Skip to content

Bình An và Thiện Hảo

Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài con đang ẩn náu.



Hiện có 16 khách 
Thánh Clara Assisi (1193-1253)

Bài A: Quá Trình Hoán Cải Của Hai Vị Thánh

 

Dẫn nhập

Bài này muốn trình bày một cái nhìn tổng hợp về Thánh Clara và đối chiếu thánh nữ với Thánh Phanxicô (PXC). Cách nhìn này có thể giúp chúng ta hiểu mỗi vị thánh chính xác và sâu sắc hơn. Giữa nhiều danh hiệu đã được gán cho Thánh Clara, chúng tôi chọn hai danh hiệu tiêu biểu nhất, mà chúng tôi nghĩ là có khả năng giới thiệu con người, ơn gọi và sứ mạng của Thánh nữ một cách hài hòa, quân bình và đầy đủ. Đó là: “Clara, người Nữ Phan sinh thứ nhất[1]; và “Clara, người Phụ Nữ mới” [2].

a) Danh hiệu “Người Nữ Phan sinh thứ nhất” tất nhiên đặt Clara trong tương quan với PXC và có thể bao trùm lên nhiều danh hiệu do chính Clara tự gán cho mình hoặc do truyền thống trong gia đình Phan sinh và Giáo Hội tặng cho Thánh nữ, như:

- “cây nhỏ bé của Cha Thánh Phanxicô”, theo cách Clara tự gọi mình[3];

- “cây nhỏ bé đầu tiên của Dòng các Bà Nghèo”, theo cách gọi của hầu hết các truyện ký sơ khởi [4]. Cách làm này vẫn không sai với quan điểm của Clara vì thánh nữ cũng gọi Hội Dòng các Bà Nghèo, trong đó ngài là thành viên thứ nhất, là “cây nhỏ bé của Cha Thánh Phanxicô” (x. DC Cl  49).

- Trong tương quan với các Chị Em, Clara cũng tự xưng mình cách khiêm tốn là “người chị em[5] và “nữ tỳ” của Chị Em[6]. Danh hiệu “mẹ[7] mang thêm sắc màu tình cảm đậm nét hơn, nhưng vẫn gắn liền với tư cách “nữ tỳ”, vì “mẹ” là một “nữ tỳ” cao cấp của con cái; và Clara chỉ xưng mình là mẹ của Chị Em trong Dòng, chứ không hề nghĩ mình là mẹ của ai khác. Chúng ta sẽ xem xét vấn đề: Clara chấp nhận tước hiệu “Viện Mẫu” (= Abbatissa = Mẹ Bề trên Đan Viện, một tước hiệu thuộc truyền thống Biển Đức) cách vui vẻ hay miễn cưỡng. Dầu sao trong Luật Dòng và Di Chúc, Clara vẫn đòi hỏi người mang tước hiệu “Viện Mẫu” hoặc giữ chức vụ phục vụ Chị Em phải là “người nữ tỳ” (x. L Cl 10,4-5) và “người mẹ” (x. L Cl 4,7; DC Cl 63. 68-69) của Chị Em. Chính các truyện ký sơ khởi, sách Phụng vụ Phan sinh và các Vị Tổng Phục Vụ của Gia đình Phan sinh ngày nay gán cho Clara nhiều danh hiệu mang ý hướng tôn vinh Thánh nữ, như:

- “Clara là trưởng nữ của Cha Thánh Phanxicô” [8];

- “đồ đệ xứng đáng nhất của Vị Thánh Nghèo” [9];

- “người thi đua chính với Vị Thánh của thành Assisi” [10];

- “vị Thầy và mẫu mực của Chị Em Thanh Bần” [11];

- “mẹ hiền và người chị nhân ái của mọi thành viên Gia Đình Phan Sinh” [12];

- Là “vinh quang của Anh em hèn mọn” [13].

- Đại thi hào Dante (Đantê) còn ví von Phanxicô là “mặt trời chào đời tại Assisi”. Từ đó có người lại so sánh Clara với “mặt trăng xoay quanh mặt trời Phanxicô” [14]. Những hình ảnh như thế, tuy thi vị, nhưng có nguy cơ xui khiến người ta nghĩ rằng Clara tùy thuộc hoàn toàn vào Phanxicô. Bài này sẽ chứng minh Clara có ánh sáng riêng và bản lĩnh của mình!

b) Về danh hiệu “người phụ nữ mới”, cần ghi nhận chi tiết sau đây: danh hiệu này được ĐGH Alexander IV sử dụng trong Sắc dụ phong thánh cho Clara ngày 15-08-1255. Nhưng bản gốc của văn kiện đã bị thất lạc; cha LAZZERI, OFM, người nghiên cứu chuyên sâu, chỉ tìm thấy ba bản sao, với ba cách ghi chép khác nhau:

- “Clara là món đồ trang sức mới (“nova munda”) của thung lũng Spoleto”;

- “Clara là dòng suối tinh trong (“vena munda”) của thung lũng Spoleto” – Chúng tôi phát hiện Celano cũng ví von Clara với hình ảnh này: “Để cho dòng suối thiên phúc này (“coelestis hujus benedictionis vena…”) đã tuôn trào ra trong thung lũng Spoleto không bị vây hãm trong những giới hạn chật hẹp, Chúa Quan Phòng đã làm cho dòng suối ấy lớn rộng ra thành một dòng sông lớn, cuồn cuộn chảy đem niềm vui cho thành của Chúa Trời (Tv 46, 1) là Hội Thánh” (Cel Cl 11);

- “Clara là người phụ nữ mới (“nova mulier”) của thung lũng Spoleto”. Bản dịch tiếng Ý “Fonti Francescane” (Các Nguồn Phan Sinh) đã chọn cách đọc này, và bốn Vị Tổng Phục Vụ lại dựa vào bản dịch tiếng Ý. Chắc hẳn vì cách đọc thứ ba mang tính nhân văn hơn so với hai cách kia nặng tính chất sự vật [15]. Lá thư của bốn Vị Tổng Phục Vụ trình bày Thánh Clara như “một người phụ nữ mới” trong bối cảnh lịch sử Giáo Hội thời Trung cổ. Đúng là chân dung tinh thần của Clara mang nhiều nét mới so với những phụ nữ sống đồng thời hoặc sống trước ngài. Tuy nhiên từ ngày được biết PXC là “một con người mới (“novus homo”), với những nhân đức mới…” (Cel Cl 5), Clara, khi trở thành “người Nữ Phan Sinh thứ nhất”, thì cũng trở thành “người phụ nữ mới” song song với PXC, và chúng ta có thể chứng minh rằng Clara, “người Nữ Phan Sinh thứ nhất” và “người phụ nữ mới” ấy cũng có những nét mới hoặc khác so với chính Thánh Phanxicô.

Đối chiếu cuộc hoán cải của Thánh Clara và Thánh Phanxicô

Sau đây chúng ta ôn lại phần đầu tiểu sử Thánh Clara. Nhưng để thấy được dễ dàng hơn những điểm giống và khác nhau giữa Clara và Phanxicô (PXC), “hai nhân vật phi thường, không thể tách rời nhau” của quê hương Assisi, chúng ta nên đối chiếu hai cuộc đời, hai “lịch sử thần thiêng của Phanxicô và Clara”, theo cách nói của ĐGH Gioan Phaolô II [16]. 

    1.Khác biệt về tuổi tác

PXC hơn Clara 12 tuổi: PXC sinh năm 1181 hoặc 1182, Clara sinh năm 1193 hoặc 1194 tại Assisi. Các sử gia do dự về năm sinh chính xác của hai nhân vật. Chúng ta chọn năm sinh sớm hơn cho cả hai Vị, để PXC thực sự hơn Clara đúng một giáp, và tuổi thọ của Clara là 60, chẵn lục tuần (1193-1253), còn PXC hưởng dương tròn 45 năm (1181-1226). 

    2.Khác biệt về gia thế

2.1. Clara thuộc giai cấp thượng lưu trong xã hội phong kiến từ cả hai phía nội, ngoại. Những người quý tộc này tự coi mình là “những thiện nhân, quý nhân” (boni homines) hoặc “đại nhân” (homini majores), thân đế chế Đức Quốc đang cai trị phần lớn Italia, nên được đế chế ban cho đất phong, với nhiều quyền hành và bổng lộc. Dòng họ Offreduccio của Clara có nhiều đất đai và lâu đài: lâu đài gốc ở Coccorano cách Assisi khoảng 15 km về phía tây, và một lâu đài khác trong nội thành Assisi do ông nội Clara mới tậu vào đầu thế kỷ XII. Ngay bên ngoài tường thành Assisi về phía nam, người chú ruột của Clara, ông Scifione, có điền trang trồng nho và ô liu. Dòng họ có bảy hiệp sĩ, trong đó phải kể đến ông Favarone, thân sinh của Clara. Tất cả đều giàu có và đầy quyền lực.

2.2. PXC thuộc tầng lớp thương gia giàu có đang phất lên với sự hình thành các thành phố là những trung tâm buôn bán (thị trường gắn liền với thị tứ hoặc thành thị). Ông Pietro Bernardone, thân sinh của PXC, là một đại thương gia chuyên buôn bán vải quý: len, dạ, nỉ; và ông thường đi buôn xa, sang tận miền nam nước Pháp, nơi ông đã cưới người vợ là bà Picca. Ông là một thân hào nhân sĩ có cơ nghiệp đồ sộ (với những đồng cỏ chăn nuôi, những vườn ô-liu, đồng lúa, vườn cây ăn trái, sở điền trang, và nhiều bất động sản khác[17]. Ông lại có địa vị trong thị xã Assisi. Theo nhà biên niên sử Wadding, ông là “ân nhân và mạnh thường quân của thị xã”[18]. Về sự giàu có, ông không thua kém gì các lãnh chúa thượng lưu như gia đình Clara, nhưng về mặt xã hội, vì không mang dòng máu hiệp sĩ, nên ông vẫn bị coi là thuộc giai cấp hạ lưu (homines minores), thấp kém hơn giai cấp quý tộc. Thực ra tầng lớp thương nhân giàu có này, tuy bị giai cấp quý tộc coi là hạng người “trọc phú, hãnh tiến và cơ hội chủ nghĩa”, nhưng vẫn là những con người tự do, những thị dân đích thực, có quyền ăn nói trong xã hội thành thị và tham gia chính quyền. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, họ là giai cấp “tiểu tư sản”. Chính họ, vào năm 1198, đã huy động giới thủ công nghiệp của thành phố và giới nông dân từ nông thôn lên thành phố kiếm việc làm, thực hiện cuộc cách mạng, bằng cách san bằng pháo đài La Rocca chễm chệ trên đỉnh đồi Assisi, là đồn binh và biểu tượng của đế chế Đức quốc. Họ lấy đá xây tường bao quanh thành phố, xua đuổi giới quý tộc, sau khi phá đổ một số lâu đài của giới này, và thậm chí giết chết một vài “đại nhân”. Chính trong bối cảnh này gia đình Clara phải di tản sang Perugia, cách Assisi 15 km về phía tây. Hầu như chắc chắn chàng thanh niên PXC, lúc đó đã 17 tuổi, tham gia cuộc tấn công ấy và tập làm quen với nghề thợ nề khi xây tường thành. Không sử liệu nào nói PXC có tham gia đập phá lâu đài của cha mẹ Clara hay không. Một điều chắc chắn là PXC và Clara thuộc hai giai cấp xã hội rất chênh lệch và thù nghịch. Sau cuộc cách mạng “công xã” thành công, thị dân Assisi thừa thắng xông lên, để vào năm 1202 gây chiến với thành phố lân cận và cừu địch từ lâu đời, Perugia, nơi phần lớn các gia đình quý tộc Assisi đang tá túc. Nhưng Assisi thua trận. PXC bị bắt và cầm tù một năm. Bị nhiễm bệnh rốt rét. Rồi được bố bỏ tiền chuộc về. Năm 1205 một hòa ước sơ bộ được ký kết giữa hai thành phố. Công xã Assisi phải trả lại tài sản cho giới thượng lưu và tu sửa các lâu đài đã bị đập phá. Gia đình Clara hồi hương vào năm đó, lúc cô bé lên 12 tuổi, sau 7 năm lánh nạn tại Perugia[19].

3. Khác biệt về giáo dục và sinh hoạt thời trẻ tuổi

3.1. Là con trai trưởng của một gia đình trọc phú, háo danh, PXC nhận được một nền giáo dục thực tiễn và thực dụng: học đọc và viết tiếng Latinh trình độ cấp 1 tại trường Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Giócgiô, học các phép tính cộng, trừ, nhân, chia. Thổ ngữ Umbria thông dụng, thì tất nhiên mọi học sinh phải học và nói cũng như viết thông thạo[20]. Riêng PXC, có bà mẹ là người Pháp, nên biết thêm tiếng Pháp và nhiều bài hát bằng thứ tiếng của mẹ, mà anh chàng thích cất lên ngâm nga mỗi khi hứng chí. Trình độ La văn của PXC tạm đủ để đọc và nghe những văn bản phụng vụ, chủ yếu là Kinh Thánh, nhưng khá hạn chế, như người ta thấy được nơi một vài thủ bút còn lưu lại, trên đó có những lỗi chính tả và văn phạm[21]. -- Cha Esser còn đưa ra lời giải thích sau đây về cách PXC, trước khi qua đời, đọc di chúc cho một anh em chép: “Với kiến thức hạn chế về La ngữ của PXC, tôi khó tin rằng ngài đọc thẳng bằng tiếng Latinh cho anh em chép. Dường như chắc chắn ngài đọc bằng thổ ngữ Umbria, rồi một người anh em thông thạo La ngữ phiên dịch trực tiếp sang tiếng Latinh và chép lại bằng thứ tiếng này. Dịch vội vã như thế nên chẳng lấy gì làm văn vẻ.” Đây là di cảo ít trau chuốt nhất của PXC về phương diện văn chương.[22] -- Tuy ít học hành, nhưng nhờ tư chất hào hoa, lịch thiệp di truyền từ bà mẹ Pháp, và nhờ khiếu kinh doanh do ông bố Italia tài ba truyền thụ cho, PXC sớm trở thành một thanh niên hoạt bát, năng nổ, thành công trong công việc buôn bán và giao du với rất nhiều bạn bè trong giới trẻ vàng của phố núi Assisi. Tuổi trẻ chàng là lịch sử của ca hát, đàn địch, tiệc tùng, vui chơi, và lòng trí thì luôn đầy ắp những mộng công danh. Nói trắng ra: anh chàng có tham vọng trở thành hiệp sĩ, mà bàn đạp để tiến thân là tiền bạc của bố mẹ và những thành tích chiến đấu phải lập cho bằng được. Chàng thanh niên con nhà giàu, háo danh này đã có hai cơ hội tập dượt, đó là cuộc cách mạng công xã Assisi 1198 lúc chàng 17 tuổi, và cuộc chiến tranh với Perugia với kết cục bi thảm lúc chàng lên 21. Đời sống tôn giáo của PXC chỉ ở mức tầm thường: giữ đạo theo thói quen gia đình và môi trường giáo xứ trong thành phố. Vào năm 1205, khi hòa bình lập lại, khi Clara ở tuổi 12 đã trở về Assisi, chàng thanh niên PXC 24 tuổi, tuy thỉnh thoảng bị chứng bệnh sốt rét hành, vẫn kiên trì đeo đuổi mộng công danh, với ước mơ trở thành hiệp sĩ được phong tước tại chiến trường-mà trở thành hiệp sĩ, thì tất nhiên cũng phải cưới cho được một Người Đẹp tương xứng-, nên chàng đã nhập ngũ dưới ngọn cờ của Gauthier de Brienne, một Bá Tước gốc Pháp, chỉ huy đạo quân của ĐGH Innocentê III chống lại Hoàng Đế Đức đang lăm le lấn chiếm lãnh thổ của Giáo Hoàng ở miền trung Italia. Chính trong chuyến đi lập công đó, đã xảy ra một tiếng nói huyền bí của Chúa can thiệp vào cuộc đời PXC, khiến chàng thay đổi hướng sống, điều mà vào cuối đời chàng sẽ gọi là “ơn bắt đầu sống đời đền tội” (DC 1…).

3.2. Phía Clara, tuổi trẻ diễn ra khác hẳn và nền giáo dục nàng hấp thụ cũng rất khác. Ta có thể chia 19 năm tuổi trẻ của Clara (từ 1193 đến khi gia nhập phong trào Phan Sinh năm 1212) thành ba khúc:

-         1193-1198: năm năm tuổi thơ dưới mái ấm gia đình tại lâu đài nội thành Assisi.

-         1198-1205: bảy năm di tản sang Perugia (có lẽ ở lâu đài gốc của dòng tộc tại Coccorano, thuộc phạm vi Perugia) do cuộc cách mạng công xã và chiến tranh giữa Assisi và thành phố cừu địch này áp đặt.

-         1205-1212: từ 12 tuổi đến 19 tuổi, sống tại lâu đài Assisi.

Dầu ở tại Assisi hay Perugia (Coccorano), Clara luôn sống dưới mái ấm của một gia đình quý phái, giàu có, với một số đặc điểm như sau:

  1. Một dòng tộc thượng lưu thường sống thành đại gia đình, trong một lâu đài sang trọng, gồm nhiều thành viên thuộc nhiều chi và vài ba thế hệ, có nhiều tôi trai, tớ gái phục vụ và bảo vệ an ninh.
  2. Riêng về gia đình Clara, Hồ sơ phong thánh cho biết: ông thân sinh Favarone Offreduccio là một hiệp sĩ, vì hay vắng nhà-có thể do tham gia Thâp tự chinh?-, nên giao phó việc giáo dục ba cô con gái cho vợ là bà Ortolana, một phụ nữ quý phái và đạo đức. Ba ái nữ ấy là: Clara (trưởng nữ), Catarina (sau này được Thánh Phanxicô đổi tên thành Agnès) và Beatrice[23].
  3. Đối với con cái các gia đình vọng tộc, có gia sư đến dạy tại lâu đài “kín cổng cao tường”; nhiều khi gia sư là chính người trong dòng tộc. Về các môn học, ngoài ngôn ngữ địa phương Umbria, Clara được học La ngữ khá kỹ. Các di cảo sau này của Clara cho thấy trình độ La văn của cô cao hơn trình độ của PXC. Ngoài ra, các tiểu thư, cũng giống như PXC, được đọc các truyện cổ tích, truyện các Hiệp sĩ và tiếp cận các bài thơ, bài ca do những nghệ sĩ hát rong sáng tác và phổ biến. Bà mẹ đạo đức chắc chắn quan tâm đặc biệt tới việc dạy giáo lý cho con cái, với sách Kinh Thánh bằng tiếng La tinh phổ thông, truyện các Thánh và các bài giảng ca ngợi tình yêu thần bí mang tính chất hôn ước giữa linh hồn tín hữu với Thiên Chúa, được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ trữ tình rút từ sách Diễm ca. Trường phái linh đạo Xi-tô của Thánh Bênađô đi theo chiều hướng đó, và tạo ảnh hưởng sâu rộng trên các tầng lớp tín hữu vào cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII. Thân mẫu của Clara mang một cái tên đầy ý nghĩa: Ortolana bên tiếng La tinh có nghĩa chỉ một người đàn bà làm vườn. Bà đã chú tâm vun trồng những đức tính nhân bản và những giá trị Kitô giáo nơi mảnh vườn tâm hồn con cái. Bà cũng đã tạo điều kiện cho các ái nữ của mình học nghề nữ công gia chánh: thêu thùa, đan móc. Sau này, Clara, không chỉ do ảnh hưởng của Thánh PXC, mà còn do ảnh hưởng của thân mẫu từ tuổi thơ, sẽ đề cao giá trị của “ơn làm việc tay chân” (x. L Cl, ch. VI: cách thức làm việc), và trong gần 30 năm bị bệnh, nhiều khi chỉ nằm và ngồi trên giường, nhưng tay Clara vẫn siêng năng thêu thùa, đan móc, làm ra những chiếc khăn thánh và áo lễ đẹp cho các linh mục.

Ảnh hưởng của bà Ortolana trên các con là rất lớn. Điều đó dễ hiểu, vì, theo chứng từ trong Hồ sơ phong thánh, cũng như trong Hạnh Thánh Clara Trinh Nữ do Tôma Celano viết, “bà là người được nhắm sinh ra cho cánh đồng Giáo Hội một cây nhỏ dồi dào hoa trái, thì chính bà cũng mang đầy hoa thơm trái ngọt” (Cel Cl, 1). Đạo đức, tháo vát, và chắc hẳn cũng rất khỏe mạnh, vì bà đã từng đi hành hương kính viếng Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Mi-ca-e tại Gargano, miền nam Italia; kính viếng hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô tại Roma; và đến cả Thánh Địa để kính viếng quê hương của Thánh Gia Thất (x. Cel Cl 1). Cuộc hành hương đường dài này chắc là đã xảy ra năm 1192, trước khi sinh Clara[24]. Chính bà, khi sắp sinh con đầu lòng, đã vào Nhà Thờ cầu nguyện trước tượng Chúa Chịu Đóng Đinh…, và nghe tiếng Chúa phán: “Này bà, đừng sợ, vì bà sẽ hạ sinh bình an một ánh sáng còn chói lọi hơn chính ánh sáng”. Do đó bà đặt tên cho con gái là CLARA= SÁNG (x. Cel Cl 2).

  1. Một điểm rất khác biệt nơi cô thiếu nữ Clara so với chàng thanh niên PXC, là từ khi bắt đầu khôn lớn, cụ thể là trước và sau khi hồi hương về Assisi năm 1205, Clara cùng với bà mẹ đạo đức của mình, và có thể với cả một ít phụ nữ khác ở chung trong nhà, đã sống nếp sống mà thời Trung Cổ gọi là “đời sống đền tội” hoặc “đời sống hoán cải” ngay trong gia đình và giáo xứ, như nhiều nhóm phụ nữ đạo đức ở khắp châu Âu đã nêu gương trước cả thời đại PXC và Clara. Một cách nào đó họ mô phỏng theo nếp sống của cộng đồng Giáo Hội tiên khởi tại Giêrusalem (x. Cv 2, 42-47; 4, 32-35): cùng ở, cùng ăn, cùng cầu nguyện, cùng làm việc bác ái phục vụ người nghèo, và khích lệ nhau nên thánh ngay trong gia đình và giữa đời. Ông Favarone hay vắng nhà, thì mấy mẹ con lại càng có điều kiện thuận lợi để thực hiện nếp sống đạo đức ấy. Cha Anton ROTZETTER đã dành cả một chương để mô tả đời sống của Clara từ 1206-1212, tức là từ khi Clara trở về Assisi (1205) cho đến khi gia nhập phong trào Phan Sinh (lễ Lá 1212), và tác giả gọi Clara là “người phụ nữ sống đời đền tội” (Die Poenitentin)[25]. Hồ sơ phong thánh cũng như Hạnh Thánh Clara do Celano viết đều nêu lên những nét nổi bật sau đây về thiếu nữ Clara:

d1. Clara có gương mặt xinh đẹp, nhưng thích ẩn mình trong nhà, không muốn xuất hiện cho người ta nhìn thấy. Lý do sâu xa là cô đã chọn sống đồng trinh để thuộc trọn về Chúa Kitô. Cô quyết liệt và khéo léo từ chối mọi chương trình hôn nhân do gia đình sắp xếp hoặc do người nọ người kia trực tiếp cầu hôn.

d2. Cô ham thích cầu nguyện. Từ tuổi thơ đã có sáng kiến dùng một đống sỏi thay cho dây chuỗi để đếm Kinh Lạy Cha.

d3. Cô quan tâm tới người nghèo và có nhiều sáng kiến để chia sẻ của ăn và tiền bạc cho họ. Cô thích mặc áo vải thô như các tớ gái trong nhà, với ý muốn chia sẻ thân phận của họ.

d4. Cô sống khổ chế: năng ăn chay, mặc áo nhặm để hãm mình phạt xác.

d5. Cô thích nói chuyện thiêng liêng với mẹ và những người cùng chí hướng sống đời đền tội trong lâu đài của mình.

Với nếp sống như thế, không mấy chốc “tin tức về sự tốt lành của cô được đồn thổi trong dân chúng” (Cel Cl 4).

Như vậy, tuổi trẻ của Clara đã tỏa sáng nhân đức một cách khác thường, vì Clara đã đón nhận được tác động thánh của Thần Khí Chúa rất sớm. Theo kiểu nói của Celano: Clara được “Dầu Xức là Thần Khí dạy bảo” = “Spiritus unctione perdocta”(Cel Cl 4), tức là được tinh thần Chúa thúc đẩy từ tuổi thiếu thời. Còn tuổi trẻ của PXC đã trôi qua trong những hoạt động vụ lợi và hưởng thụ vì bị chi phối bởi tinh thần thế tục. Đúng là một sự khác biệt lớn giữa hai nhân vật.[26]  

4. Còn về cuộc hoán cải của mỗi người thì sao?

4.1. Quá trình hoán cải của PXC.

Các truyện ký thời sơ khởi của Dòng Anh em hèn mọn, khi kể lại quá trình hoán cải của PXC, đều làm nổi bật tầm quan trọng của tiếng nói Thiên Chúa hướng dẫn trực tiếp PXC thay đổi cuộc đời. Chỉ cần nhắc lại những tiếng nói tiêu biểu sau đây:

  1. Tiếng nói huyền bí đã đối thoại với PXC trong giấc chiêm bao tại Spoleto vào mùa xuân 1205 và truyền lệnh cho PXC: Hãy trở về Assisi, rồi sẽ được hướng dẫn tiếp. Sự kiện này rất quan trọng, vì PXC đã vâng lời tiếng nói đó, mà chàng hiểu là tiếng nói của Chúa, và đã từ bỏ mộng công danh muốn trở thành hiệp sĩ. Đây là một bước ngoặt quyết liệt trong đời chàng (x. BNB 6b; 2Cel 6b; ĐT 1,3d).
  2. Cuộc gặp gỡ người cùi, mà PXC sẽ nhắc lại minh nhiên trong những câu mở đầu Di Chúc (DC 1-3) đã được chuẩn bị trước bởi tiếng nói nội tâm, cũng là tiếng nói của Chúa, giải thích cho PXC phải đảo ngược kinh nghiệm sống: đừng tìm sự ngọt ngào của thú vui xác thịt và thế gian, nhưng tập chấp nhận những gì thế gian coi là đắng đót, thì chính ân sủng sẽ biến đổi sự đắng đót ấy thành ngọt ngào (x. 1Cel 17b; BNB 11a; 2Cel 9b; ĐT 1,5a). Tiếng nói này tiếp nối tiếng nói ở Spoleto, và hướng dẫn PXC đến gặp người cùi. Chính PXC xác nhận rằng “Chúa đã dẫn tôi đến với người cùi” (DC 2). Sau khi gặp và ôm hôn người bất hạnh, PXC xác nhận “điều trước kia đối với tôi là đắng đót (“mỗi khi trông thấy người cùi”: DC 1), đã trở thành ngọt ngào cho tôi trong tâm hồn cũng như ngoài thể xác” (DC 3).
  3. Lần thứ ba PXC nghe được tiếng nói nội tâm là, lúc đi đến gần nguyện đường Đamiano, vào một ngày của mùa thu 1205. Chính tiếng nói ấy thúc bách chàng đi vào nguyện đường để cầu nguyện (x. BNB 13c). Celano và Thánh Bonaventura thì hiểu tiếng nói đó là sự hướng dẫn hoặc thúc đẩy của Thần Khí (x. 2Cel 10; ĐT 2,1).
  4. Tiếng nói nội tâm ấy được tiếp nối ngay sau đó bởi tiếng nói xuất phát từ tượng Thánh Giá trong nguyện đường Đamiano, ra lệnh cho PXC tu sửa ngôi nhà của Chúa đang đổ nát (x. BNB 13c; 2Cel 10; ĐT 2,1). Tiếng nói thứ tư này có thể mang hình thức của một âm thanh khách quan, mà cũng có thể chỉ là một tiếng nói nội tâm như những lần trước. PXC đã vâng lời và bắt tay thi hành mệnh lệnh.
  5. Việc làm theo tiếng nói nội tâm qua ba kinh nghiệm: Spoleto, gặp người cùi và Đamiano, đã dẫn PXC đến tòa án của Đức Giám Mục Assisi vào mùa xuân 1206. Tại đây, PXC chấp nhận lời khuyên của Đức Cha Guiđô và làm theo tiếng nói khách quan của vị đại diện Giáo Hội. Hậu quả là: PXC đã từ cha ruột của mình, khước từ quyền thừa kế và trả lại cho ông tất cả tiền bạc, kể cả quần áo đang mặc (x. 1Cel 14-15; BNB 19-20; 2Cel 12b; ĐT 2,4).
  6. Kinh nghiệm quan trọng tiếp theo, là PXC nghe được tiếng nói khách quan của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm của ngày lễ thánh Tông đồ Matthias tại nguyện đường Portiuncula ngày 24/2/1208, về tác phong phải có khi đi rao giảng. Sau khi nghe vị linh mục đại diện Giáo Hội giải thích Lời Chúa, PXC từ bỏ nếp sống ẩn sĩ của ba năm qua, để bắt đầu nếp sống của một tông đồ rao giảng lưu động (x. 1Cel 22; BNB 25b; ĐT 3,1).
  7. Lời rao giảng và lối sống của PXC cuốn hút nhiều người. Chính Chúa dùng cách đó để “ban cho PXC một số anh em” đầu tiên (x. DC 14). PXC đã cùng với họ tìm ý Chúa bằng cách giở sách Phúc Âm ba lần tại Nhà Thờ Thánh Nicola vào ngày 17/4/1208 (x. 1Cel 24; BNB 28-29; 2Cel 15; ĐT 3, 3). Việc gặp được ba câu Phúc Âm về sự từ bỏ của cải (Mt 19,21), sự thanh thoát khi đi rao giảng (Lc 9,3) và sự từ bỏ mình, vác thập giá đi theo Chúa (Lc 9,23) được PXC coi như một hành động của “chính Đấng Tối Cao mặc khải cho mình biết phải sống theo mẫu mực Thánh Phúc Âm” (DC 14). PXC cùng với nhóm Anh em tiên khởi đã làm theo tiếng nói khách quan của Chúa Giêsu trong Phúc Âm.
  8. Bản Luật tiên khởi “đơn sơ, ngắn gọn” mà PXC nhờ Anh em viết ra, được ĐGH Innocente III phê chuẩn bằng miệng vào năm 1209 (x. DC 15). Tiếng nói khách quan của Chúa trong Phúc Âm được tiếng nói khách quan của Vị Đại Diện của Người ở trân gian xác nhận.

Qua các chặng đường chính yếu trên đây của cuộc hoán cải, PXC  luôn làm theo tiếng nói của Chúa: từ dạng tiếng nói nội tâm chủ quan (a+b+c) tới những dạng tiếng nói khách quan hơn của tượng Thánh Giá Đamiano (d), của Đức Giám Mục Guiđô (e), của Chúa Giêsu trong Phúc Âm tại Nguyện đường Portiuncula được củng cố bởi tiếng nói của một linh mục (f), và tại Nhà Thờ Thánh Nicola được củng cố bởi tiếng nói của ĐGH phê chuẩn bản Luật tiên khởi chủ yếu xây trên những câu Phúc Âm ấy (g+h).

Vào năm 1209, với bản luật tiên khởi được phê chuẩn, với số Anh em đang trên đà tăng trưởng mà PXC đặt cho tên gọi là “Nhóm Người Đền Tội Đến Từ Assisi”, chứ chưa phải là một Hội Dòng (x. BNB 37; KdP 19), và với phép rao giảng đời sống đền tội do ĐGH ban cho (x. 1Cel 33), cuộc hoán cải của PXC coi như đạt tới mức ổn định và lối sống của ngài được định hình một cách cơ bản. Số năm tháng còn lại chỉ là lịch sử phát huy ơn hoán cải của PXC và sự định hình chung cuộc của Huynh đệ đoàn sẽ mang tên gọi chính thức là “Dòng Anh em hèn mọn”, với bản Luật Dòng được thích ứng và cập nhật từng năm (x. Lksc), cho đến khi có Bản Luật chung cuộc được phê chuẩn long trọng bằng một sắc chỉ của ĐGH ngày 29-11-1223. Sự định hình này cũng xác định rõ ràng bản chất thừa sai truyền giáo “ad gentes” của Huynh đệ đoàn: đến với người Hồi giáo và các dân ngoại khác (Lksc ch. XVI; L XI,1-2). Một chi tiết đầy ý nghĩa, và lý thú là PXC xác định sứ mạng của Huynh đệ đoàn bằng câu: “Chúa đã sai Anh em đi khắp thế gian để Anh em dùng lời nói và việc làm mà làm chứng cho tiếng nói của Người (“voci ejus”)” (TTD 9), tiếng nói đã từng hướng dẫn PXC trong quá trình hoán cải, đưa ngài đến nhận thức về sứ mạng làm chứng cho tiếng nói đó, hiểu theo nghĩa khách quan là Kinh Thánh và Thánh Truyền được Huấn quyền của Giáo Hội giải thích; và làm chứng có nghĩa là rao giảng bằng hành động và đời sống trước khi rao giảng bằng lời nói (x. Lksc XVI, 6-7).

4.2. Quá trình hoán cải của Clara.

  1. PXC đã tự nhận định về cuộc hoán cải của mình bằng hai cụm từ: “khi tôi còn sống trong tội lỗi…” (DC 1), rồi “Chúa ban cho tôi bắt đầu cuộc đời hoán cải bằng cuộc gặp gỡ người cùi…, sau đó tôi chờ đợi ít lâu và ra khỏi thế gian” (DC 1-3). Ra khỏi thế gian có nghĩa cụ thể là từ bỏ đời sống tội lỗi của mình trong thế gian, từ bỏ đời sống bị chi phối bởi tinh thần thế tục và tinh thần xác thịt. Theo nghĩa tích cực, hoán cải là để cho đời sống của mình được thúc đẩy bởi “Thần Khí Chúa”, liên lỉ đặt mình dưới tác động thánh của Thần Khí Chúa (x. L X, 8).
  2. Phía Clara, như đã trình bày trên đây (x. 3.2.d), nàng đã sống dưới tác động thánh của Thần Khí Chúa liên tục từ tuổi thơ đến tuổi trẻ. Clara đã tỏa sáng nhân đức một cách khác thường. Chỉ có điều là Clara đang sống trong “thế gian” theo nghĩa thế giới xa hoa của giai cấp quý tộc giàu có và đầy quyền lực để thống trị kẻ khác. Trong Di Chúc, Clara chia cuộc đời mình thành hai giai đoạn: “sau cuộc hoán cải của chúng ta (“post conversionem nostram”)-cách phiên dịch “sự ăn năn trở lại của chúng ta” có vẻ không chính xác lắm và hơi nặng quá!-; và giai đoạn trước đó được mô tả bằng câu: “lúc chúng ta còn sống trong thế gian phù hoa đáng thương hại” (DC Cl 8). Clara không nói như PXC: “Khi tôi còn sống trong tội lỗi…” (DC 1), nhưng khi mở đầu Di Chúc, thì đề cập ngay tới “ơn kêu gọi của chúng ta” và nói thêm rằng “ơn kêu gọi ấy càng hoàn hảo hơn và càng cao trọng hơn (quanto perfectior et major est), chúng ta lại càng phải hết lòng tri ân Chúa Cha hơn” (DC Cl 2-3). Từ lời tự sự này, và dựa trên những gì chúng ta biết về tuổi trẻ của Clara, chúng ta có thể nói rằng Clara hiểu cuộc hoán cải của mình như bước tiến từ một ơn gọi chưa hoàn hảo và chưa cao trọng đủ mà nàng đã sống trong gia đình như “một phụ nữ sống đời đền tội”, lên một ơn gọi mới, hoàn hảo hơn và cao trọng hơn, mà nàng khám phá cho mình sau khi quen biết Thánh PXC. Celano, sau khi ghi lại sự kiện: người lân cận bắt đầu ca ngợi cô (Clara) và danh thơm tiếng tốt về các việc làm kín đáo của cô bắt đầu lan rộng” (Cel Cl 4), đã viết tiếp như sau: “Bấy giờ cô nghe nói tới PXC, khi đó đã nổi tiếng, như một con người mới (“velut novus homo’), với những nhân đức mới, đang đổi mới con đường hoàn thiện đã biến mất khỏi trần gian, tức khắc cô ước muốn được nghe ngài và gặp ngài” (Cel Cl 5). Chính khi làm theo “lời chỉ dạy của Cha Thánh PXC” (DC 4) Clara khám phá ra ơn gọi mới, “vừa hoàn hảo vừa cao trọng hơn” mà nàng gọi là “Ơn kêu gọi thánh thiện” (“vocatio sancta”: DC Cl 17). Như thế chúng ta thấy được rằng: khi trở thành “người Nữ Phan Sinh thứ nhất”, Clara cũng trở thành “người Phụ Nữ mới” song song với PXC. Chúng ta sẽ phải xác định nội dung của ơn gọi mới ấy.
  3. Bây giờ cần trả lời câu hỏi: trong tình bạn thiêng liêng giữa hai con người mới của Assisi, ai đến với ai trước?

c.1 Theo Celano, chính Clara, sau khi nghe nói về PXC, “tức khắc ước muốn được nghe PXC và gặp ngài”, ước muốn ấy là do Cha trên trời thôi thúc. Nhưng Celano dung hòa một cách khéo léo: “Từ nơi Cha trên trời, cả hai, tùy theo cách khác nhau, đều đã nhận được những soi sáng đầu tiên. Ước mong của PXC cũng không nhỏ, vì nhiều lần ngài đã nghe ca ngợi người thiếu nữ giàu có ân sủng như thế, nên ngài ước ao gặp cô và nói chuyện với cô, để xem có cách nào giựt khỏi thế gian xấu xa miếng mồi cao quý này mà dâng về cho Chúa…-Vậy ngài đã đến thăm cô, còn cô, cô đến thăm ngài nhiều hơn” (Cel Cl 5). Cuối cùng Celano xác nhận: PXC có sáng kiến tìm gặp Clara trước. Điều này hoàn toàn phù hợp với chứng từ của Béatrice, cô em gái út của Clara, đã đi theo chị cả vào tu tại Đan viện Đamianô, sau Catarina, tức Agnès, em kế Clara. Beatrice khai: “Sau khi nghe biết tiếng đồn thổi về sự thánh thiện của chị Clara, Thánh Phanxicô đã năng đến nói chuyện với chị. Nhờ vậy mà Trinh Nữ Clara nghe theo lời giảng dạy của Cha Thánh, đã quyết định từ bỏ thế gian và mọi sự thuộc về thế gian, để dâng mình phụng sự Thiên Chúa càng sớm càng tốt”[27].

c.2 Thời gian hai người nghe nói về danh thơm tiếng tốt của nhau, chắc chắn là sau năm 1205, năm mà Clara, 12 tuổi, từ Perugia trở về lại Assisi, và cũng là khởi đầu quá trình hoán cải ngoạn mục của PXC. Ít nhất Clara đã biết cuộc xét xử công khai tại Toà Giám mục vào đầu năm 1206, vì nhà cô chỉ cách Toà Giám mục khoảng 500 mét. Một chuyện động trời như thế, chắc chắn cả thành phố, vốn không lớn bao nhiêu và thường rất yên tĩnh, đều phải biết và bàn tán nhiều. Phía PXC, trong gần ba năm sống đời ẩn sĩ, đã tu sửa ít nhất ba nguyện đường: Đamiano, Portiuncula và Thánh Phêrô tại Valle. Năm 1208, từ lễ Thánh Mattias 24-2: ngài bắt đầu đi giảng lưu động, có những anh em đầu tiên đến chia sẻ đời sống, rồi ngài cùng đi Roma với anh em để xin ĐGH phê chuẩn Luật Dòng năm 1209. Sau bốn năm, cuộc hoán cải ngoạn mục của PXC coi như đạt mức độ ổn định và “Nhóm những người sống đời đền tội đến từ Assisi” -và họ sống cùng hoạt động giữa đời- đang được định hình. Trong thời gian bốn năm đó, Clara đi vào tuổi con gái đang lớn, nhưng tiếp tục sống nếp sống đền tội với bà mẹ đạo đức và một ít phụ nữ trong lâu đài kín cổng cao tường của mình. Danh thơm tiếng tốt của cô gái đang tiến hóa từ tuổi 12 đến tuổi 16 bắt đầu lan rộng (Cel Cl 5). Chắc hẳn PXC nghe tiếng đồn về sự thánh thiện của Clara trong thời gian đó.

c.3 Có một sự kiện cần tìm hiểu kỹ hơn: đó là lời tiên tri của PXC về nhóm phụ nữ sẽ được Chúa kêu gọi đến sống “ơn gọi thánh thiện” tại đan viện Đamianô mà ngài đang xây dựng, bên cạnh nhà nguyện ngài được lệnh tu sửa (DC Cl 9-10. 12). Lời tiên tri ấy được Clara ghi lại trong Di Chúc (DC Cl 6-14), với những đặc điểm như sau:

+ Thời điểm là “hầu như ngay sau khi PXC trở lại (tức hoán cải) và vào lúc ngài chưa có anh em hay bạn đồng hành” (DC Cl 9). Chúng ta có thể hiểu cụ thể là sau cuộc xét xử tại Toá Giám mục đầu năm 1206, vì đối với Clara và nhiều người dân Assisi, đó là mốc điểm công khai của cuộc trở lại ngoạn mục của PXC, và cũng chắc chắn trước năm 1208 là lúc PXC có những anh em đầu tiên. Cứ cho đi trong năm 1206-1207.

+ PXC “múc” lời tiên tri ấy từ đâu? Chắc hẳn là từ một tiếng nói nội tâm, mà PXC đã quen nghe, nhất là từ tiếng nói của Đấng Chịu Đóng Đinh trên tượng Thánh Giá Đamianô. Theo cách hiểu của bốn Vị Tổng Phục Vụ năm 1991, chính Chúa Giêsu, sau lệnh tu sửa nhà nguyện, đã nói cho PXC biết sẽ có một nhóm nữ tu đến sống tại đây, và như thế PXC không chỉ phải tu sửa nhà nguyện (x. DC Cl 10 và 12), mà còn phải xây dựng một đan viện sát bên cạnh cho nhóm nữ tu ấy (DC Cl 13) (x. T4TPV số 2 và 25). Khi PXC nói tiên tri như thế thì đã quen biết và tiếp xúc với Clara chưa, hay ít nhất đã nghe tiếng đồn về sự thánh thiện của cô ấy chưa? Giả thuyết sau chắc có cơ may đúng sự thật hơn.

-c.4 Một sự kiện thứ hai được cô Bona GUELFUCCIO, một người bà con của Clara, cùng ở trong nhà với Clara, làm chứng. Cô này cho biết cô hay được Clara giao cho nhiệm vụ mang đồ ăn do Clara kiêng nhịn, đến cho người nghèo bên ngoài lâu đài; và một lần nọ, khi còn ở trong thế gian, Clara trao tiền cho cô ấy mang đến cho PXC và các anh em đang làm nhà tại Portiuncula để họ mua thịt. Theo cha Carlo PAOLAZZI, thời điểm đó là khoảng trước năm 1211, sau khi PXC và Anh em từ Roma về, tạm trú ngắn hạn tại Rivotorto, rồi đến định cư tại Porziuncula. Những người nhận tiền là chính PXC và nhóm Anh em. Họ phải làm thêm những cái chòi để ở, bên cạnh nhà nguyện Đức Bà các Thiên Thần do chính PXC tu sửa một mình trong thời ẩn sĩ (1206-1208). Và có lẽ đây là lần đầu tiên Clara tiếp xúc – gián tiếp– với PXC và Anh em  qua việc giúp đỡ vật chất[28].

  1. Cuộc hoán cải của Clara, theo nghĩa cụ thể là ra khỏi thế gian để gia nhập phong trào Phan Sinh, đã được chuẩn bị bởi những cuộc gặp gỡ diễn ra trong các năm 1210-1212 giữa PXC và Clara, trong đó PXC có sáng kiến làm bước trước. Về mục này, Hạnh Thánh Clara của Celano cũng như Hồ sơ phong thánh cung cấp khá nhiều thông tin.

d.1 Chính cô Bona làm chứng rằng cô đã nhiều lần tháp tùng Clara đến gặp PXC cách âm thầm kín đáo, để gia đình Clara không biết chuyện. PXC thì luôn đem theo Anh Philip Dài. Anh này hay chủ động tiếp lời vào với PXC để động viên Clara bỏ thế gian đi theo Chúa[29]. Theo Celano, Clara chọn PXC làm vị hướng dẫn thiêng liêng, tức linh hướng, sau Thiên Chúa (Cel Cl 5-6).

d.2 Về ngày G, ngày hành động quyết liệt, chính PXC và Nhóm Anh em ở Portiuncula đã lên kế hoạch rất chu đáo. Đừng quên rằng trong nhóm này, có anh Rufino, con ông chú ruột của Clara, túc là em họ của Clara. Chắc hẳn anh là một người “giao liên” rất quý báu và hữu hiệu. Theo Celano, chính “cha PXC truyền lệnh cho Clara, vào ngày Lễ Lá năm 1212 (17/3), phải mặc trang phục đẹp, cứ đi nhận cành lá với dân chúng, rồi trong đêm kế đó cô ra khỏi trại (Dt 13,13)”. Cách nói bóng bảy của Celano có nghĩa là cô rời lâu đài của dòng họ. Trong Thánh Lễ hôm đó xảy ra sự cố: Clara dường như e lệ kín đáo, cứ đứng tại chỗ, khiến Đức Giám Mục Guiđô phải bước xuống bậc cung thánh, tới tận chỗ, trao cành lá cho cô. Về cuộc thoát ly táo bạo của Clara, Celano mô tả khá chi tiết, nhưng đã bị một số dịch giả hiểu hơi khác. “Đêm sau, sẵn sàng vâng lệnh Thánh nhân, -hai lần Celano nói tới mệnh lệnh của PXC!- cô thực hiện cuộc trốn thoát đã từng ấp ủ, với một sự tháp tùng lương thiện” (“cum honesta societate”), mà bản Việt ngữ đã dịch thành “với một cô bạn tốt lành”. Cha Anton ROTZETTER cũng hiểu như vậy, và còn nói rõ: cô bạn ấy là Pacifica, em ruột của cô Bona đã được nhắc tới vài lần[30]. Tuy nhiên một số học giả tầm cỡ, như Marco BARTOLI và Nữ tu Dòng Nhì Chiara LAINATI lại hiểu rằng tối hôm đó Clara trốn thoát một mình, “với một sự tháp tùng lương thiện”, do PXC và Anh em đã lên kế hoạch: “họ cầm đuốc cháy ra đón trinh nữ Clara” (Cel Cl 8) không chỉ tại Porziuncula, mà đến tận nhà Clara, ngay gần “cổng thoát hiểm” là cổng phụ của lầu đài. Chính Celano viết: “cô đã tự tay, với sức mạnh chính cô nhận thấy là lạ lùng, mở được một cửa thứ hai đã bị những thanh gỗ và các khối đá chắn lối” (Cel Cl 7). Không có cô bạn tốt lành nào tiếp tay với Clara cả!

d.3 Tại nguyện đường Đức Bà các Thiên Thần, PXC và anh em cắt tóc cho Clara và cô vĩnh viễn trút bỏ tất cả các món trang sức nhiều màu nhiều vẻ, để nhận lấy chiếc ào dòng nâu nghèo khó, biểu tượng của đời sống đền tội (Cel Cl 7).

d/4 Sau nghi thức PXC tiếp nhận Clara vào nếp sống vâng lời PXC, và Clara hứa vâng lời PXC (x. L Cl 1, 4; DC Cl 25), -nghĩa là trong thời gian đầu, PXC là bề trên của Clara và các chị em khác-, chính PXC và một ít anh em đưa Clara tới Đan Viện Nữ Biển Đức gọi là Đan viện Thánh Phaolô của các Viện Mẫu tại Bastia (cách Assisi khoảng 4 km). PXC đã sắp xếp trước để gửi tạm Clara tại đây. Đan viện này rất giàu có và được ĐGH ban cho nhiều đặc ân, ví dụ Đan Viện có quyền chứa chấp những người bị săn lùng mà không quyền bính nào có thể vào bắt. Chính vì thế, chỉ vài ngày sau đó, khi ông bác Monaldo là tộc trưởng đem đoàn người hung hãn đến bắt Clara, để đưa về nhà, thì Đan Viện không phản ứng gì cả, vì nghĩ rằng đã có đặc ân “bất khả xâm phạm”. Khi họ đột nhập vào nhà thờ Đan Viện, một mình Clara phải đối phó quyết liệt. Nàng nắm lấy khăn bàn thờ và tay kia lột tấm lúp che đầu, để mọi người thấy Clara đã xuống tóc và được thánh hiến cho Thiên Chúa rồi. Họ đành chịu thua và rút lui có trật tự (Cel Cl 9). Tại đây, Clara xin được làm một tớ gái phục vụ, chứ không xin vào tu, vì Clara không có của hồi môn nữa để nộp cho Nhà Dòng theo thông lệ, bởi lẽ nàng đã bán hết tài sản của mình, phân phát cho người nghèo theo lời Chúa khuyên trong Phúc Âm, và theo lời nhắc nhở của Cha Thánh PXC. Về điểm này Clara cũng muốn noi gương Cha Thánh, sau khi khước từ quyền thừa kế, đã vào xin làm đầy tớ giúp việc một thời gian trong một Đan Viện nam Biển Đức gần Gubbio.

d.5 Sau vài ba ngày, Cha Thánh cùng với anh Benađô Quintavalle và anh Philip Dài  đưa Clara đến tá túc tại Nhà Thờ Thiên Thần ở Panzo, trong một cộng đoàn gồm những phụ nữ đạo đức cùng nhau sống đời đền tội, cùng ăn, cùng ở, cùng cầu nguyện, cùng làm việc bác ái phục vụ người nghèo và các bệnh nhân. Chính tại đây, Catarina em kế của Clara đến xin đi tu với chị, mà chính Clara cũng tha thiết cầu nguyện cho em được ơn cao quý đó. Đúng 16 ngày sau khi chị Clara trốn khỏi nhà, Catarina cũng liều lĩnh trốn đi như vậy. Lần này bác Ronaldo dẫn đầu toán người lực lưỡng của Dòng tộc, quyết ăn thua với cô bé một cách hung hãn hơn nữa. Nhưng Chúa đã làm một phép lạ, cứu Catarina bằng cách làm cho người cô nên nặng trịch như chì, khiến toán người kia không khiêng cô nổi. PXC đổi tên Catarina thành Agnès.

d.6 Đầu tháng 5/1212 chính PXC dẫn hai chị em Clara+Agnès từ Panzo đến Đan viện Đamianô do PXC và anh em xây ráp thêm vào nguyện đường. Đây là chặng cuối cùng ổn định đời sống cho Clara+Agnès và những chị em do Chúa ban cho Clara (X. DC Cl 31). Đời sống của chị em tại đây được tổ chức theo “Lối sống” (forma vitae) đơn sơ, ngắn gọn do PXC viết cho chị em, có lẽ tương tự như bản luật tiên khởi của Anh em. Mục đích là để chị em mãi mãi kiên trì trong thánh đức nghèo khó (x. DC Cl 33). Chính tại đan viện Đamianô, Clara đã sống 41 năm đời sống dâng hiến trong chiêm niệm và lao động. Vào năm 1224, lúc PXC nhận được năm Dấu Thánh của Chúa Kitô chịu đóng đinh, thì Clara cũng ngã bệnh, một cách nào đó chịu đóng đinh vào giường bệnh cho đến khi lìa đời vào ngày 11-08-1253.

Những chặng đường trong cuộc hoán cải của Clara đã bắt đầu cho thấy căn tính của ngài là “người Nữ Phan Sinh thứ nhất” và “người phụ nữ mới”. Đó là:

-         Một người phụ nữ tự do: không chấp nhận khuôn mình vào lề thói của dòng tộc, nhất là trong vấn đề hôn nhân. Sống trên nhung lụa của dòng tộc quý phái, mà lại muốn chứng tỏ tình liên đới với những người đầy tớ phục vụ trong lâu đài cũng như với mọi hạng người nghèo bên ngoài lâu đài.

-         Một người phụ nữ mạnh mẽ: dám đương đầu với nguy hiểm và sự chống đối của gia đình.

-         Một người phụ nữ khôn ngoan, như cô Bona làm chứng: “Khi gia nhập đời sống tu trì, Clara đã là một cô gái trạc 18 tuổi, mà khôn ngoan chững chạc (x. chứng từ 17,4).

-         Một người phụ nữ mới: vì được PXC, “con người mới với những nhân đức mới” (Cel Cl 5), hướng dẫn vào “con đường là chính Con Thiên Chúa” (DC Cl 5), Đấng “trong suốt cuộc đời trần gian đã không bao giờ muốn xa rời thánh đức nghèo khó” (DC Cl 35). Cùng với PXC, Clara góp phần canh tân con đường hoàn thiện (Cel Cl 5) bằng cách sống Phúc Âm triệt để trong Giáo Hội (L Cl 1,1). 

Những nét căn tính này sẽ còn được tô đậm gấp bội trong 41 năm tiếp theo tại đan viện Đamianô, là thời gian làm chín muồi nhân cách nhân bản và thiêng liêng của một vị thánh. Những khía cạnh này sẽ được triển khai trong bài B, bổ túc cho bài A này.

Bây giờ nhìn lại quá trình hoán cải của hai vị Thánh đồng hương, chúng ta có thể ghi nhận một số điểm dị đồng sau đây:

  1. Nơi PXC tiếng nói nội tâm đóng một vai trò rất quan trọng, trước khi PXC nghe được tiếng nói khách quan của Phúc Âm và của Giáo Hội, còn nơi Clara các sử liệu không nhắc tới một tiếng nói nội tâm nào. Clara đi vào đời sống hoán cải là “nhờ gương sáng và lời dạy của Cha Thánh PXC (x. DC Cl 24). “Chính Chúa Kitô và Cha Thánh PXC đã dạy bảo chúng tôi ngay từ thuở chúng tôi mới trở lại, là bước theo con đường của thánh đức đơn sơ, khiêm nhường và nghèo khó, sống lành thánh cho xứng hợp” (DC Cl 56-57). Chính tiếng nói khách quan của Chúa Kitô trong Phúc Âm và tiếng nói của Cha Thánh PXC hướng dẫn Clara sống đời hoán cải. Sau này sẽ có thêm tiếng nói khách quan của ĐGH và ĐHY Bảo trợ.
  2. Một điểm dị biệt quan trọng khác là: cuộc hoán cải của PXC đòi hỏi PXC từ bỏ đời sống tội lỗi giữa thế gian, để ra khỏi thế gian, bước theo dấu chân Chúa Kitô nghèo khó khiêm nhường. Cuộc hoán cải của Clara là một bước mới, tiến từ đời sống đạo đức tốt lành trong gia đình lên một ơn gọi thánh thiện, hoàn hảo hơn, đó là sống Phúc Âm triệt để trong Giáo Hội. 
  3. Ân sủng đã thăng hoa con người tự nhiên của hai vị Thánh: PXC năng nổ, hoạt bát giữa đời và thích ca hát, thì được Chúa biến thành người rao giảng lưu động và ca ngợi lòng nhân hậu của Thiên Chúa và vẻ đẹp của thiên nhiên. Clara, quen sống ẩn kín từ thuở nhỏ, được Chúa biến thành một nhà chiêm niệm trong nội vi. 
  4. Hai vị Thánh, thuộc hai giai cấp xã hội rất chênh lệch và thù nghịch, đã thực hiện được một cuộc hòa giải sâu sắc bằng cách khước từ ý thức hệ công xã (PXC) và ý thức hệ thượng lưu quý phái (Clara), -cả hai ý thức hệ đều có mẫu số chung là chạy theo tiền bạc và quyền lực-, để thiết lập một tình huynh đệ chân thực và bền vững xây trên Phúc Âm.  

Phi Khanh Vương Đình Khởi, ofm

Thủ Đức 27/12/2009

 

 

 



[1] Đó là danh hiệu do cha Anton ROTZETTER, OFMCap chọn cho Clara, trong quyển sách “Klara von Assisi. Die erste franziskanische Frau” (Clara Assisi. Người Nữ Phan sinh thứ nhất). Herder. Freiburg im Breisgau 1993.

[2] Đó là đầu đề lá thư chung của bốn Vị Tổng Phục Vụ đứng đầu Gia Đình Phan Sinh quốc tế đề ngày 19-05-1991, mời gọi toàn thể Gia Đình Phan Sinh hướng về lễ kỷ niệm 800 Năm Ngày Sinh của Thánh Clara Assisi (1193-1993). Tuy có trong tay hai bản dịch tiếng Anh và tiếng Pháp, chúng tôi ưu tiên quy chiếu về bản tiếng Anh, vì dễ tiếp cận hơn đối với đa số Anh em trong Tinh Dòng: “Saint Clare of Assisi, A New Woman” (The Franciscan Press). Trong bài học này, lá thư được trích dẫn dưới ký hiệu “T4TPV” (=Thư 4 Tổng Phục Vụ). Và các tác phẩm của Thánh Phanxicô, của Thánh Clara cũng như các Nguồn Phan Sinh được trích dẫn theo hệ thống viết tắt do Anh Norbert Nguyễn Văn Khanh, OFM đề nghị.

[3] Clara tự xưng mình 4 lần như thế: x.  L Cl 1,3; DC Cl 37; 49; CL Cl 6. Sách Những bông hoa nhỏ (Fioretti = Nbhn), chương XV, gọi Clara là “cây nhỏ bé thiêng liêng của Cha Thánh”.

[4] Xem 1 Cel 116c; ĐT 4,6d; Góp Nhặt 13; GTL 108a; Nbhn, ch. XV. ĐGH Innocentê IV trong sắc dụ Gloriosus Deus (Thiên Chúa Hiển Vinh) ngày 18-1-1253 ví von Clara như “cây thảo thiên quốc” (x. Fonti Francescane năm 2004, số 2921b).

[5] Soror 2 lần: L Cl 1,5; CL Cl 6)

[6] Ancilla 7 lần = 5 lần vời Agnès Praha:  1 T Ag 2. 32; 2 T Ag 2; 3 T Ag 2; 4 T Ag 2; + 2 lần với các chị em nói chung: DC Cl 37. 79).

[7] Mater 6 lần = 3 lần với Agnès Praha: 4 T Ag 5. 33. 37; + 3 lần với Chị em nói chung: DC Cl 79; CL Cl 6.13.

[8] Xem Sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ Phan Sinh bằng tiếng Ý, Lễ Thánh Clara 11/8: Thánh Thi Kinh Sách, khúc 3: primogenita figlia del santo Poverello.

[9] Xem Sách vừa dẫn (Svd), Kinh Sách, Đáp ca sau Bài đọc 2. ĐGH Gioan Phaolô II gọi Thánh Clara là “môn đệ đầu tiên của Thánh Phanxicô” trong lời phát biểu tại cuộc gặp gỡ đầu tiên các Đại Diện của các tôn giáo lớn trên thế giới ở Assisi ngày 27-10-1986: x. T4TPV tr. 38. Anh Tổng Phục Vụ José CARBALLO củng viết: “Thánh Clara là người môn đệ đi theo Thánh Phanxicô trung tín nhất”, trong Thư đề ngày 11-08-2004, Prot. 094688: Thánh Clara Assisi và thời đại hôm nay. Một con tim được Chúa quyến rũ và chiếm đoạt, tr. 4.

[10] Xem Góp Nhặt 131; GTL ch. 108a.

[11] Xem Svd tại cước chú 8, Kinh Chiều, Điệp ca Magnificat. Hồi năm 1255 Tôma Celano đã gọi Clara là “vị Thầy” hoặc “Giám Sư” của Chị Em (x. Cel Cl số 45).

[12] Xem Lời Kinh ở cuối lá thư 11-08-2004 của Anh TPV José CARBALLO, OFM, Svd ở cước chú 9. Trước đó, Anh TPV Giacomo BINI, OFM, trong lá thư ngày 11-08-2002 “Clara Assisi, một bài ca chúc tụng”(để kỷ niệm 750 Năm ngày qua đời của Thánh nữ, cũng như 4 Vị TPV của Gia Đình Phan Sinh quốc tế, trong lá thư “Thánh Clara Assisi, Một Người Phụ Nữ Mới”(đã nhắc tới tại cước chú 1), đều gọi Thánh Clara là “Mẹ và Chị của chúng ta”, mọi thành viên cú Gia Đinh Phan Sinh.

[13] Xem Sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ Phan Sinh, Svd tại cước chú 8 và 9: Thánh Thi Kinh Sáng, Khúc 1.

[14] Xem Fr. Carlo BOTTERO, Assisi una città e la sua eredità di pace, trong Kỷ yếu  ASSISI, Profezia de Pace. 27 ottobre 1986. Seconda edizione 1989, tr. 22.

[15] Xem Bản dịch tiếng Pháp: Claire d’Assise, “Femme Nouvelle”,chú thích ở trang 44.

[16] Xem Huấn từ bộc phát của ngài chiều ngày 12-03-1982 tại Đan Viện Thánh Clara , Assisi, trích dẩn trong T4TPV, số 1.

[17] Xem A. FORTINI, Tân truyện Thánh Phanxicô, Assisi 1959, I tr. 143. Trích dẫn trong Eloi LECLERC, Phanxicô Assisi trong luồng gío lịch sử, bản Việt ngữ, tr. 23-24.

[18] Xem Eloi LECLERC, sđd, tr. 24

[19] Theo Anton ROTZETTER, Sđd, tr. 37-38.

[20] Chúng ta còn giữ được Bài Ca Anh Mặt TrờiBài Ca gửi các Chị Em Thánh Clara do Thánh PXC sáng tác bằng thổ ngữ Umbria.

[21] Đó là hai thủ bút (lưu bút) mang Bài Kinh Ngợi Khen Thiên Chúa Tối CaoLời Chúc lành cho Anh Lêô; Thư gửi Anh Lêô.

[22] Xem Kajetan ESSER, OFM, Das Testament des Heiligen Franziskus von Assisi. Eine Untersuchung ueber seine Echtheit und seine Bedeutung (Di Chúc của Thánh Phanxicô Assisi. Một công trình nghiên cứu về tính xác thực và ý nghĩa của di cảo này). Muenster 1949, tr. 118

[23] Xem T4TPV, số 7.

[24] Xem Anton ROTZETTER, Sđd, tr. 33-35.

[25] Xem Anton ROTZETTER, Sđd, tr. 40-56.

[26] Phần này: dực theo Celano (Cel Cl 1-4) và Anton ROTZETTER, Sđd, chương II, tr. 40-56.

[27] Xem Hồ sơ phong thánh, chứng từ 12,2, trong Anton ROTZETTER, Sđd, tr. 67.

[28] Xem Fonti Francescane 2004, tr. 1886, cước chú 101.

[29] Xem Chứng từ 16, 3; 6, 1, trong Anton ROTZETTER, Sđd, tr. 72-73.

[30] Xem Sđd, tr. 75.