| Anh em đừng sợ những kẻ chỉ giết thân xác mà không giết được linh hồn. |
| Tài liệu nguồn |
| Linh đạo |
| Giám tỉnh |
| Phúc âm hóa |
| Góc suy tư |
| Lịch phụng vụ |
| Cầu nguyện |
| Hỏi - đáp |
| Thư mục |
| Tìm kiếm |
| Sự nghèo khó như Lời mặc khải |
|
William Short OFM (Trích A Project of Update - the Ongoing Formation Committee. Tháng 10.2008) Dẫu chúng ta có nghĩ tới cảnh Phanxicô nằm trên giường chết, vây quanh là các anh em và Bà Giacôba, bạn của ngài, hoặc nghĩ tới cảnh Clara nằm trên giường chết, nhận được tin bản luật của Chị sau 40 năm đã được công nhận; thì hai thời điểm của cái chết đó, cách nhau gần 30 năm - Phanxicô vào năm 1226, Clara vào năm 1253 - tuy có khoảng cách về thời gian, vẫn có điều gì đó chung với nhau. Hai ngài đã sống và đã chết trong khi đánh giá cao về sự nghèo khó như một chiếc chìa khóa quan trọng trong cách thức mà các ngài phải theo mà sống nếp sống thánh Phúc Am, như các ngài đã hiểu. Có thể ngày nay chúng ta có khuynh hướng nghĩ về sự nghèo khó như là một tình trạng thiếu thốn về kinh tế: việc bần cùng hóa dân chúng như một kết quả của các chính sách bất công, sự phân phối bất công về đất đai. Loại nghèo khó này không phải là loại nghèo khó chúng ta đang nhắc tới khi chúng ta nói về Phanxicô và Clara Assisi. Đây là một kết quả của tội lỗi: việc bần cùng hóa dân chúng; việc làm giảm thiểu phẩm giá con người của họ. Điều mà Phanxicô và Clara đang nói tới là một loại nghèo khó khác. Trước hết và là quan trọng, đó là sự nghèo khó tự nguyện. Đó là một sự chọn lựa tự do. Và qua gương sống của các ngài và của những kẻ đi theo các ngài, mục đích của sự nghèo khó là lấy cái mình có, bán đi và đem cho ai đó: cho những người nghèo. Mục đích của sự nghèo khó Phan sinh và Phúc Âm không phải là tôi phải ra bần cùng; đây không phải là điểm nhắm đến. Đúng hơn, điểm nhắm đến là những người khác: đó là những người khác phải nên giàu có; đó là người có ít bây giờ phải có nhiều hơn, vì tôi đã cho điều tôi có. Tôi có cái gì? Cả Phanxicô lẫn Clara đều sẽ nói rằng: điều tôi có tự căn bản là không có gì. Chẳng có điều gì thuộc về tôi cả. Nguồn gốc của tội trong nền thần học Phan sinh chính xác không phải là tính kiêu ngạo. Đó là sự ao ước chiếm hữu. Tất cả những gì hiện hữu, tất cả mọi sự tốt lành đều thuộc về một mình Thiên Chúa. Tất cả những gì tôi lãnh nhận là một quà tặng. Nó không phải là tài sản của tôi. Ngoài những điều thiết yếu, bất cứ điều gì tôi đang có để duy trì sự sống đều không phải là của tôi để mà lo giữ lại, nhưng là để cho những người khác. Bất kỳ một sự quá lạm nào - bất kỳ một sự khoan dung nào đối với điều tôi muốn mà vượt quá những gì tôi cần - đều là một xúc phạm đến phẩm giá của người nghèo. Phanxicô sẽ nói rằng: những của bố thí, nghĩa là những tặng phẩm do người khác trao cho, đều là một quyền lợi, một di sản mà Chúa Kitô đã giành lại cho người nghèo. Nghĩa là họ có quyền hợp pháp về tất cả mọi thứ là quá mức trong đời sống của những người khác. Thỉnh thoảng, Phanxico lại quay về với chủ đề sự cần thiết hay là nhu cầu. Tôi luôn luôn được phép lấy những gì tôi cần - những gì là thiết yếu để duy trì sự sống. Nhưng nói cho cùng đó là cái gì? Ngài giới hạn điều thiết yếu vào cái ăn, cái mặc, và ít ra vào một dạng trú ngụ tạm thời. Một khi những nhu cầu căn bản này - những nhu cầu căn bản của con người để sống còn - đã được thỏa mãn, thì bất cứ điều gì khác tôi được cho, tôi đều không được giữ lại như tài sản của tôi. Theo quyền, nó thuộc về người nghèo: những người có ít; những người không có những gì cần thiết để duy trì sự sống. Sự nghèo khó Phan sinh, thay vì là việc bần cùng hóa người khác về kinh tế, có giá trị như một phản kháng chống lại việc bần cùng hóa này. Và nó có giá trị như một phản kháng triệt để chống lại bất cứ hình thái sở hữu tư riêng những quà tặng của Thiên Chúa: dù đó là đất đai, hoặc của cải, hoặc các tài năng. Phanxicô muốn nói rằng điều đó bao gồm cả những chức vị, những nhiệm vụ, sự thông minh. Bất cứ một điều gì tốt lành đã được ban cho tôi, thì được ban cho không phải để tôi làm giàu cho chính tôi. Nếu tôi chỉ sử dụng nó cho tôi, nó sẽ mang lại sự chết. Nó chỉ mang lại sự sống khi được đem cho những người khác để làm giàu cho họ. Nếu những quà tặng Thiên Chúa ban được liên tục cho đi, chúng ta có thể hy vọng được đón nhận chúng liên tục. Đây là một kiểu kinh tế Phan sinh. Nếu bạn cứ tiếp tục cho đi, bạn sẽ lãnh nhận. Điều này bao gồm một sự liên thuộc triệt để giữa người với người. Khi anh em tiếp tục cho đi mọi sự đã được ban cho, vượt quá những điều thiết yếu, anh em hy vọng là qua công việc anh em làm và qua việc đi xin bố thí, anh em sẽ lãnh nhận được mọi thứ anh em cần. Clara và các chị em của ngài cũng thế, việc Chị nài nỉ xin cho được đặc ân sống nghèo - đặc ân sống không đặc ân - là một sự phản kháng chống lại lối sống được bảo đảm cho các phụ nữ quý tộc, là những người đã vào sống trong các cộng đoàn tu sĩ thời ngài. Có lẽ như một cách bảo trợ, các vị giáo hoàng như Đức Grêgôriô IX hoặc Đức Innocentiô IV và những vị khác nữa, đã muốn bảo đảm là cộng đoàn các phụ nữ tại San Đamianô là những người được xem như những thành viên mỏng manh của phái yếu nên sẽ được bảo vệ: đó là họ sẽ được cấp dưỡng bất cứ điều gì họ cần, và ngay cả bất cứ điều gì họ muốn, chỉ cần là họ nhận các tặng phẩm là đất đai sẽ sinh hoa lợi, bất kể là dầu ăn hoặc rượu, quyền được đánh bắt cá trên sông ngòi, hoặc nhà cửa trong thành phố Assisi có thể mang lại thu nhập dưới hình thức cho thuê. Nếu như họ chỉ muốn chấp nhận những tặng phẩm tài sản theo một nghĩa rất chung chung từ Đức giáo hoàng hoặc các giám mục, hoặc chính quyền địa phương, họ có thể đảm bảo cho chính họ có được một cuộc sống thuận lợi và xứng đáng trong một thời gian dài. Clara đã nhấn mạnh nguyên tắc này. Thậm chí chúng ta có thể nói còn hơn cả Phanxicô nữa. Để chấp nhận bất cứ tài sản nào - của hồi môn, đất đai hoặc nhà cửa - hẳn là sẽ bảo đảm một nguồn thu nhập liên tục cho các chị em lại có thể là một sự xúc phạm đến đời sống thể theo Tin Mừng mà chị em đã chọn sống. Chị nói: "Tại sao vậy?"; vì Chị đã trở nên hôn thê của một Đức vua nghèo. Đây là kiểu nói Chị dùng để khuyến khích Agnes thành Bohemia, một thành viên của hoàng gia, kiên trì trong ơn gọi của cô; chính Agnes cũng sẽ cố sức xin cho được cùng một đặc ân sống nghèo khó từ Đức Grêgôriô IX, điều này dường như đã khiến ngài nổi bực. Có lẽ do chịu ảnh hưởng cha cô, Vua Ottakar, Agnes có thể đạt được cùng một đặc ân cho tu viện của cô tại Prague, nghĩa là, sống không có bất kỳ của hồi môn nào, bất kỳ một nguồn thu nhập thường xuyên nào. Có lẽ chúng ta bị cám dỗ nói rằng: mọi chuyện thực tốt đẹp trong thế kỷ thứ 13, nhưng theo căn bản, các vị giáo hoàng cũng có một cái nhìn đúng đắn; đó là kiểu sống như thế - chắc chắn đối với Clara và các chị em của Chị - là rất khó thực hiện. Và họ nên theo lời khuyên của các vị giáo hoàng, vì không sớm thì muộn, họ sẽ thấy rằng họ đã không thể nào sống nổi, chỉ đơn giản nhờ vào công việc tay chân của họ và nhờ các của bố thí hoặc những quà tặng mà người ta đem cho họ. Một câu chuyện từ kinh nghiệm cá nhân của tôi có chiều hướng phủ nhận điều này. Tôi biết một số kha khá cộng đoàn các Chị Clara trên thế giới hiện nay: một số cộng đoàn tôi còn thường viếng thăm nữa. Tôi thấy họ là những phụ nữ rất vui tươi. Cho tới hôm nay, họ chẳng có một nguồn thu nhập thường xuyên nào. Họ không có của hồi môn. Họ không có những ngôi nhà nhiều phòng tại trung tâm thành phố, để cho thuê mà có tiền hỗ trợ chị em. Họ vẫn còn lao động chân tay, sản xuất bất cứ thứ gì mà nhờ khả năng và trí thông minh của họ có thể làm sản xuất, và dân chúng tự do mua những thứ họ làm ra, và để lại một của dâng cúng nếu họ muốn. Và chị em lệ thuộc vào của bố thí: những tặng phẩm do lòng hảo tâm của những người chỉ tiện dịp ghé qua vậy thôi, hoặc nhớ tới chị em trong dịp kỷ niệm đám cưới hoặc sinh nhật của họ, hoặc vào một hôm nào đó, khi một chị em cầu nguyện cho một người trong số họ đang gặp khó khăn. Lúc này lúc khác, các Chị em Clara ở nhiều nơi trên thế giới đã cho tôi thấy dung mạo vui tươi của sự nghèo khó Phúc Âm. Và như chính lời các chị đã nói với tôi: "Thưa anh, sau 800 năm, tôi nghĩ chúng tôi có thể nói rằng mọi chuyện đều xuôi chảy". Đây là một chứng từ đáng lưu ý về một kiểu kiên trì trong viễn ảnh của Tin Mừng dường như mang tính triệt để đối với chúng ta. Tuy nhiên, dường như nó mang tính triệt để đối với các giáo hoàng và các giám mục và giáo dân trong thế kỷ thứ 13. Nhưng lý do sống nghèo khó không phải là tước mất mọi sự khỏi chúng ta. Không phải vì các sự vật đều xấu xa. Các sự vật bao quanh chúng ta đều là những quà tặng của Thiên Chúa. Những thứ được ban cho chúng ta cuối cùng đều là những món quà Thiên Chúa trao tặng chúng ta. Tuy nhiên, chúng chỉ hoàn thành được mục đích thực sự của chúng, khi chúng làm cho người nào khác trở nên giàu có. Khi nào chúng ta bắt đầu vẽ một đường chung quanh cái thuộc về tôi và cái thuộc về anh, theo cách người Phan sinh nhìn các sự việc, chúng ta bắt đầu gặp phải bạo lực. Chúng ta đã đọc thấy khởi đầu câu chuyện về tội nguyên tổ, khi Adam và Eva bị thôi thúc, như Phanxicô giải thích cho chúng ta, ao ước chiếm hữu làm tài sản riêng điều mà tự nguồn gốc đã được ban cho họ như một quà tặng tự nguyện, nghĩa là ao ước trở nên hình ảnh - trở nên giống như - Thiên Chúa. Chính ước muốn đòi cho được điều gì đó làm của riêng mình nằm tại gốc rễ của cả bạo lực kinh tế, là điều Phanxicô và Clara đã ghi nhận được trong thời đại các ngài, lẫn bạo lực xã hội là những mối cừu hận giữa các gia đình, cuộc nội chiến quốc qia và xung đột quốc tế. Đi vào một nhiệm cục quà tặng, trong đó chúng ta nhận biết điều gì đã được ban cho tôi là ban cho nhằm phục vụ tha nhân; điều này giúp soi sáng cho lối sống hành xử không bám víu của người Phan sinh. Theo thần học và Kinh Thánh, chúng ta có thể nói rằng viễn ảnh này thực sự tìm được cảm hứng trong bài ca tuyệt đẹp ở chương hai Thư thánh Phaolô gửi tín hữu Philípphê. Đức Kitô Giêsu, vốn dĩ là Thiên Chúa, đã không bám chặt lấy địa vị ngang bằng Thiên Chúa, như một điều gì đó phải ra sức nắm lấy, nhưng Người lại đã tự hủy mình ra không, và mặc lấy thân phận của một kẻ tôi đòi, sinh ra giống như người phàm, chấp nhận cái chết, thậm chí chết trên cây thập gía. Vì lẽ đó, Thiên Chúa đã siêu tôn Người lên. Đây chính là năng động kỳ lạ của việc Nhập Thể. Đây là mạc khải mà Phanxicô và Clara đã hiểu rất sâu; Đấng đầu tiên trở nên nghèo khó là Thiên Chúa. Đây là điều chúng ta gọi là Nhập Thể. Thiên Chúa, trong Ngôi Lời, trung tâm sự hiệp thông Tam Vị, đã không bị kết vào địa vị Thiên Chúa - không giữ chặt lấy địa vị vốn có của Người - nhưng lại tự nguyện cho đi điều đó để đến trong thân phận của một người tôi tớ. Đến không chỉ như một thành viên thuộc loài người, nhưng đến như một thành viên nghèo thuộc loài người; đó là điều đánh động Phanxicô, và tôi muốn nói cả Clara nữa, về mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh. Đó là sự nghèo khó của Thiên Chúa. Trở nên hình ảnh - trở nên giống Thiên Chúa - là trở nên nghèo khó theo nghĩa này: một sự nghèo khó làm cho người khác nên giàu có bằng cách cho họ sự sống lớn lao hơn. Vâng, đã có những sự giải thích sai lầm về điều này trong lịch sử nền linh đạo Kitô giáo, và chắc chắn trong lịch sử nền linh đạo Phan sinh: tại đó một nhiệm cục từ bỏ của cải được thay thế bởi một nền kinh tế trao tặng của cải cho kẻ khác; chúng ta nên loại trừ đi những thứ vật chất vì chúng có tính chất tạm bợ, nhất thời, không quan trọng, y như thể những sự vật trong thế giới này không phải là những thọ tạo tốt lành của một vì Thiên Chúa tốt lành. Đây là một thứ nhị nguyên, trong đó chúng ta làm phai nhạt đi cái thế giới vật chất như một thứ thấp kém, thay vào đó là chọn lựa một lãnh vực thiêng liêng trừu tượng, trên mây gió: nói chính xác, đó là sự đối nghịch lại với tấm gương của Thiên Chúa trong nhập thể, Đấng từ bỏ địa vị thần linh đến trong thể chất, xác phàm, ở giữa chúng ta như một thọ tạo giữa các thọ tạo. Đấng Sáng tạo trở nên loài thụ tạo. Đức Chúa trở nên người tôi tớ. Đấng giàu có vô biên tự nguyện trở nên nghèo khó. Nghèo khó trong hoàn cảnh giáng sinh của Người, như Clara viết cho Agnes sống tại Bohemia suy nghĩ về hình ảnh của mẫu gương đó. Nghèo khó trong hoàn cảnh sống của Ngài - một đời sống lao động chân tay và di chuyển từ nơi này qua nơi khác mà không có lấy một chỗ để gối đầu: không nhà không cửa. Và tại trung tâm của mẫu gương đó, cuộc khổ nạn vì yêu thương, chính Chúa Giêsu - theo cách mường tượng sống động của Phanxicô và Clara - không còn có các môn đệ ở chung quanh nữa, Ngài không còn phẩm giá nữa khi đã bị khạc nhổ lên người và bị đánh đập, Ngài không còn áo xống nữa, bị phơi bày ra trần truồng như khi chào đời, trên thập giá, để làm trò cười cho những kẻ khác, thậm chí chẳng còn chi dành lại cho Ngài, ngay cả chiếc áo dài che thân cũng không còn. Cái cuối cùng mà Ngài đã để lại là chính hơi thở: tiếng Híp-ri là ruah, tiếng La-tinh là spiritus, thần khí. Vậy mà Chúa Giêsu cũng chẳng bám cứng vào hơi thở này như sở hữu riêng, Ngài đã thổi hơi thở đó ra. Đó là sinh nhật của Giáo Hội; ngay cả hơi thở cuối cùng cũng không là một cái gì để mà bấu víu vào, để mà bám chặt lấy, nhưng đã được trao tặng để ban sự sống cho người khác. Mầu nhiệm lớn lao về cuộc vinh quang của Chúa Giêsu được trình bày tuyệt đẹp trong bức thánh tượng là thánh giá San Đamianô chính là nghịch lý này. Đây là một người cho đi mọi sự để làm giàu cho kẻ khác lại là người thực sự được nên giàu có. Đây là một người yếu đuối, theo mọi tiêu chuẩn nhân loại, lại là người mạnh mẽ nhất. Đây là một người nhìn bên ngoài là bị thua cuộc - một thất bại - lại là người thực sự được vinh quang và chiến thắng, và là nguồn sự sống. Đây chính là cái lô-gích ngược đời lạ lùng của Phúc Âm mà Phanxicô và Clara đã đi theo, khiến nhiều người phải lúng túng, vì họ muốn cho các ngài lời khuyên nên cẩn thận hơn: khôn ngoan theo những cách thức của thế gian để đạt thành công, nhưng cả hai ngài đã cố gắng kháng cự lại, vì tin tưởng vào sự điên rồ của Chúa Kitô, một sự điên rồ còn mạnh mẽ hơn cả sự khôn ngoan của trần thế. Sự nghèo khó như lời mạc khải! Nếu người nghèo là những người thừa kế của Đức Kitô, thì đâu là thái độ mà Phanxicô và những kẻ đi theo ngài phải tỏ ra với người nghèo? Đây không chỉ là cho đi những gì họ có, bán những thứ ấy đi, và đem những thu nhập được cho người nghèo; một hành động như thế có thể thực hiện được chỉ một lần là xong. Đây cũng còn là chia sẻ với người nghèo trong thế giới công việc lao động tay chân, một điều được xem là không xứng hợp tí nào với các thành viên thuộc các cộng đoàn tu trì thời đó, có thể ngoại trừ các tu sĩ Xi-tô. Để sống trong thế giới lao động, không phải trong nội cấm đan viện, nhưng đối với Phanxicô và các anh em của ngài, để cho người ta thuê mướn mình như những người đầy tớ phục dịch trong các gia đình, có thể được xem là dễ dàng đối với những thành viên thuộc các giai cấp thấp kém nhất trong xã hội, nhưng đối với một người ngay như xuất thân từ giai cấp thương nhân - và đặc biệt đối với một người quý tộc - tình nguyện rửa bình rửa chén như Phanxicô dường như đã làm tại một đan viện khi bắt đầu hoán cải, đó hẳn đã là điều khó thực hiện. Hoặc Clara, khi lần đầu tiên đến với đan viện Biển-đức gần Porziuncola một thời gian ngắn sau khi chị trốn khỏi nhà cha. Clara đã có thể làm công việc gì ở đó, khi chị không phải là một nữ tu của đan viện? Chị đã làm công việc của một phụ nữ phục dịch và đó là cách chị đã hiểu về chính bản thân chị, cho tới lúc cuối đời: thậm chí giặt chăn chiếu cho các chị em bệnh tật khi chị không quá đau yếu để tự làm; rửa chân cho những chị em đã đi phục vụ ngoài thành phố và vừa trở về đan viện; chính chị nài nỉ xin được rửa chân cho họ. Người phụ nữ quý tộc, bề trên đan viện, quý Bà Clara: quỳ xuống bên những bàn chân trần bụi bặm của chị em khi rửa chân cho họ. Tôi nghĩ đối với Phanxicô và Clara, hình ảnh rửa chân là bức thánh tượng, hoặc là bức hình vĩ đại nhất, về vị Thiên Chúa là Đấng mà các ngài đã đến để học biết. Quang cảnh quen thuộc của Phúc Âm theo thánh Gioan diễn ra tại nơi mà hẳn là chúng ta chờ đợi khi đọc Tin Mừng theo thánh Matthêu, Máccô và Luca. Là những nơi chúng có bài tường thuật về Bữa tối cuối cùng, về Bí tích Thánh Thể: này là Mình Thầy; này là Máu Thầy. Một cách khiến ngạc nhiên nữa, thay vào đó, Tin Mừng thứ tư, Tin Mừng theo thánh Gioan, lại đặt vào lúc đó một cảnh khác, một cảnh mà Phanxicô và Clara đã suy ngẫm đi suy ngẫm lại sâu xa. Đức Giêsu đứng dậy rời bàn ăn, và cởi áo ngoài ra, thắt lưng bằng một chiếc khăn và bắt đầu rửa chân cho các tông đồ của Ngài. Trong Tin Mừng thứ tư, như được đọc vào thế kỷ 13, và tôi nghĩ rất có thể có lý do chính đáng, việc cởi áo khoác - chiếc áo ngoài - là một cách nói biểu tượng. Bây giờ chúng ta sẽ thấy chân tính đích thực bị che phủ tấm áo này. Tôi không phải là một học giả Tân Ước, nhưng tôi đã được nói cho biết rằng: vào lúc này, đây là một cách khá tốt để đọc bài tường thuật đó của thánh Gioan. Điều chúng ta đang thấy là việc mở ra - việc mạc khải - chân tính đích thực của Đức Giêsu và do đó, chân tính của Thiên Chúa, Đấng đã đến trở nên một thụ tạo trong cuộc nhập thể của Người Con. Người đã đặt mình vào vị thế kẻ nô lệ trong nhà, để rửa chân cho các thực khách, người ấy là một vì Thiên Chúa mà ta khó tới gần được, không phải vì Người quá cao xa vượt bên trên chúng ta, nhưng vì Người quá xa ở bên dưới chúng ta. Trong Tin Mừng thánh Gioan, dường như Phêrô đã hiểu; đây hẳn là một tấm gương khó bắt chước, ông muốn từ chối, và ông bị Đức Giêsu quở trách. Thay vào đó, Phanxicô và Clara lại dùng tấm gương này như mẫu mực hành xử quyền bính trong hai cộng đoàn của các ngài. Phanxicô sẽ nói, những ai là người phục vụ anh em hãy nhớ rằng công việc của họ là rửa chân, và chính Clara sẽ tha thiết làm hành vi rõ ràng thể lý này là rửa chân cho các chị em trong tư cách là bề trên của họ. Một vì Thiên Chúa mà chúng ta không nhận ra được, vì Người đã hạ mình xuống sát đất trong Đức Giêsu, ngang với bàn chân của chúng ta, chứ không ngang với đầu chúng ta. Không phải là một vì Thiên Chúa ở quá cao bên trên chúng ta khiến chúng ta không thể nào đạt tới Người được, nhưng là một vì Thiên Chúa phục vụ chúng ta quá tận tình đến nỗi chúng ta nhìn xuống Người từ trên cao. Đây chính là tấm gương nguy hiểm của vì Thiên Chúa đã tự nguyện chọn sự nghèo khó vì lợi ích của người khác. Biết được rằng đây là chân tính đích thực của chúng ta, thật vậy, rằng Đức Giêsu chỉ cho chúng ta thấy thực sự có nghĩa là gì việc trở nên hình ảnh và nên giống như Thiên Chúa, việc mạc khải cho biết chúng ta thực sự là ai trong tư cách là hữu thể nhân loại, điều này hẳn cũng hàm ý chúng ta phải là những đầy tớ của kẻ khác, phải đi tìm kiếm điều họ cần hơn là điều làm giàu chúng ta. Nếu có một điều gì đó gây sốc hoặc khó nghĩ liên hệ đến di sản của Phanxicô và Clara, và Assisi cho tới tận ngày nay, thì đó là tầm nhìn đầy thách đố về một vì Thiên Chúa đã trở nên nghèo để làm giàu cho chúng ta: một vì Thiên Chúa không ở bên kia chúng ta, bên trên chúng ta, vượt hơn chúng ta, nhưng là một vì Thiên Chúa làm cho chúng ta không thoải mái, bởi vì tiếng nước vỗ quanh các ngón chân chúng ta.
(A. William Short OFM năm 2007. Đã được ghi âm CD với nhan đề Thánh Phanxicô Assisi: Người Kitô hữu theo một cung cách mới, được NYKM: Chevy Chase, MD, USA sản xuất).
|