung gian của vũ trụ bên ngoài hoặc qua hình ảnh của Người trong tâm hồn mình. Thánh Bonaventura viết: "Chúng (các thụ tạo) là các dấu tích, các hình ảnh, các cảnh tượng được Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta chiêm ngắm Người (ad contuendum Deum": x. ch.II, 11; x.thêm ch.VII,1).

2.2. Chiêm ngưỡng bằng tình yêu: chiêm nghiệm.

Bình thường lý trí không dừng lại nơi việc chiêm ngắm này, nhất là khi đối tượng ấy mang tính cách tôn giáo. Lý do là tâm hồn con người không chỉ có khả năng hiểu biết, mà còn có khả năng ngưỡng mộ, yêu mến, chiếm hữu và thưởng ngoạn Thiên Chúa. Lúc ấy chiêm ngưỡng bằng lý trí sẽ chuyển thành chiêm ngưỡng cảm ái. Chiêm ngưỡng bằng lý trí trở thành một sự khôn ngoan, một sự hiểu biết ngon ngọt, một kiến thức bằng nếm cảm, bằng tình yêu, bằng kinh nghiệm: vì thế ta có thể gọi đây là chiêm nghiệm (contemplation sapientielle).

Khi cuộc chiêm ngưỡng cảm ái xảy ra, thì khả năng lý-luận của lý trí im đi. Đối tượng của chiêm ngưỡng lúc này vượt lên trên mọi quan niệm, mọi lời diễn giải. Đây là một sự hiểu biết không phải gián tiếp qua các dấu chỉ nữa, nhưng là một sự hiểu biết bằng sự nếm cảm, bằng kinh nghiệm do con người được  kết hiệp thân tình với  Thiên Chúa (x. Lộ trình, ch.VII,4).

Chiêm ngưỡng cảm ái còn có thể được gọi là chiêm ngưỡng theo "cách phủ định", khác với phương cách đầu, tức là chiêm ngưỡng theo "cách khẳng định", như chính Bonaventura phân biệt rõ ràng trong tác phẩm "Ba con đường" mà người sáng tác vài tháng sau tác phẩm "Lộ trình".

Phương cách khẳng định là lần lượt nhìn ngắm những phẩm tính của Thiên Chúa mà lý trí thu thập được: những phẩm tính chung cho Ba Ngôi, những phẩm tính riêng của từng Ngôi v.v...

Nhưng theo Bonaventura, phương cách phủ định đưa người ta đi lên cao hơn.Vì biết rằng Thiên Chúa vượt lên trên những gì con người có thể hiểu biết và tưởng tượng, nên con người cứ phải phủ-định những gì mình nắm bắt được. Bonaventura nói: "Những lời khẳng định đều là những ý niệm rời rạc; lời phủ định mới chân thật; lời phủ định xem ra nói ít, nhưng lại diễn tả rất nhiều". Đường lối phủ định đưa người ta đến "bóng đêm dày đặc", nhưng là thứ  "bóng đêm siêu vượt ánh sáng" trong đó con người được kết hiệp với "Đấng siêu vượt mọi bản tính và mọi kiến thức". (x.Lộ trình, ch.VII,5).

3. Ơn Chúa trong đời sống chiêm ngưỡng

Sau này người ta thường phân biệt trật tự tự nhiên với trật tự ân sủng; rồi từ đó phân biệt chiêm ngưỡng tích cực hay thủ đắc, do khả năng tự nhiên của con người thực hiện, và chiêm ngưỡng thụ động hay thiên phú do ơn Chúa tác động. Cách phân biệt này làm cho người ta có cảm tưởng rằng ở giai đoạn đầu (chiêm ngưỡng tích cực hay thủ đắc), người ta không cần đến ơn Chúa mà chỉ cần vận dụng các khả năng tự nhiên. Kiểu phân biệt ấy rất xa lạ với tư tưởng của Bonaventura.

3.1. Các ơn Chúa Thánh Thần

Đối với thánh nhân, bất cứ dưới hình thức chiêm ngưỡng nào, con người cũng cần đến ơn Chúa Thánh-thần. Chiêm ngưỡng bằng lý trí được thực hiện dưới ảnh hưởng của ơn Thông hiểu (Intelligentia). Còn chiêm ngưỡng cảm ái được thực hiện dưới ảnh hưởng của ơn Khôn ngoan (Sapientia). Thực ra khi mới khởi đầu bước vào đời sống chiêm ngưỡng, chúng ta đã lãnh nhận ơn Úy kính (Timor)[2]: Kinh Thánh đã nói lòng kính sợ Chúa là khởi đầu của Khôn ngoan.

Chiêm nghiệm là hình thức chiêm ngưỡng ở mức cao độ, vì nó đưa ta tới cuộc gặp gỡ ân tình với Thiên Chúa, nhưng nó cũng không dành riêng cho một lớp người nào. Đối với một tập sinh mới đặt chân vào đời sống chiêm ngưỡng, Bonaventura đã mời gọi hãy đón nhận, nuôi dưỡng và thổi bùng lên ngọn lửa của Đức Khôn ngoan!

3.2. Thanh đạo, minh đạo và hiệp đạo

Khi con người đưa mắt nhìn bản thân mình, thì sẽ thấy mình là một hình ảnh của Thiên Chúa. Hình ảnh ấy còn nằm trên bình diện tự nhiên. Mặc dầu có nhiều điều kỳ lạ nơi hình ảnh ấy, nhưng con người vẫn cảm thấy có cái gì đó đã đổ vỡ: con người vẫn sống trong một nỗi bất an và  trong một niềm khát vọng khôn nguôi... Lý do là hình ảnh của Thiên Chúa nơi bản thân mình đã bị méo mó, cái thang có thể đưa con người tới Chân, Thiện, Mỹ đã bị gãy. Nếu con người muốn tiếp tục chiêm ngắm Thiên Chúa đẹp đẽ và tốt lành và nhất là đến được với Người, thì con người phải nhờ ơn Chúa tiếp tục cuộc hành trình qua ba chặng đường, được gọi là thanh đạo, minh đạo hiệp đạo.

Thanh đạo, với việc khử trừ tội lỗi và chế ngự cách ăn nết ở (đặc biệt nhờ Bí tích Hòa giải), dẫn đưa con người tới sự bình an nội tâm. Minh đạo, nhờ việc học hỏi và noi gương Chúa Kitô, dẫn đưa con người đến chân lý. Hiệp đạo đưa con người đến chỗ được nếm cảm Thiên Chúa Tốt lành (đặc biệt nhờ Bí tích Thánh Thể).

Trong công cuộc cải tạo hình ảnh của Thiên Chúa, biến hình ảnh (image) tự nhiên thành một sự đồng dạng (ressemblance), ơn Thiên Chúa là chính yếu, nhưng con người cũng phải cộng tác vào, bằng các nhân đức tin, cậy, mến. Nhờ các nhân đức hướng thần, các giác quan thiêng liêng của con người được phục hồi: con người nghe được Lời Chúa Giê-su dạy, thấy được vẻ huy hoàng của Người là Ngôi Lời bất tạo, nếm cảm được điều ngọt ngào nhất, ôm được vào lòng Đấng đáng yêu mến nhất (x. Lộ trình, ch.IV, 3).

Trong giai đoạn hành trình này, con người cần đến quyển Kinh Thánh hơn cả, cũng như trong giai đoạn trước con người cần đến Triết học. Kinh Thánh là Lời mặc khải của Thiên Chúa, sẽ thanh luyện con người nhờ nghĩa luân lý, soi sáng lý trí con người nhờ nghĩa biểu tượng, và cuối cùng dẫn con người tới chỗ nếm cảm sự ngọt ngào của đức khôn ngoan, nhờ nghĩa huyền nhiệm (x. Lộ trình, ch.IV, 5-6).

Một khi được tái tạo như thế, linh hồn chẳng những được chiêm ngắm Thiên Chúa nơi bản thân mình, mà còn được dẫn đưa vào trong một cuộc hôn nhân huyền nhiệm: linh hồn trở nên ái nữ của Chúa Cha, hôn thê của Chúa Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần .

III. THÁNH BONAVENTURA VỚI CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II

Năm 1967, khi giới thiệu cho các độc giả Pháp ngữ quyển 2 trong bộ "Đoản Ngôn" (Breviloquium) của Thánh Bonaventura mang đầu đề là "Thế giới thụ tạo của Thiên Chúa", dịch giả Trophime Mouiren đã gợi ý một cách tổng quát là  Công đồng VATICANÔ II đã có một đường lối suy luận và trình bày vấn đề mặc khải và đức tin theo kiểu thánh Bonaventura, nghĩa là đi từ Thiên Chúa Ba Ngôi đến với con người, và từ Giáo hội đến với thế giới ngày nay. Vì thế khi trình bày mặc khải, Công đồng không khởi đi từ sự hiểu biết tự nhiên về Thiên Chúa, rồi tới sự hiểu biết siêu nhiên (như Công đồng VATICANÔ I, chịu ảnh hưởng của Thánh Tô-ma), nhưng từ Thiên Chúa sáng tạo và từ Ngôi Lời nhập thể. Từ đó, theo Công đồng VATICANÔ II, tin trước hết là đón nhận Tình yêu của Thiên Chúa, khi Người đến với con người, chứ không chỉ là chấp nhận quyền bính của Thiên Chúa khi Người thông tri những điều bí nhiệm [3].

Mới đây qua bài viết "Đức Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI và Thánh Bonaventura" trên báo điện tử Zenit [4], tác giả  Robert Moynihan cho chúng ta biết thêm là chính qua trung gian của nhà thần học Joseph Ratzinger (đương kim Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI) mà thánh Bonaventura đã gây ảnh hưởng trên công đồng VATICANÔ II.

Năm 1957, lúc mới 30 tuổi, J. Ratzinger đã soạn luận án thứ hai về Thần học lịch sử theo thánh Bonaventura[5]. Nhà thần học trẻ Ratzinger đã khám phá điều này là đối với Bonaventura ý niệm mặc khải không mang ý nghĩa như chúng ta quan niệm ngày nay, tức là toàn thể nội dung đức tin. J. Ratzinger nghĩ  rằng Mặc khải đối với Bonaventura luôn luôn hàm chứa ý tưởng hành động, nói cách khác mặc khải có nghĩa là hành vi qua đó Thiên Chúa tự biểu lộ mình ra, chứ không đơn giản là hậu quả của hành vi ấy. Ý niệm mặc khải luôn luôn gợi ý về một chủ nhân mặc khải , tức là Thiên Chúa, và một chủ nhân tiếp nhận mặc khải, tức là con người. Không có chủ nhân tiếp nhận, thì bức màn cũng chưa được vén lên.

J. Ratzinger nói: "Các trực giác ấy mà tôi thu lượm được khi đọc thánh Bonaventura, sau này đã trở thành vô cùng quý giá cho tôi trong cuộc bàn cãi tại Công đồng về Mặc khải, Kinh Thánh và Truyền thống. Bởi vì, nếu thánh Bonaventura có lý, thì mặc khải có trước Kinh Thánh và được ghi chép vào Kinh Thánh, nhưng không hoàn toàn trùng hợp với Kinh Thánh. Điều đó có nghĩa là mặc khải luôn luôn là một thực tại cao cả hơn những gì chỉ được ghi chép. Và điều đó còn có nghĩa là không thể có chuyện "chỉ có Kinh Thánh mà thôi" (Sola Scriptura) [6], vì một yếu tố cốt lõi của Kinh Thánh là Giáo Hội với tư cách một chủ nhân [chủ nhân tiếp nhận], và như vậy ý niệm về Truyền thống đã hiện diện đó như một yếu tố nền tảng" [7].

Cách nhà thần học J. Ratzinger giải thích ý niệm mặc khải theo thánh Bonaventura đã gây tranh cãi một thời tại đại học Muenchen: người ta cho rằng lối giải thích ấy biểu lộ một khuynh hướng tân thời nguy hiểm có thể dẫn đưa tới chỗ đề cao chiều kích chủ quan của mặc khải. J. Ratzinger đã nghĩ và vẫn còn nghĩ rằng những lời phê bình kia là không có cơ sở.

Chúng ta biết rằng quan niệm mặc khải như là hành vi Thiên Chúa đến gặp gỡ con người và thông ban chính ban thân mình cho con người, còn đức tin là thái độ đón nhận sự hiến thân ấy của Thiên Chúa, đã được Công đồng VATICANÔ II tiếp nhận trong chương I của Hiến chế về "Mặc khải" hiện thời (x. M.K số 2-6)[8].

 

THƯ MỤC

Để tìm hiểu thêm thánh Bonaventura, xin giới thiệu vài quyển sách dễ tiếp cận:

- Thánh Bonaventura : Itinerarium mentis in Deum,

Bản dịch Việt ngữ: "Lộ trình tâm linh lên cùng Thiên Chúa" của Nguyễn Văn Khanh, 2007;

Bản dịch Pháp ngữ: "Itinnéraire de l'esprit vers Dieu", của Henry Duméry, Paris 1967;

Bản dịch Anh ngữ: " The Journey of the person human into God", của Zachary Hayes, trong quyển "The journey into God.A forty-day Retreat with Bonaventure, Francis and Clare", Ohio 2002.

 

- Bougerol, J. Guy, S. Bonaventure et la sagesse chrétienne, Bourges 1963.

 

- Breton, Valentin M., S. Bonaventure.Textes et Etudes, Paris 1943.

 

Norberto NGUYỄN VĂN KHANH,

Nha Trang ngày 30-9-2009.

 

 


[1] Toàn bộ tác phẩm của Bonaventura đã được xuất bản thành 10 quyển do nhà in Quaracchi, 1882-1902. Người ta thường chia theo 5 mục : các tác phẩm triết học và thần học, các tác phẩm chú giải Kinh Thánh, các tác phẩm tu-đức, các thư văn liên hệ đến Dòng Phan-sinh, các bài giảng thuyết. Trong mục thứ nhất, ngoài bộ "Giải thích các luận đề", ta có thể kể thêm các quyển thường được nhắc tới : "Đoản ngôn"(Breviloquium), "Liên hệ các ngành học với Thần học" (De reductione artium ad theologiam), Các bài thuyết giảng về "Công trình Sáu ngày " (Collationes in Hexaemeron). Quyển "Lộ trình tâm linh lên cùng Thiên Chúa " (Itinerarium) cũng đã được xếp vào mục thứ nhất này và được in trong quyển V.

[2] Xem "Breviloquium", Partie V, ch.V, n.9.

[3] S.Bonaventure, Breviloquium, Partie 2:Le monde creature de Dieu, Edit.Franciscaines, Paris  1967, p.41-43.

[4] "Benoit XVI et S.Bonaventure", in Zenit.org 2 septembre 2009.

[5] Tại Đức, luận án thứ nhất là để có bằng tiến sĩ; luận án thứ hai là để trở thành giáo sư (Habilitationsshrift).

[6] Nói đến mặc khải thì Luther và các nhóm Tin Lành về sau chỉ chấp nhận Kinh Thánh mà thôi, chứ không chấp nhận một quyền bính nào khác!

[7] Được R.Moynihan trích từ quyển Tự thuật của J.Ratzinger, Milestones:Memoirs 1927-1977.

[8] Tất nhiên chương I của Hiến chế M.K. là công trình của nhiều nhà thần học, chứ không riêng gì của J.Ratzinger, đặc biệt còn có sự hiện diện của thần học gia Karl Rahner.