Skip to content

Bình An và Thiện Hảo

Xin ngợi khen Cha vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn.



Hiện có 14 khách 
Bài thường huấn số 02-2010

LỊCH SỬ TRUYỀN GIÁO

Lịch sử truyền giáo của Giáo Hội bắt đầu với sự kiện Chúa Giêsu Nagiarét quy tụ các môn đệ và sai họ đi loan báo Tin Mừng khắp thế gian (Mt 28,10-20). Sau biến cố Ngũ Tuần, các môn đệ đã mạnh dạn làm chứng Đức Giêsu đã chết và sống lại, đồng thời kêu gọi người Do Thái hoán cải, tin vào Tin Mừng và lãnh nhận phép rửa.

Lịch sử truyền giáo bước sang một giai đoạn mới, khi Giáo Hội bị bách hại tại Giêrusalem (Cv 8) và tiếp nhận những người ngoài Do thái giáo. Để tránh bách hại, các Kitô hữu đã di tản đến nhiều miền khác. Đến đâu, họ cũng “làm chứng” cho Đức Kitô đã chết và phục sinh. Trợ tá Philiphê đã rao giảng tại Samaria và Xêrarêa (Cv 8,5.40). Một số Kitô hữu đã trẩy sang Cyprus, Phênicia và Antiôkia (Cv 11,19-20). Trong thế kỷ thứ nhất, Antiôkia là trung tâm truyền giáo đầu tiên (Cv 11,19-26).

Nhà truyền giáo nổi bật trong thế kỷ đầu tiên của Kitô Giáo là thánh Phaolô. Sau khi được ơn trở lại (năm 36), người đã hăng say loan báo Đức Giêsu Kitô và đã thực hiện 4 hành trình truyền giáo qua các nước Syria, Thổ-nhĩ-kỳ, Hy-lạp và đảo Síp:

1. Năm 45-49 (x. Cv 13-15,2)

2. Năm 50-52 (x. Cv 15,38-18,22)

3. Năm 53-58: (x. 19,21- 20,37)

4. Năm 60: Hành trình đi Rôma (x. Cv 27,1-28,31)

Ngoài ra, thánh Máccô đi truyền giáo tại Ai-cập (năm 42), thánh Tôma đi Ấn-độ (năm 52), Giuse Arimathia đi Anh (năm 60), thánh Tađêô đi Armênia (năm 66), thánh Anrê truyền giáo tại Hy-lạp và bị đóng đinh tại đây (năm 69). Đến năm 80, các Kitô hữu cũng đã hiện diện tại Tunidi và Pháp.[1]

1. Những thế kỷ đầu (100-313)[2]

Trong thế kỷ 2 và 3, Kitô Giáo phát triển nhanh chóng trong các thành phố phương Đông nhờ những yếu tố sau đây:

  • Lòng nhiệt thành của tín hữu: Sau khi lãnh nhận bí tích rửa tội, họ đương nhiên trở thành nhà truyền giáo.
  • Các tín hữu làm chứng cho Tin Mừng bằng cách trở thành những công dân tốt. Tuy nhiên, họ cũng mạnh mẽ lên án những lối sống và tư tưởng không phù hợp với Tin Mừng.[3]
  • Các thương gia, di dân, nô lệ và các vị ẩn tu Kitô hữu cũng góp phần vào công cuộc truyền giáo. Họ là những nhà truyền giáo lưu động.
  • Đàng sau những yếu tố trên chính là những cuộc bách hại. Đó là cơ hội để làm chứng cho Tin Mừng khi các Kitô hữu phải đối diện với quan quyền hay khi phải di tản để tránh bách hại.[4]

Trong giai đoạn này, các Kitô hữu đã hiện diện tại Monacô, Algêri, Assyri (Iraq), Thổ-nhĩ-kỳ, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, Ma-rốc, Áo, Iran, Bỉ, Thụy sĩ. Cuối thế kỷ 3, Kitô hữu chiếm 10% dân số thế giới. Kinh thánh được dịch sang 10 thứ tiếng.[5]

2. Phong trào đan tu và truyền giáo (313-1054)

Với chiếu chỉ Milan do hoàng đế Constantin ban hành năm 313, Kitô giáo chính thức được nhìn nhận. Công cuộc truyền giáo có nhiều thuận lợi, nhất là khi được nhìn nhận là quốc giáo năm 380. Tin Mừng Đức Kitô đã lan nhanh đến nỗi thánh Jerôme đã viết năm 378: “Mọi nước từ Ấn-độ đến Anh đều đã được loan báo về cái chết và sống lại của Đức Kitô.”[6]

Các nhà truyền giáo đã lên đường rao giảng Tin Mừng cho Êthiopia, Uzbekistan, Tajikistan, Turkmenistan, Kazakhstan, Rumani, Yemen, Scotland (thế kỷ 4), Ireland (tk. 5), Na-uy, Phần-lan (tk. 7), Đức (tk. 8), Tiệp-khắc, Nam-tư, Bulgaria, Serbia (tk. 9), Hungary, Ba-lan, Đan-mạch, Nga (tk.10).

Một vài đặc điểm của công cuộc truyền giáo trong giai đoạn này:

  • Đóng góp của phong trào đan tu: Phần lớn những công cuộc truyền giáo do các đan sĩ đảm nhận. Đây là thời kỳ vàng son của phong trào đan tu trong việc truyền giáo. Một vài khuôn mặt nổi bật: thánh Patríc, Martinô thành Tours, Martinô Braga, Leander thành Seville, Rêmy, Augustinô Canterbury, Columba, Bonifaciô...
  • Chính Đức Giáo Hoàng đề nghị và hướng dẫn những công cuộc truyền giáo.
  • Việc trở lại của vua chúa giữ vai trò quan trọng trong việc Kitô hóa Âu Châu. Dân chúng trong vương quốc thường theo tôn giáo của nhà vua.
  • Trở ngại: Sự xuất hiện của Hồi Giáo (năm 622), tranh luận về tín lý và tranh chấp chính trị, chế độ phong kiến và tình trạng mại thánh là những yếu tố làm suy yếu lòng nhiệt thành truyền giáo.

Ngoài ra, người ta cũng ghi nhận nỗ lực truyền giáo của các Kitô hữu theo lạc giáo Nestôriô: Từ năm 529, họ đã hiện diện giữa những bộ tộc Bắc Trung Hoa và Trung Á.

3. Phong trào hành khất và truyền giáo (1054-1453[7])

Ra đời vào đầu thế kỷ 13, các Hội dòng hành khất (Phanxicô và Đa minh) đảm nhận một vai trò quan trọng trong việc truyền giáo. Mục đích của những Hội dòng này là thuyết phục người Hồi Giáo trở lại đạo và rao giảng Tin Mừng cho lương dân Châu Á.

Lần theo con đường tơ lụa,[8] các nhà truyền giáo Phan sinh và Đa minh đã đến tận vương quốc Mông Cổ. Anh em Phan sinh thiết lập nhiều tu viện và tòa giám mục tại Trung Hoa. Anh em Đa minh truyền giáo tại Nam Á (Ấn độ).

Cuối thế kỷ 13, toàn Châu Á đã có 20 giáo tỉnh với hơn 200 giám mục. Tuy nhiên, dưới sự tấn công mãnh liệt của Hồi Giáo, tất cả đều biến mất, chỉ còn sót lại một vài cộng đoàn.[9]

Cũng trong giai đoạn này, các Kitô hữu đã hiện diện tại Lithuania (năm 1251), Guinea Bissau, Mauritania, Cape Verde Island (tk. 15).

4. Truyền giáo thời Phục hưng (1453-1773[10])

Cùng với việc Christopher Columbus tìm ra Châu Mỹ (khoảng 1451-1506), Đức Giáo hoàng Alexander VI ủy thác việc truyền giáo cho hai nước Bồ-đào-nha và Tây-ban-nha.

Tại Châu Mỹ La Tinh, các nhà truyền giáo của các Dòng Tu đã đến đảo quốc Đôminica, Puertô Ricô, Cuba, Mêhicô, Pêru, Vênêzuela, Côlômbia, Ecuađo, Bôlivia, Chilê, Ácgentina, Paraguay, Uraguay, Brasil. Trong thế kỷ 16 đã có khoảng 5.000 nhà truyền giáo hiện diện tại Châu Mỹ La Tinh, trong số đó có nhiều nữ tu, và từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, hơn 130 nữ đan viện đã được thiết lập tại đây. Linh đạo truyền giáo nhấn mạnh đến sự nghèo khó triệt để của Tin Mừng và tinh thần tử đạo.[11] Các nhà truyền giáo đã phải đương đầu với việc xâm lược và khai thác thuộc địa của các quốc gia bảo trợ.

Trong giai đoạn này, các nhà truyền giáo cũng có những tiếp xúc đầu tiên với các thổ dân Bắc Mỹ: các nhà truyền giáo Phan sinh và dòng Tên đã đặt chân lên vùng Tây Nam, Đông Bắc và lưu vực sông Missisippi. Riêng tại Canada, công cuộc truyền giáo được bắt đầu với các tu sĩ dòng Augustinô Cải Cách vào đầu thế kỷ 17, sau đó được giao cho Dòng Tên với sự hỗ trợ của linh mục Xuân Bích và nữ tu Ursulines. Tuy nhiên, sau gần 100 năm, kết quả không được bao nhiêu: chỉ vỏn vẹn 2.000 Kitô hữu.

Tại Châu Á, nhiều tu sĩ Phan sinh, Đa minh, Augustinô và linh mục giáo phận gốc Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha đã đến truyền giáo tại Goa và vùng duyên hải Ấn-độ, Sri Lanka, Malacca (Malaysia). Giữa thế kỷ 16, với sự xuất hiện của Dòng Tên, công cuộc truyền giáo tại Á Châu bước sang một trang mới với thánh Phanxicô Xaviê (1506-1552). Người thiết lập cộng đoàn Kitô hữu tại Goa, Kochi (Nam Ấn-độ), Malacca, quần đảo Moluccas (Inđônêsia) và Nhật-bản. Phanxicô Xaviê và Robertô de Nolili là hai nhà truyền giáo Dòng Tên theo đường hướng hội nhập văn hóa trong việc truyền giáo. Cuối thế kỷ 16, Matteo Ricci, một tu sĩ dòng Tên đã đặt chân lên Trung Hoa và rao giảng Tin Mừng cho giai cấp lãnh đạo và trí thức của xã hội Trung Hoa. Tuy nhiên, vì cuộc cách mạng Pháp, những tranh cãi về nghi lễ và việc giải thể Dòng Tên, công cuộc truyền giáo gặp nhiều khó khăn.

Năm 1533, các nhà truyền giáo tiếp xúc lần đầu tiên với người Việt Nam. Tuy nhiên, mãi đến năm 1617, các nhà truyền giáo dòng Tên mới chính thức hoạt động tại Việt Nam, Thái Lan và Cambôđia. Trong số đó, Alexander de Rhodes (1591-1660) được kể là vị tông đồ của Việt Nam.

Công cuộc truyền giáo tại Philipin được đặt dưới sự bảo trợ của nước Tây-ban-nha. Vào bán thế kỷ 16, các nhà truyền giáo dòng Augustinô, Phan sinh, Đa minh, Dòng Tên đã đến hoạt động tại đây. Sau 100 năm, ngoại trừ những quần đảo phía Nam, tất cả Philipin đã theo đạo Công Giáo.

Tại Châu Phi, công cuộc truyền giáo được phát triển mạnh tại Bắc Phi trong những thế kỷ đầu. Giáo Hội Bắc Phi đã sản sinh ba giáo hoàng[12] và những nhà thần học nổi tiếng.[13] Trong thế kỷ thứ 4, Bắc Phi có hơn 400 giám mục. Tuy nhiên, với sự tấn công mãnh liệt của Hồi Giáo, từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 15, Giáo Hội Bắc Phi dần dần bị suy sụp. Việc truyền giáo tại Châu Phi được bắt đầu lại từ thế kỷ 15 tại các nước cận sa mạc Sahara và Tây Phi: Senegal, Ghana, Nigeria, Angola, Congo. Công cuộc truyền giáo không phát triển nhiều vì tệ nạn người châu Âu buôn bán nô lệ, phân biệt chủng tộc và can thiệp vào chính trị của các nước Phi Châu, đồng thời thiếu hiểu biết ngôn ngữ, văn hóa của người Châu Phi.

5. Truyền giáo thời Hiện đại (1773-1919)

Sau một thời gian suy thoái trong hạ bán thế kỷ 18,[14] công cuộc truyền giáo lại được hồi sinh trong thế kỷ 19 và được Latourette, một nhà sử học của Hội thánh Báp-tít,  xem là “thế kỷ truyền giáo” trong lịch sử Kitô giáo.[15] Đây cũng là thời kỳ các Hội Thánh Tin Lành đẩy mạnh truyền giáo khắp các châu lục.

Về phía Công Giáo, ngoài việc củng cố những điểm truyền giáo đã thiết lập trong những thế kỷ trước, Giáo hội bắt đầu truyền giáo tại Úc Châu và Châu Đại Dương. Trong thế kỷ 19, đã có hơn 200 tu hội được thành lập, trong đó nhiều tu hội dấn thân vào sứ vụ truyền giáo. Bên cạnh đó, các hội truyền giáo tại Âu Châu cũng tích cực yểm trợ cho công cuộc truyền giáo.

Tại Bắc Mỹ, với phong trào di dân đến từ Ai-len, Ý, Đức, Ba-lan, Tây-ban-nha, số Kitô hữu tại Canađa và Hoa-kỳ gia tăng đáng kể. Để truyền bá Tin Mừng, Giáo hội phát triển một hệ thống học đường Công Giáo. Đến năm 1911, Hội Thừa sai Công giáo Mỹ được thành lập và bắt đầu truyền giáo cho các thổ dân. Trong khi đó, tình hình chính trị bất ổn tại Nam Mỹ đã khiến cho công cuộc truyền giáo không phát triển được.

Tại Châu Á, những Giáo hội non trẻ tại Trung Hoa, Nhật, Triều Tiên, Việt Nam phải trải qua nhiều cuộc bách hại. Mãi đến cuối thế kỷ 19, những Giáo hội ấy mới được tự do rao giảng Tin Mừng.

Tại Châu Phi, việc truyền giáo liên kết với việc giải phóng những người nô lệ và thăng tiến đời sống xã hội. Năm 1839, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XVI lên án chế độ nô lệ và thúc đẩy việc thành lập hàng giáo phẩm địa phương. Nhiều Dòng Tu mới hướng về Châu Phi và thành lập cộng đoàn tại lục địa này.

6. Truyền giáo trong thế kỷ XX

Bước sang thế kỷ 20, công cuộc truyền giáo phải đương đầu với một trở ngại lớn. Đó là đại thế chiến thứ nhất[16] cùng với những hệ lụy của nó: Các nhà thừa sai trẻ bị động viên, các phương tiện bị cạn kiệt, chủ nghĩa dân tộc của các nhà thừa sai và các nhà thừa sai của các nước bại trận bị trục xuất hay bị quản thúc.[17] Trước tình trạng đó, Đức Giáo hoàng Pio XI (1922-1939) đã nhanh chóng thiết lập hàng giáo phẩm tại các xứ truyền giáo, bổ nhiệm các giám mục bản địa, thành lập chủng viện nhằm đào tạo linh mục địa phương.[18] Hai nhà truyền giáo Vinh Sơn Lebbe và Jules Monchanin luôn quan tâm đến việc “thích nghi văn hóa.”

Tại Phi Châu, hầu hết các quốc gia đều độc lập trong thập niên 1950 và ý thức rõ hơn về căn tính văn hóa của mình. Hiện nay, tất cả các giám mục Phi Châu là người bản địa và công cuộc truyền giáo tại Phi Châu được trao vào tay Giáo hội Phi Châu.[19]

Tại Châu Mỹ La Tinh, Giáo hội cổ võ một cuộc “Phúc âm hóa mới” bằng cách phát huy những giá trị nhân văn và văn hóa Kitô giáo.[20] Từ năm 1910, khi Giáo hội tại Bắc Mỹ và Canađa không còn là những xứ truyền giáo, các Kitô hữu tại đây đã ý thức hơn về sứ vụ truyền giáo của mình. Hội Truyền giáo Công giáo Mỹ (thường gọi là Maryknoll) đóng góp nhiều nhân lực và vật lực cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội.[21]

Công cuộc truyền giáo tại Châu Đại Dương tiếp tục phát triển với sự đóng góp của nhiều Tu Hội Truyền Giáo, nhất là các nữ tu, và các giáo lý viên. Năm 1970, Giáo hội Papua Tân Ghi-nê có giám mục bản địa đầu tiên. Giáo hội Úc Châu và New Zealand cũng có nhiều đóng góp cho vùng truyền giáo này.[22]

Tại Châu Á, Giáo Hội Công Giáo vẫn còn là một thiểu số và còn phải nỗ lực truyền giáo.[23] Sau hai ngàn năm, công cuộc truyền giáo tại lục địa này chỉ mới bắt đầu.[24] Trong Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mời gọi các Giáo Hội tại Á Châu “tiếp tục sứ mạng phục vụ và yêu thương, để tất cả mọi người Châu Á được sống và sống dồi dào.”[25]

KẾT LUẬN

Trải qua 2000 năm lịch sử truyền giáo, chúng ta có thể ghi nhận một vài điểm nổi bật sau đây[26]:

- Lòng nhiệt thành của các nhà truyền giáo. Họ là những dụng cụ ngoan ngùy trong tay của Chúa Thánh Thần, tác nhân chính của công cuộc truyền giáo.

- Những chứng nhân đã anh dũng đổ máu đào làm chứng cho đức tin. Máu các ngài đích thật là hạt giống đức tin.

- Các Đức Giáo Hoàng là những vị đã vạch ra kế hoạch truyền giáo.

- Các Giáo Hội địa phương đã tích cực góp phần tích cực vào công cuộc truyền giáo của Giáo Hội hoàn vũ.

- Các hội dòng truyền giáo, nhất là  các nữ tu.

Hiện nay, lịch sử truyền vẫn còn tiếp diễn. Trong một thế giới toàn cầu hóa cùng với những nền văn hóa mới, các nhà truyền giáo hôm nay phải đối diện với những thách đố mới. Những thách đố đó chính là những yếu tố thúc đẩy họ suy tư và khám phá ra những cách thức mới để loan báo Tin Mừng Chúa Kitô và xây dựng Nước Thiên Chúa.

 

Gợi ý suy tư và thảo luận:

  1. Đâu là những yếu tố thuận lợi cho việc truyền giáo?
  2. Nhà truyền giáo hiện nay cần có những đức tính và phương tiện nào?


[1] David Barrett, ed., World Christian Encyclopedia, (London: Oxford University Press: 1982), tr. 23 trong http://wikipedia.org/wiki/Timeline_of­_christianity.

[2] Các giai đoạn lịch sử truyền giáo được phân chia theo S.B.Bevans và R.P. Schoeders, Constants in Context: a Theology in Mision for Today (Quezon City: Claretian Publications, 2005), trang 73-279.

[3] Filipe Gomez, Mission history from beginings to the modern period, trong S. Karotemprel, ed.,  Following Christ in mission (Pasay City: Daughters of saint Paul, 1996), tr. 165.

[4] S.B.Bevans và R.P. Schoeders, Constants in Context: a Theology in Mision for Today (Quezon City: Claretian Publications, 2005), tr. 75-79.

[7] 1054: ly khai giữa Giáo hội Đông và Tây; 1453: Constantinople rơi vào tay Thổ-nhĩ-kỳ.

[8] Con đường tơ lụa nối liền các nước chung quanh Địa Trung Hải với Tây Á, Nam Á, và Đông Á. Con đường tơ lụa đi qua các nước Ả-rập, Xômalia, Ai-cập, Ba-tư, Pa-kít-tan, Ấn-độ, Băng-la-đét, Mã-lai, Việt-nam.

[9] Filipe Gomez, Mission history from beginings to the modern period…, tr. 173.

[10] 1773: Dòng Tên bị giải thể.

[11] Fidel Gonzales-Fernandez, Mision History of Latin America, trong S. Karotemprel, ed.,  Following Christ in mission…, tr. 217-218.

[12] Đức Giáo hoàng Victor (189-199), Melchiade (311-314) và Gelasius (492-496).

[13] Téctulianô (+240), thánh Cyprianô (+258), thánh Augustinô (354-430).

[14] Nguyên nhân của suy thoái: tranh luận về nghi lễ, giải thể dòng Tên, tình hình chính trị ở Trung Quốc, Nhật Bản và Châu Âu, Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha suy yếu. Xem S.B.Bevans và R.P. Schoeders, Constants in Context…, tr. 206.

[15] Sđd.

[16] Chiến tranh giữa liên minh Anh, Pháp, Nga và khối trục gồm Đức, Áo, Hung, Ý từ 1914-1918.

[17] X. Jean Comby, Để đọc lịch sử Giáo Hội: cuốn 2, dg. Vân Thúy, tr. 268-270.

[18] Năm 1923: Giáo hội Ấn-độ có giám mục đầu tiên; Trung Hoa: 1926 với 6 giám mục; Nhật: 1927; Việt Nam: 1933; Phi Châu: 1939.

[19] X. Huấn từ của Đức Giáo Hoàng với Hội nghị Giám mục Phi Châu tại Kampala 1969.

[20] X. Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, Diễn văn tại Santo Domingo ngày 12-10-1992.

[21] Năm 1966, có khoảng 9.600 nhà truyền giáo hoạt động tại ngoại quốc.

[22] X. Joseph Metzler, Lịch sử truyền giáo tại Châu Á và Châu Đại Dương,  trong S. Karotemprel, ed.,  Following Christ in mission…, tr. 189-192.

[23] Miến Điện, Thái Lan, Malaysia, Lào, Cambôđia, Pakistan: rất ít người Công Giáo; Nepal, Afganistan, Tibet, Brunei, Butan: không có người Công Giáo.

[24] X. Joseph Metzler, … tr. 188.

[25] Số 50.

[26] George Kottuppallil, Lịch sử Truyền giáo: Kết luận Tổng quát, trong S. Karotemprel, ed.,  Following Christ in mission…, tr. 236-242.