Xin ngợi khen Cha vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. |
| Tài liệu nguồn |
| Linh đạo |
| Giám tỉnh |
| Phúc âm hóa |
| Góc suy tư |
| Lịch phụng vụ |
| Cầu nguyện |
| Hỏi - đáp |
| Thư mục |
| Tìm kiếm |
| Bài thường huấn số 01-2010 |
|
ƠN GỌI TRUYỀN GIÁO Trong phần nhập đề của Văn kiện chung kết, Tổng Tu Nghị Dòng Anh Em Hèn mọn 2009 đã khẳng định: “Chủ đề của Tổng Tu Nghị là sứ vụ phúc âm hóa,”[1] và sứ vụ Phúc âm hóa thuộc về mọi thành phần của Giáo hội do quyền, chứ không phải do chuyển nhượng như một ân huệ.[2] Khẳng định đó cho thấy mối quan tâm của Tổng Tu Nghị đối với sứ vụ truyền giáo của Hội dòng nói chung, cách riêng của các Tỉnh dòng và của mỗi anh em. Văn kiện Chung Kết TTN 2009 không có mục đích mô tả hiện tình truyền giáo của Hội dòng, nhưng là một tài liệu mang tính gợi hứng và là “tiêu chuẩn để lượng giá và định hướng cho đời sống và sứ vụ loan báo Tin Mừng của chúng ta.”[3] Bởi thế, chúng ta cần lưu ý đến lời mời gọi và nhận định sau đây của cha Tổng phục vụ cũng như Tổng Tu Nghị: - “Chúng ta cần đối chiếu đời sống chúng ta với nội dung văn kiện,” - “Có nhiều trì trệ và chướng ngại vật chúng ta dựng lên chống lại ân sủng,”[4] - “Chúng ta cần tự phê bình, bằng cách tự hỏi phải chăng tình trạng bất động và bế tắc có nguy cơ làm tê liệt mọi việc phúc âm hóa năng động, là dấu chỉ một cuộc khủng hoảng đức tin đang ảnh hưởng đến một số người trong chúng ta.”[5] Qua những lời đó, chúng ta cũng thấy được chủ ý của Tổng Tu Nghị, đó là mời gọi chúng ta đánh giá lại sứ vụ truyền giáo của chúng ta và vạch ra những con đường truyền giáo thích hợp với bối cảnh của Tỉnh dòng và của từng anh em. Trong chiều hướng hướng đó, bài thường huấn đầu tiên của năm 2010 muốn đề cập đến Ơn gọi Truyền giáo như là nền tảng của ơn gọi Phan sinh. Ơn gọi này là ơn gọi chung của toàn thể Giáo hội mà chúng ta là thành phần. Ơn gọi này bắt nguồn từ gốc rễ sâu xa của Tin Mừng, mà chúng ta đón nhận như một quà tặng; đồng thời cũng là một đòi hỏi của đức tin mà chúng ta có nhiệm vụ chia sẻ cho người khác.[6] Chúng ta sẽ dựa trên giáo huấn Giáo hội và văn kiện chung kết để tìm hiểu hai khía cạnh sau đây của ơn gọi truyền giáo: - Giáo hội tự bản chất là truyền giáo. - Tin Mừng: một quà tặng để chia sẻ. I. Giáo hội tự bản chất là truyền giáo Do bản chất, Giáo hội lữ hành mang tính truyền giáo. Tính chất đó bắt nguồn từ sứ mệnh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, theo ý định của Chúa Cha là muốn cho mọi người được tham dự vào sự sống thần linh (Sắc lệnh Truyền Giáo, số 2). Tuy nhiên, ơn gọi truyền giáo của Giáo hội không chỉ phát xuất từ lệnh truyền của Chúa Cứu Thế, “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19), mà còn phát xuất từ đòi hỏi sâu xa của đời sống Thiên Chúa nơi chúng ta (x. Sứ Vụ Đấng Cứu Thế, số 11). Qua hai trích dẫn trên đây, chúng ta có thể thấy ơn gọi truyền giáo của Giáo hội liên kết chặt chẽ với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. 1. Nền tảng Ba ngôi Để thực hiện ý định yêu thương của mình, Chúa Cha đã sai Con của Người vào thế gian để cho con người được thông phần vào sự sống Thiên Chúa. Người cũng sai Thánh Thần đến để tiếp tục và hoàn tất công trình cứu độ đã khởi sự nơi Đức Kitô (x. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Chúa Thánh Thần trong đời sống Giáo Hội và Thế Giới (1986), số 3.8). Trong vai trò Đấng Bảo Trợ, Chúa Thánh Thần hiện diện giữa Giáo hội như thầy dạy của Tin Mừng mà Đức Giêsu đã công bố. Chúa Thánh Thần dạy các môn đệ mọi điều và làm cho họ nhớ lại mọi điều Đức Giêsu đã dạy (Ga 14, 26). Theo Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, “dạy” và “làm cho nhớ lại” không chỉ có nghĩa Chúa Thánh Thần tiếp tục thúc đẩy các môn đệ loan truyền Tin Mừng cứu độ, nhưng còn giúp dân chúng hiểu đúng nội dung sứ điệp của Đức Kitô trong bất cứ hoàn cảnh nào (x. Thông điệp Chúa Thánh Thần trong đời sống Giáo Hội và Thế Giới, số 4). Chính Người cũng đã khẳng định trong Thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế: “Chúa Thánh Thần là tác nhân chính trong toàn bộ sứ vụ truyền giáo của Giáo hội… là Đấng chủ động trong sứ vụ truyền giáo” (số 21-30). Như vậy sứ vụ truyền giáo của Giáo hội nối dài sứ vụ của Ba Ngôi. Đó không phải là sáng kiến của con người, nhưng là một ơn gọi, một quà tặng của Thiên Chúa Ba Ngôi mà tất cả tín hữu trong Giáo hội phải vận dụng mọi khả năng để làm cho quà tặng đó triển nở cách viên mãn. Các Kitô hữu thực thi sứ vụ truyền giáo của Giáo hội bằng cách nào? 2. Những hình thức truyền giáo Căn cứ trên sắc lệnh Truyền Giáo và thông điệp Sứ Vụ Đấng cứu Thế, chúng ta có thể kể ra hai phạm vi của sứ vụ truyền giáo: a. Đến với muôn dân (Ad Gentes) Sứ vụ đến với muôn dân bao gồm việc loan báo Tin Mừng cho những người ngoài Kitô giáo để họ tin nhận Đức Giêsu là “Đường, sự Thật và sự Sống” (Ga 14,6). Người là quà tặng cứu độ và yêu thương mà Thiên Chúa ban cho mọi người (x. Sứ Vụ Đấng cứu Thế, số 44). Mục tiêu của việc loan báo Tin Mừng là để họ sám hối theo tinh thần Kitô giáo, tức là liên kết hoàn toàn và chân thành với Đức Kitô và Tin Mừng của Người… và sống theo Thần Khí (x. SVĐCT số 46). b. Xây dựng Giáo hội Thông điệp Sứ Vụ Đấng cứu Thế, khẳng định: “Mục đích của sứ vụ đến với muôn dân là thiết lập các cộng đoàn Kitô hữu, là đưa các Giáo hội đến mức trưởng thành,” (số 48) sao cho các cộng đoàn đó trở thành “dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện trong thế giới, cho đến khi trở thành những Giáo hội” (số 49). Trong việc xây dựng cộng đoàn Kitô hữu sống xứng đáng với ơn gọi của mình, sắc lệnh Truyền giáo còn nhấn mạnh đến việc đào tạo linh mục (số 16), huấn luyện giáo lý viên (số 17) và cổ võ đời sống thánh hiến (số 18). Trong khi chu toàn sứ vụ truyền giáo trong hai phạm vi đó, người Kitô hữu còn phải quan tâm đến những chiều kích quan trọng khác như là những phương tiện thiết yếu:
Trong một xã hội mà “con người ngày nay tin vào nhân chứng hơn thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn đạo lý, tin vào đời sống và sự kiện hơn lý thuyết” (Sứ Vụ Đấng Cứu Thế, số 42), thì làm chứng cho Tin Mừng tình yêu là phương tiện truyền giáo thuyết phục nhất, trong lãnh vực ad gentes cũng như lãnh vực xây dựng Giáo hội. Đó là hình thức đầu tiên mà mọi Kitô hữu đều có thể và phải thực hiện, bất kể tuổi tác, bậc sống, tác vụ hay sứ vụ. Làm chứng cho Tin Mừng bằng chính đời sống là nhiệm vụ đầu tiên của các nhà truyền giáo cho muôn dân (x. SVĐCT số 42).
Hội nhập Tin Mừng vào các nền văn hóa (hội nhập văn hóa) là “biến đổi sâu xa những giá trị văn hóa đích thật, bằng cách hội nhập chúng vào Kitô giáo và làm cho Kitô giáo bén rễ vào các nền văn hóa khác nhau” (x. SVĐCT số 52). Bằng cách đó, các cộng đoàn Kitô hữu có thể diễn tả kinh nghiệm Kitô giáo của mình cách độc đáo, theo truyền thống văn hóa của mình” (x. SVĐCT số 53), miễn là phải tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản: Sự tương hợp với Tin mừng và hiệp thông với Giáo hội phổ quát (x. SVĐCT số 54).
“Đối thoại liên tôn là một thành phần trong sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội” (x. SVĐCT số 55), xuất phát từ lòng “tôn trọng đối với Thánh Thần, Đấng muốn thổi đâu thì thổi” và “hằng hoạt động trong các tôn giáo và các nền văn hóa” (Tông huấn Giáo Hội Tại Á Châu, số 18). Nhờ đối thoại, Giáo hội khám phá được “những hạt giống Lời Chúa” và “những tia sáng chân lý” nơi con người và những truyền thống tôn giáo của nhân loại (x. SVĐCT số 56). Trong thực hành, việc đối thoại liên tôn có thể được thực hiện trong năm lãnh vực sau đây: - Đối thoại qua cuộc sống: Cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm nhân sinh, làm chứng và nỗ lực nâng cao nhân phẩm con người, chia sẻ đời sống với người nghèo sống bên lề xã hội và bị áp bức. - Đối thoại qua việc chia sẻ kinh nghiệm tôn giáo: Cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm thiêng liêng trong tương giao với Thiên Chúa, trong thực hành linh đạo. - Đối thoại qua hoạt động: Cộng tác với nhau để cổ võ sự phát triển và giải phóng toàn diện cho các dân tộc. - Đối thoại văn hóa: Chia sẻ kinh nghiệm trong việc bảo vệ nền văn hóa sự sống, chống lại nền văn hóa tiêu thụ, khoái lạc, vụ lợi, thực dụng, cá nhân và tục hóa. - Đối thoại qua việc trao đổi thần học giữa những chuyên viên: Cùng nhau chia sẻ và làm sáng tỏ những xác tín tôn giáo (x. SVĐCT số 57). Để việc đối thoại liên tôn mang lại hiệu quả, người đối thoại cần có những thái độ sau đây: - Trung thành với truyền thống và xác tín của tôn giáo mình, - cởi mở đối với truyền thống và xác tín của những tôn giáo khác, - chân thành và khiêm tốn, không giả dối hay thỏa hiệp.
Chiều kích cuối cùng trong hoạt động truyền giáo là cổ võ sự phát triển bằng việc giáo dục lương tâm. Sự đóng góp đầu tiên của các nhà truyền giáo trong lãnh vực này không phải là cung cấp những phương tiện “kinh tế, kỹ thuật, chính trị hoặc đóng góp vật chất cho việc phát triển,” mà là công bố sự thật về “Chúa Kitô, Giáo hội và con người.” Nhờ sứ điệp Tin Mừng đó, các nhà truyền giáo “mang lại một sức mạnh giải phóng và hoạt động nhằm cổ võ phát triển… đưa tới việc hoán cải trái tim và lý trí, làm cho phẩm giá con người được nhìn nhận, thắt chặt tình liên đới, thúc đẩy dấn thân phục vụ tha nhân…” (x. SVĐCT số 58-59). II. Tin mừng: một quà tặng để chia sẻ Là con cái của Giáo hội, Anh em Hèn mọn đón nhận ơn gọi truyền giáo như một lời mời gọi và quà tặng. Ơn gọi này phát xuất từ việc chúng ta “cảm thấy được mời gọi lãnh nhận quà tặng Tin Mừng và đáp trả một cách sáng tạo bằng đời sống chúng ta, bằng những hành vi cụ thể.”[7] Trong chiều hướng đó, Văn kiện Chung kết Tổng Tu nghị 2009 khẳng định: “Tự bản chất sâu xa, Tin Mừng là một quà tặng được nhắm để chia sẻ. Việc loan báo Tin Mừng bắt nguồn từ gốc rễ sâu xa của Tin Mừng, đồng thời cũng là một đòi hỏi của đức tin.”[8] Qua khẳng định này, chúng ta nhận ra một vài điểm cốt yếu:
Nhà truyền giáo Phan sinh chia sẻ quà tặng Tin Mừng như thế nào? Tổng Tu nghị nêu bật ba cách thức:
Sứ vụ này hệ tại cách thức chúng ta hiện diện tại những nơi Chúa sai chúng ta đến: Một sự hiện diện đồng cảm, ân cần và quan tâm đối với thế giới trong tinh thần đối thoại.[10]
Sứ vụ đến với muôn dân là một nét độc đáo của đoàn sủng Phan sinh. Luật dòng Anh em Hèn mọn là luật dòng đầu tiên đề cập đến sứ vụ truyền giáo cho dân ngoại, nhất là cho người Hồi giáo.[11] Ơn gọi đến với muôn dân không phải là sáng kiến của con người, nhưng là do Thiên Chúa soi sáng. Vì thế, chúng ta phải mở lòng ra với sự thúc giục của Thánh Thần.[12]
Vì bối cảnh xã hội, Giáo hội và Hội dòng hiện nay, Tổng Tu nghị còn đề nghị với chúng ta một hình thức truyền giáo mới. Đó là vượt qua những ranh giới địa lý, tôn giáo và văn hóa chia cách giữa người với người, để thi hành một sứ vụ thật sự phổ quát.[13] KẾT LUẬN Để kết luận, chúng ta đọc lại nghị quyết 20 của Tổng Tu Nghị 2009: “Tuy không coi nhẹ những hoạt động phúc âm hóa thông thường, chúng ta phải ưu tiên cho những hình thức phúc âm hóa mới. Để gia tăng chiều kích truyền giáo và phúc âm hóa hơn, đặc biệt quan tâm đến những chân trời mới, những hình thức phúc âm hóa lưu động và những huynh đệ đoàn “tháp nhập,” Hội Đồng Dòng, với sự tham gia của Hội Đồng Giám Tỉnh liên hệ, phải thúc đẩy thiết lập chương trình huấn luyện Phan Sinh chung cho anh em và giáo dân.” Gợi ý suy tư và trao đổi
[1] Tổng Tu nghị Anh Em Hèn Mọn 2009, Những Người Mang Quà Tặng Phúc Âm: Văn Kiện Chung Kết, số 3. [2] Sdd., số 25. [3] Sdd., Lời giới thiệu. [4] Sdd., Lời giới thiệu. [5] Sdd., số 12. [6] Sdd., số 11. [7] Tổng Tu nghị Anh Em Hèn Mọn 2009, Những Người Mang Quà Tặng Phúc Âm: Văn Kiện Chung Kết,số 10). [8] Sdd., số 11. [9] Sdd. [10] Sdd., số 13-17. [11] Lksc chương 12. [12] Sdd., số 20. [13] Sdd., số 22-24. |