Skip to content

Bình An và Thiện Hảo

Nơi nào có oán ghét hận thù, xin giúp con xây dựng tình thương.



Hiện có 22 khách 
Linh mục trong tư cách là người nam, người chồng và người cha

linhmuclanguoiTrong lá thư (27-5) gởi các linh mục (LM), nhân việc ĐGH Bênêđictô XVI công bố Năm Thánh LM (2009-2010) vào dịp lễ Thánh Tâm năm nay, Đức hồng y Cláudio Hummes, Tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Sĩ, khẳng định: "Giáo Hội hãnh diện biết bao về các LM của Giáo Hội; Giáo hội yêu mến, tôn kính ngưỡng mộ họ; và nhìn nhận với lòng tri ân công tác mục vụ và cuộc đời chứng nhân của họ" (Zenit 27-5). Để hiểu được như thế, thiết tưởng việc đào sâu căn tính LM, thần học về chức LM, ý nghĩa và ơn gọi và sứ mệnh đặc biệt này trong Giáo Hội và xã hội là điều cần thiết, đặc biệt trong năm LM này. Trong bối cảnh có vẻ ảm đạm về đời sống LM tại các nước Au-Mỹ (mặc dù con số này chỉ chiếm không đầy 4%; trong khi đó 96% là có đời sống sống nghiêm túc), bài viết của cha John Cihak giúp ta có một cái nhìn rất thực về chức LM với những đòi hỏi của nó dưới góc độ nhân học, nhưng tất cả được dựa trên chính Đức Kitô là Linh mục đời đời.

Cuộc khủng khoảng và việc khôi phục tư cách linh mục hôm nay

Cuộc khủng hoảng trong Giáo Hội tại Hoa kỳ, do lạm dụng phái tính trong hàng ngũ giáo sĩ, cho thấy sự cần thiết phải cải tổ và khôi phục hàng giáo sĩ. Về mặt này, nhu cầu canh tân hàng giáo sĩ, cũng như đối với tất cả các kitô hữu, là những thời kỳ kéo dài và kiên trì trong lịch sử Giáo Hội, nó dữ dội hơn các thời kỳ khác. Khoảng năm 1000 là thời kỳ cải tổ của vị thánh giáo hoàng Grêgôriô VII, nhất là trong lãnh vực độc thân giáo sĩ. Vào hậu bán thập niên 1500, Công đồng Trentô và thánh Charles Borromeo, người đã thiết lập hệ thống chủng viện để huấn luyện các linh mục, đã thúc đẩy việc canh tân này. Một số đề nghị cuộc khủng hoảng hiện nay có thể được giải quyết bằng cách cho phụ nữ làm linh mục, cho các linh mục lập gia đình hay cho các linh mục làm việc bán thời gian.

Giáo Hội đề nghị một cách khác. Thời kỳ này, cần phải canh tân hàng giáo sĩ, như trong các thời kỳ trước, nhưng chỉ nhờ việc tái khôi phục yếu tính nền tảng của chức linh mục.

Trong bài viết ngắn ngủi này, tôi sẽ nêu lên một khía cạnh căn bản của con đường canh tân nhờ việc tái phục hồi như thế. Cuộc khủng hoảng hiện nay, được ghi dấu cách sâu xa bởi hạnh kiểm xấu về mặt phái tính,1 một vấn đề trọng yếu cắm rễ ngay trong nhân tính linh mục; một cách đặc biệt hơn đó là căn tính nhân loại căn bản của người ấy trong tư cách là người nam, người chồng và người cha và các mối tương quan tất yếu đi theo chuỗi tương quan khởi đi từ đó. Cuộc khủng hoảng hiện nay, đặc biệt về hình thức của nó là sự suy đồi về phái tính, cách nào đó là bị đẩy tới việc phủ nhận yếu tính nền tảng là người của linh mục. Ơn gọi đầu tiên của mọi kitô hữu là nên thánh, và đối với linh mục nẻo đường dẫn đến sự thánh thiện nằm trong tình yêu với con người toàn vẹn và Trái tim Linh mục của Đức Giêsu. Đức Giêsu vừa bày tỏ, vừa thực hành chức linh mục của Người theo cung cách con người toàn vẹn, và vì vậy các linh mục của Người thi hành chức linh mục được Đức Kitô trao ban cho cũng phải đi theo một nẻo đường là một con người toàn vẹn. Vì nam tính của Đức Kitô thì không thể thay thế được đối với chức linh mục của Người, từ đó chúng ta có thể đi đến kết luận rằng nam tính của các linh mục của Đức Kitô thì hoàn toàn không thể thiếu được trong việc thể hiện tính thánh thiện chức linh mục của Đức Kitô2. Như vậy việc canh tân chức linh mục hiện nay sẽ không diễn ra do thay đổi hay điều chỉnh chức năng của linh mục nhưng bởi việc phục hồi căn tính của linh mục, nhất là căn tính người của linh mục.

Trong các văn kiện của Công đồng Vaticanô II (nhất là Lumen Gentium và Presbyterorum ordinis) và trong huấn quyền thông thường của ĐGH Gioan Phaolô II -Giáo Hội đã rất nhấn mạnh trên tương quan tính vốn gắn liền với con người linh mục. Qua "tương quan tính" chúng ta muốn nói rằng người nam được hình thành chủ yếu trong tương quan với Thiên Chúa và với kẻ khác. Nhưng anh ta liên quan thế nào? Người linh mục thì liên quan theo kiểu mẫu được thiết lập bởi Tôn Sư của mình. Đức Giêsu linh mục thì có mối liên hệ như là người nam, người chồng đối với Giáo Hội, và như người cha trong việc sản sinh sự sống thiêng liêng. Tương quan tính của linh mục theo mẫu tương quan tính của Đức Kitô. Linh mục có quan hệ trong nhân tính của mình như người nam, như người chồng và như người cha.

Một số người lại biểu thị việc canh tân căn tính người của linh mục bằng sự đối lập giữa linh mục chuyên 'phụng tự' và linh mục chuyên 'mục vụ'. Họ nghĩ rằng linh mục 'phụng tự', vì nhấn mạnh - tôi giả định -trên vai trò thánh hoá của linh mục, ắt phải coi nhẹ việc nhấn mạnh vai trò linh mục chuyên 'mục vụ' mà trong đó sự nhấn mạnh tập trung vào phạm vi giáo huấn và cai quản. Tôi không đồng ý với một sự phân đôi như thế vì hai lý do chính. Trước hết, người ta không thể tìm thấy một kiểu nói nào như vậy trong Công đồng Vatican 2 hay một nơi nào khác trong giáo huấn của Giáo Hội. Kế đến, nỗ lực đối lập việc 'phụng tự" (cultic) và "mục vụ" (pastoral) giả định cách sai lầm rằng các chức năng (munera) bộ ba của linh mục - giáo huấn, thánh hoá, và cai quản - cách này cách khác thì cạnh tranh, hay loại trừ lẫn nhau.

Thay vào đó, Giáo Hội có một cái nhìn thoáng hơn. Một giải pháp như thế không vươn tới đủ chiều sâu. Vấn đề không phải là những linh mục chuyên 'phụng tự' hay 'mục vụ' nhưng là những linh mục trong tương quan với con người như những người nam, người chồng, và người cha. Giáo Hội, kể từ Công đồng, nhấn mạnh tới mối tương quan phải là thành phần của toàn thể vai trò của linh mục: mối tương quan mà linh mục đem vào lời giảng dạy của ngài, mối tương quan mà ngài đem vào việc dâng tiến (trong Thánh lễ) và trao ban các Bí tích, và mối tương quan mà ngài đem vào để chăn dắt đàn chiên của Đức Kitô. Linh mục tuôn đổ đời mình bằng tình yêu hiến tế nhờ giáo huấn, thánh hoá và cai quản như một người nam, một người chồng, và như một người cha, được hoạ lại theo mẫu mực mà Đức Giêsu sống chức tư tế của Người. Bác ái mục vụ của linh mục tuôn chảy từ căn tính con người cố hữu của ngài trong tư cách là người nam, người chồng và người cha, để tình yêu Thiên Chúa toả rạng từ nhân tính hoàn hảo của Đức Kitô cũng có thể chiếu toả qua nhân tính bất toàn của linh mục của Người. Như vậy, việc canh tân đời sống linh mục hôm nay sẽ bày tỏ nhân tính của linh mục, nghĩa là linh mục như là người nam, người chồng và người cha.

Linh mục như là người nam

Trước hết, linh mục là một người nam. Điều này có ý nghĩa gì? Người nam được làm ra theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và như vậy được làm ra cho một tình yêu tự hiến. Đó là ý nghĩa sự hiện hữu của người nam. Một mình Thiên Chúa sáng tạo người nam, tuy thế Chúa có ý định hoàn tất điều này qua mối tương quan của người nam với người nữ và bổ sung cho nhau trong sứ vụ3. Đây là điểm quan trọng: người nam không thể đạt được sự hoàn thiện như là người nam mà không có người nữ, và ngược lại. Người nam không thể có được sự hoàn thiện một mình với Thiên Chúa, mà đã được mạc khải trong tình trạng cô đơn của Ađam (St 2,20), hoặc anh ta cũng không thể thực hiện được điều ấy trong tương quan chỉ với những người nam khác. Cũng thế, người nữ không thể nhận được sự toàn vẹn của một mình mình hay chỉ với những người nữ khác, nhưng chỉ qua việc bổ sung mối quan hệ với người nam.

Vì thế, giáo huấn của Giáo Hội không theo thuyết sô-vanh, cũng không theo thuyết nữ quyền, nhưng là nhắm đến con người toàn diện-con người vừa là nam vừa là nữ về thực chất có liên hệ với nhau trong Thiên Chúa. Đây không phải là lối nói khéo, nhưng là Mạc Khải của Thiên Chúa. Xuyên qua mối tương quan cốt yếu này với người nữ, người nam theo trật tự tự nhiên trở thành người chồng và người cha. Một người nam được hoàn hảo và hoàn thiện qua tình yêu vợ chồng và cha con. Hơn nữa, người nam cũng bao gồm cả xác lẫn hồn, và chống lại bất cứ lạc thuyết Angelism hay Jansenism nào, hiện thân của người nam là lành thánh. Sự biểu hiện của người nam được Thiên Chúa định liệu trong công cuộc tạo dựng và là điều cốt yếu đối với khả năng của con người phải trở thành trong tương quan.

Người nam và nữ, đều được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, được kêu gọi để trở nên những người chia sẻ bản chất Thiên Chúa4. Số phận của họ là thông chia đời sống vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi và với các thiên thần và các thánh. Như vậy, người nam phải trở nên thánh, nên giống Thiên Chúa. Anh ta được mời gọi sống đời đạo hạnh, cầu nguyện, và tất cả là một tình yêu tự hiến theo mẫu mực của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, tự mạc khải như là những Ngôi Vị trong tình yêu tự hiến của các Ngài. Sự thánh thiện là ơn gọi phổ quát mà chúng ta lãnh nhận trong bí tích Rửa tội. Là người nam thì vượt qua bên kia cái tôi của mình mà sống với tha nhân và cho tha nhân.

Do tội nguyên tổ, con người là tội nhân mang trong mình những thương tích của nguyên tội và chịu ảnh hưởng của dục tính. Chọn yêu thương là nẻo đường Đức Giêsu đã bày tỏ cho chúng ta, vì thế, đòi hỏi của ân sủng thì thường liên hệ tới sự hy sinh và đau khổ trên thân xác chúng ta. Đức Giêsu gọi các môn đệ của Người đi vào con đường hẹp dẫn đến sự sống (Mt 7,13-14; Lc 13,24), và ân sủng của Người ban cho chúng ta khả năng từ bỏ những ý riêng của chúng ta và khả năng chịu đựng tốt. Khả năng từ bỏ ý riêng của mình và chấp nhận đau khổ để yêu thương nằm ngay ở cội rễ của những gì mà ĐGH Gioan Phaolô II gọi là "sự trưởng thành tình cảm"5. Trưởng thành tình cảm, hay "tình yêu có trách nhiệm" cũng là cái tên mà ngài đã gọi, là khả năng trao ban chính mình cách tự do trong tình yêu. ĐGH Gioan Phaolô II nhấn mạnh đến sự trưởng thành tình cảm như là tiêu chuẩn nền tảng và thiết yếu để có thể đi vào tương quan với tha nhân. Ngài viết, "chúng ta đang nói về tình yêu liên quan tới con người toàn diện, trong mọi khía cạnh - thể lý, tâm thần và thiêng liêng - và được diễn tả ra theo "nghĩa hôn ước" của thân xác con người, nhờ đó một người có thể hiến thân cho kẻ khác và đảm nhận kẻ khác nơi bản thân mình."6 Đối với phần lớn nhân loại, sự trưởng thành tình cảm cần thiết để yêu thương cách vị tha phải đạt được qua cuộc chiến đấu với dục vọng của mình.

Vì thế, là con người Kitô có nghĩa là đón nhận lời mời gọi của Đức Giêsu để đi vào cuộc hoán cải thường xuyên và lâu dài ngõ hầu tiến tới sự thánh thiện cao cả hơn. Một người được mời gọi đến chức linh mục là người phải tập luyện nói "KHÔNG" " với những thú vui bệnh hoạn và những mưu đồ ích kỷ, và nói "CÓ" với ý Chúa và hành động vì điều thiện hảo của tha nhân. Tiến trình này cần lưu tâm đến những thất bại, tội lỗi, và sự yếu đuối của người nam nhờ đó mà ơn Chúa có thể toả sáng. Vì thế, người được mời gọi tiến đến chức linh mục không phải là một người hoàn hảo. Thiên Chúa không kêu gọi các thiên thần làm linh mục, nhưng là những con người (Dt 5,1). Đúng hơn, đời linh mục sẽ hoàn thiện người ấy nếu người ấy ôm trọn lấy cuộc đời, nỗ lực cộng tác với ơn được ban cho để sống chức vụ ấy, và sống chức vụ ấy theo cung cách Đức Giêsu và Hiền Thê của Người (Giáo Hội ) ấn định cho đời sống ấy. Người nam trong tư cách là linh mục là chiếc bình bằng đất từ đó tuôn trào kho tàng thần linh (2 Cr 4,7). Mặc dù chưa hoàn thiện và vẫn là kẻ tội lỗi, một người đang sống lời mời gọi đến chức linh mục phải chứng tỏ một khả năng đầy đủ để hiến thân, và sự tự nguyện phấn đấu tự chủ để nên thánh.

Hơn nữa, sự phấn đấu đạt đến sự thánh thiện đòi hỏi việc mưu cầu nhân đức, điều này thường liên quan đến "công việc lâu dài và kiên trì"7, nhờ đó người ấy kiểm soát những đam mê của mình và gặt hái được sự tự do cần thiết đối với một tình yêu có trách nhiệm.8 Điều này có nghĩa là người ấy phải chân thành và có khả năng nhìn nhận, tận cùng tối thiểu, khi anh ta mắc sai lầm hay thất bại. Vì thế, ở ngay trong căn tính nền tảng người của linh mục là sự cần thiết phải bổ sung mối tương quan với người nữ nhờ đó người ấy trở nên một người chồng và người cha theo cách nào đó, và sự trưởng thành tình cảm của người ấy bộc lộ ra trong và được phát triển nhờ tình yêu hy tế qua đó mà người ấy lớn lên trong sự thánh thiện.

Linh mục như là người chồng

Khía cạnh thứ hai của căn tính nền tảng người của linh mục là khía cạnh người chồng. Đức Giêsu là Đầu và là Hôn Phu của Giáo Hội. Mối tương quan của Người với Giáo Hội là tương quan phu phụôn.9 Linh mục như là người chồng [văn vẻ thì gọi là phu quân (ND)] nhờ tham dự vào tương quan phu phụ của Đức Kitô với Hiền Thê của Người là Giáo Hội.10 Sự tham dự của linh mục trong tương quan phu phụ với Giáo Hội được xem là rõ rệt nhất trong những lời thánh hiến và xá giải của linh mục nơi mà đại từ "TÔI" của Đức Kitô và đại từ "TÔI" của linh mục là một.

Một linh mục nỗ lực yêu mến Giáo Hội với Trái Tim của Đức Giêsu thì tình yêu của ngài là tình yêu của một người chồng. Mối tương quan phu phụ của linh mục với Giáo Hội là nền tảng cho lời tuyên hứa của ngài về đời sống độc thân khiết tịnh bền vững. Mối tương quan phu phụ của linh mục được diễn tả trong những lời tuyên hứa mà ngài thực hiện vào lễ phong chức về sự độc thân, tuân phục, và kinh nguyện, cũng như trong cố gắng của ngài theo các lời khuyên Phúc âm về sự nghèo khó, khiết tịnh và tuân phục, mà linh mục giáo phận tuy không khấn cách minh nhiên nhưng dù vậy vẫn cấu thành đức ái mục vụ của chức linh mục của Đức Kitô. Để tham dự vào mối tương quan phu phụ của Đức Kitô với Giáo Hội nghĩa là đời sống của người ấy phải phù hợp với cách thức mà trong đó Đức Kitô đã yêu thương hiền thê (vợ) của mình: nhờ toàn bộ hy tế của chính Người trên thập giá. "Mẫu mực đời sống của bạn dựa trên mầu nhiệm Thập giá của Chúa," mà vào ngày lễ thụ phong linh mục được bảo khi Giám mục đặt chén và dĩa thánh trong tay của linh mục.

Tình yêu phu phụ của linh mục đối với Giáo Hội, ví như tình yêu của Đức Kitô và tình yêu của tất cả các cuộc hôn nhân Kitô giáo, thì nhất thiết vừa kết hợp vừa sản sinh theo cách thức thiêng liêng. Linh mục cố gắng nên một với Hiền Thê là Giáo Hội theo mẫu gương Đức Kitô, Đấng nên một với Hiền Thê là Giáo Hội của Người. Người hiến dâng Giáo Hội tâm trí của mình (1 Cr 1,16) và sự hiệp nhất của Người với Chúa Cha (1 Cr 3,23). Người nuôi dưỡng, bảo vệ và yêu mến Giáo Hội như chính máu thịt của Người (Ep 5,28-30). Khía cạnh kết hợp của tình yêu phu phụ của Người có thể được tìm thấy trong lời Tuyên xưng Đức tin và Lời Thề Trung tín mà linh mục thực hiện trước khi lãnh nhận các chức thánh. Linh mục thề trước Thiên Chúa rằng ngài sẽ nắm giữ như của riêng mình những gì mà Hiền Thê của ngài nắm giữ làm của riêng mình, rằng ngài sẽ để hiền thê xác định ngài và những xác tín của ngài.

Một thí dụ khác của khía cạnh kết hợp là sự bất đắc dĩ, thậm chí cả khó khăn, và giữa nỗi đau buồn sâu xa mà Hiền Thê phải chấp nhận một sự miễn trừ sống độc thân cho một linh mục muốn ra đi và lập gia đình vì điều này có thể dẫn đến một sự vi phạm khía cạnh kết hợp của tình yêu phu phụ của linh mục đối với Giáo Hội11. Tình yêu của hiền thê là một tình yêu hay ghen. Khía cạnh sản sinh của tình yêu phu phụ là dấu chỉ thấy hiển nhiên trong bí tích Rửa tội và bí tích Giải tội, thật vậy nơi đó linh mục hoàn toàn sinh ra sự sống thiêng liêng mới mẻ, hay trong hy tế thánh lễ mà canh tân hôn ước của Đức Kitô với Giáo Hội.

Như một phu quân, linh mục yêu thương Hiền Thê của mình và hiến thân cách quảng đại cho nàng. Ngài sẵn lòng và vui mừng dành thời giờ, sức lực và các tài nguyên cho những ai được uỷ thác cho ngài. Ngài bảo vệ họ khỏi bị tổn hại. Tình yêu sản sinh của linh mục nhận thấy trong sự nhiệt tình của ngài đối với Phúc Âm-mà nhờ đó các thành viên của Hiền Thê ngài sẽ tiếp nhận một đức tin sống động. Đúng y như công việc của một người cha không phải chỉ là việc sinh ra con cái, nhưng cũng còn giáo dục và huấn luyện chúng nữa, cũng thế linh mục được uỷ thác cho việc giáo dục và huấn luyện con cái thiêng liêng mà ngài đã sinh ra. Giáo Hội như thể là Hiền Thê được cụ thể hoá cho linh mục, quan trọng hơn hết là nơi Đức Maria Trinh Nữ Rất thánh, Đấng tỏ bày cách cụ thể cho linh mục khuôn mặt nữ tính của Hiền Thê ngài là Giáo Hội.12 Như thế, người nam được mời gọi đến chức linh mục là người phải có khả năng, và có hướng chiều về, là một người người chồng và người cha tốt trong hôn nhân Kitô giáo. Người ấy sẽ nỗ lực sống các lời hứa đặc biệt của mình, cũng như đức nghèo khó, khiết tịnh và tuân phục, như là sự bày tỏ tình yêu phu phụ của mình đối với Giáo Hội. Sứ vụ linh mục của ngài. Thừa tác vụ linh mục của ngài hiệp nhất ngài mãi mãi kề cận hơn nữa với hôn thê của mình là Giáo Hội và phát sinh sự sống thiêng liêng trong Giáo Hội.

Linh mục như là người cha

Nam tính của linh mục và tương quan phu phụ với Giáo Hội làm cho linh mục thành người cha. Một tình yêu chân thực luôn phát sinh sự sống, và trong trường hợp của linh mục thì chính là đời sống thiêng liêng và vĩnh cửu. Thánh Charles Borromeo thường đưa ra những quy chiếu tới các linh mục của ngài, khi ngài là giám mục Milanô. Trong lời khai mạc hội nghị mà thánh Borromeo đọc tại công nghị giáo phận vào ngày 20-4-1584, ngài đã nói: "Bà đang có thai và kêu la đau đớn" (Kh 12,2) trong sách Khải huyền, Gioan đã nói mối bận tâm người mẹ, trong ngài chúng ta tiếp tục lên tiếng. Ôi đau đớn thay, ôi tiếng khóc than của Giáo Hội! Bà kêu la với những lời van xin trong sự hiện diện của Thiên Chúa, và trong sự hiện diện của anh em qua miệng lưỡi của tôi, đang công bố lời Thiên Chúa cho anh em. Dường như tôi đang nghe thấy tiếng của Giáo Hội với hôn phu của mình là Chúa Giêsu Kitô, điều mà trước kia Rachel đã nói với Giacóp chồng bà, "cho tôi có con đi không thì tôi chết mất" (St 30,1). Tôi thật sự khao khát người con được sinh ra. Thực ra tôi nghĩ đến mà phát sợ về sự cằn khô này; vì thế trừ khi anh em đến với Đức Kitô và trao cho tôi nhiều người con, chính xác vào chính lúc này tôi sắp chết. Đây là nghị lực của một người mẹ đáng yêu nhất, nơi người phần lớn chúng ta đã quy tụ tại đây. Đặc biệt là tôi mong mỏi điều này, để chúng ta có thể có điều kia.

Trong thâm ý những lời của ngài là Mẹ Giáo Hội kêu khóc với Phu Quân thần linh, và với những ai tham dự vào trong mối tương quan phu phụ của Đức Kitô, vì con cái. Tình yêu phu phụ của linh mục nhất thiết là phải sản sinh. Vì thế, linh mục của Đức Giêsu, không phải là một công chức, một tay làm thuê, một giám đốc điều hành, hay một kẻ hám danh, nhưng là một người cha.

Chúng ta quen gọi các linh mục là "cha." Tuy nhiên đó không phải là cái tên mang tính ẩn dụ hay mang màu sắc thi ca. Tư cách cha của linh mục là thật vì nó là sự tham dự vào trong tư cách cha thần linh (1 Cr 4,15, Ep 3,15). Vì thế, tư cách cha của linh mục được thiết lập bởi tư cách làm Cha của Chúa Cha trên trời mang tính tổng thể, hoàn tất việc tự hiến. Chính Chúa Cha, Đấng trao ban chính mình để sinh hạ ra Con, và rồi để cứu độ chúng ta, Người đã trao ban cái quý giá nhất của Người là chính Con của Người. Để thấy Chúa Cha thì ta cứ nhìn vào khuôn mặt của Chúa Con (Ga 14,9)-thật khiêm nhường biết bao! Là một người cha, LM không bỏ gia đình mình hay dùng gia đình cho lợi ích riêng tư của mình, nhưng đúng ra, trước hết là phải hy sinh đối với gia đình mình. Ngài phải háo hức xây dựng và sinh ra sự sống thiêng liêng mới trong gia đình mình.

Như thế, người nam được gọi làm linh mục phải nỗ lực từ khước những khát vọng và những dự phóng riêng của mình, và đảm nhận thừa tác vụ của mình là ngôn sứ-tư tế-vua là một lối diễn tả về chức linh mục thiêng liêng của mình. Thừa tác vụ linh mục phát sinh sự sống thiêng liêng trong Giáo Hội. Thừa tác vụ linh mục dẫn đưa Hiền Thê của mình dọc theo con đường của thần hoá, của sự thánh thiện, của sự biến đổi nên giống Đức Kitô, là linh mục tối cao.

Những lưu ý kết luận

Trong việc canh tân hàng giáo sĩ hiện nay, Giáo Hội nhấn mạnh trong các giáo huấn của CĐ Vaticanô II và của ĐGH Gioan Phaolô II, người linh mục là biểu thị cho mối tương quan như là người nam, người chồng và người cha. Sự khôi phục mối tương quan vốn có này, luôn là thành phần thiết yếu của chức linh mục của Đức Giêsu, sẽ mang lại sự phục hồi trong việc giáo huấn, thánh hoá và cai quản của linh mục.

Với sự tập trung cao độ này trên bản chất được định hình bởi ân sủng của chức linh mục, chúng ta có thể bắt đầu hiểu cách sâu xa hơn những giải thích mới đây và chuyên biệt hơn của Giáo Hội về đời sống linh mục, chẳng hạn, nhắc lại việc phong chức linh mục chỉ dành cho những người nam mà thôi hay sự độc thân bắt buộc để diễn tả cách thích đáng tình yêu phu phụ của Đức Kitô là phu quân của Giáo Hội.13 Sự tập trung vào linh mục như là người nam, người chồng và người cha cũng nhấn mạnh đến giải thích mới đây rằng những người nam có những xu hướng đồng tình luyến ái "thâm căn cố đế" không thể được chấp nhận là những ứng viên cho chức linh mục, vì một xu hướng như thế nhất thiết ám chỉ tới một sự phủ nhận tình trạng bổ sung của người nữ, một sự phủ nhận về mối tương quan phu phụ của người ấy với Giáo Hội và là một sự từ khước tư cách làm cha thiêng liêng của người ấy14. Điều này thì không khó hiểu đối với nhiều chắt lọc mới đây hơn về mặt trí thức, nhất là dưới ánh sáng giáo huấn của Giáo Hội về con người, nhưng có lẽ có thể đó là một sự chắt lọc khó chấp nhận đối với một số người.

Bài báo này điều tra nghiên cứu cuộc canh tân chức linh mục dựa trên một cuộc tái phục hồi căn tính dựa trên yếu tố căn bản người của linh mục như là một người nam, như người chồng và như người cha. Căn tính căn bản nhân loại này, được ban cho người nam trong việc tạo dựng của người ấy, cũng được mạc khải trong chính Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ con người15. Căn tính dựa trên nền tảng người của linh mục như là người nam, người chồng và người cha bởi vì Đức Giêsu liên kết trong chức linh mục của Người như là người nam, người chồng và người cha. LM được mời gọi trở thành và đi vào mối tương quan sâu xa trong căn tính nền tảng người của mình, bao gồm sự yếu đuối và cả sự nhạy cảm của ngài, để nhân tính của ngài -thực sự là toàn bộ nam tính của ngài -trở nên một cầu nối cho kẻ khác gặp gỡ được với Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ con người, và như thế dẫn đưa họ đến với sự sống Trời Cao.

Về phần mối tương quan cố hữu của ngài, mối tương quan quan trọng nhất của linh mục là tương quan với Đức Giêsu Kitô. LM nào không có mối tương quan sâu xa với Đức Giêsu thì không hiện hữu trung thực cách trọn vẹn với Đấng mà anh được mời gọi trở thành, và anh không thể hướng dẫn kẻ khác một cách an toàn đến với Người được. Từ mối tương quan sâu xa đó với Đức Giêsu, LM có thể lớn lên trong tương quan với kẻ khác theo một cung cách người hơn nữa, mà qua đó kẻ khác có thể có được nhờ mối tương quan sâu xa của LM với Đức Kitô. Chính trong sự yếu đuối và nhạy cảm của ngài, một khi được lấp đầy với ơn Chúa, mà LM biết mình phụ thuộc và luôn cần tới ơn Chúa. Sự yếu đuối của ngài nhắc nhở ngài rằng, ngài không phải là một hòn đảo, nhưng ngài cần sự trợ giúp từ trên cao và từ kẻ khác. Mặc dù tương quan của ngài với Đức Kitô và kẻ khác và sự nhận biết về những yếu đuối, tính cách riêng tư và những cạm bẫy của mình, nhưng LM vẫn có thể được nắn đúc trong nhân tính của mình để trở nên chiếc cầu cho kẻ khác đến với Đức Kitô và đến với sự sống thần linh. Một sự tái xác định căn tính nền tảng người của LM là nẻo đường cho việc canh tân đích thực hôm nay.

Cha John Cihak, có bằng Tiến sĩ thần học thánh (STD) là LM thuộc Tổng giáo phận Portland, Oregon. Ngài làm việc tại các Khoa chuyên ngành Huấn luyện tại chủng viện Mount Angel từ 2001-2004, kể cả là giám đốc Human Formation từ 2002-2004.

Antôn Vũ Hữu Lệ (dịch)


1 Điều quan trọng phải thấy ngay từ đầu rằng giáo sĩ lạm dụng phái tính không chỉ có tại Hoa Kỳ mặc dù phần lớn phương tiện truyền thông tập trung vào đó. Hơn bao giờ hết, phương tiện truyền thông đã miêu tả xì-căng-đan như là một vấn đề của sự ấu dâm (pedophilia). Các cuộc nghiên cứu, được các GM Hoa Kỳ uỷ thác, về việc giáo sĩ lạm dụng phái tính giúp chúng ta có được một sự hiểu biết tốt hơn về bản chất của cuộc khủng hoảng, được tô vẽ còn đậm nét hơn các bản tin của phương tiện truyền thông, và tôi tin vào những ủng hộ đang gây tranh luận trong bài báo hiện nay. Dữ liệu của John Jay Report trong năm 2004 cho thấy rằng một phần rất lớn những LM phạm tội thực ra không phải là những trường hợp ấu dâm. Các Dữ liệu khẳng định rằng 81% những nạn nhân bị lạm dụng là nam (19% là nữ) với 78% trong số những nạn nhân ở giữa độ tuổi từ 11 đến 17. Hơn nữa, 77% trong số linh mục phạm tội đã lạm dụng các trẻ vị thành niên và 63% trong số các nạn nhân nam ở giữa độ tuổi 14 đến 17. Như vậy, một phần rất lớn các nạn nhân thực sự là những thanh niên sau tuổi dậy thì. Cuộc nghiên cứu cho biết thêm rằng một phần lớn linh mục phạm tội có một hay hai nạn nhân. Các thống kê như thế chỉ ra rằng cuộc khủng hoảng do lạm dụng phái tính thì ít có vấn đề ấu dâm (pedophilia) và nằm ở vấn đề những khuynh hướng đồng tình luyến ái thâm căn cố đế nhiều hơn (x. John Jay Report, phần 4.3, 69-70; Hiệp Hội Y học Công giáo, To Protect and To Prevent: The Sexual Abuse of Children and Its Prevention, 2006, 5-6.)

2 GLGHCG, số 1577.

3 GLGHCG, số 371-372

4 Công đồng Vaticanô II. Dei Verbum, 2.

5 Gioan Phaolô II. Pastores Dabo Vobis (PDV), 1992, số 43-44.

6 sđd, số 44.

7 GLGHCG, số 2342.

8 GLGHCG, số 2337-2339, 2342.

9 St 2,21-25; Ga 19,34-37, Ep 5,23-25, Kh 21,2.

10 CĐ Vaticanô II. Presbyterorum ordinis, 2; PDV. 16, 22. Hội Thánh khẳng định căn tính của mình như Hiền Thê không chỉ trong giáo huấn của mình mà còn trong Phụng vụ nữa, chẳng hạn, trong bài Công bố Tin Mừng Phục sinh (Exultet), trong phần Nhập lễ Cung Hiến Thánh Đường, và trong phần Tưởng Niệm (anamnesis) của KNTT III. LM như người chồng đối với Giáo Hội có một định hướng thần học vững chắc nơi các Giáo phụ. Hướng vững chắc khác trong các Giáo phụ là LM như người bạn của Chàng Rể. Tôi nhấn mạnh đến chiều hướng đầu trong khi vẫn công nhận tầm quan trọng của hướng thứ hai. Hai khuynh hướng này có liên hệ với nhau. Khuynh hướng đầu cho thấy LM thực sự tham dự vào tương quan phu phụ của Đức Kitô với Hiền Thê của Người. Khuynh hướng thứ hai nhắc nhớ LM rằng ngài không phải là Đức Kitô, và như thế việc chia sẻ của ngài trong mối tương quan phu phụ của Đức Kitô là dự phần vào chứ không phải là đồng nhất (căn tính).

11 Điểm này được thực thi đối với các LM thuộc Nghi lễ La-tinh, nhưng cũng cho thấy sự thích hợp của truyền thống cổ xưa của sự tiết dục bắt buộc đối với các giáo sĩ. x. Stefan Heid, Celibacy in the Early Church: The Beginnings of a Disciple of Obligatory Contience for Clerics in East and West (San Francisco: Ignatius Press, 2000).

12 Vì lý do này, tôi tin rằng, PDV (x. số 46), và Những chỉ dẫn về Thừa tác vụ và đời sống LM (Directory on the Ministry and Life of Priests) (x. số 60, 68, 85) nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đời sống linh mục và lòng tôn sùng Đức Trinh nữ Maria. Một sự bổ sung về người nữ không bao giờ được huỷ bỏ hoặc bỏ lại lời hứa tự do độc thân của LM. Sự bổ sung này không đe doạ sự độc thân của LM, nhưng thực sự nâng đỡ sự độc thân ấy về mặt thiêng liêng vì sự bổ sung của người nữ là cần thiết cho sự hoàn hảo của người ấy trong tư cách là một người nam.

13 ĐGH Gioan Phaolô II. Ordinatio Sacerdotalis, 1994. Giá trị biểu tượng to lớn của lời thề hứa tự do độc thân của LM trong việc bày tỏ tương quan phu phụ của Đức Kitô với Giáo Hội là một lý do thuyết phục tại sao Giáo Hội La-tinh phải thi hành hết sức cẩn trọng trong việc phong chức LM cho những người đã có gia đình.

14 Thánh bộ Giáo Dục Công giáo. Những chỉ dẫn liên quan đến Tiêu chuẩn Biện phân Ơn gọi đối với những Người có Xu hướng Đồng tình luyến ái trong việc xem xét cho nhận vào Chủng Viện và lãnh nhận các Chức Thánh, 2005.

15 x. PDV, số 43.