Skip to content

Bình An và Thiện Hảo

Lạy Chúa, xin tỏa ánh tôn nhan Ngài trên chúng con.



Hiện có 25 khách 
Nhìn lại đời mình (Hồi ký linh mục Đinh Huỳnh Hoa, ofm)

dinhhuynhhoa_phaoloTôi không viết nhật ký, vì thế để nói về cuộc đời mình, tôi phải nhớ lại từ đầu. Đây là một dịp tốt để nhớ lại cuộc đời cá nhân tôi, đặt mình trước mặt Chúa, đưa con người mình ra trình diện trước Đấng là Chủ tôi. Ước mong khi viết lại như thế, tôi thấy lại chính mình, thấy lại những hồng ân Chúa đã ban để từ đó tôi tiếp tục dâng lên Người tâm tình tri ân cảm tạ. Tôi cũng xin những ai dám hy sinh thời gian đọc những dòng chữ này, cũng cùng tôi nhận ra Đấng luôn nâng đỡ tôi, bảo vệ tôi và quan phòng gìn giữ tôi suốt cả cuộc đời. Hãy hiệp ý với tôi mà cám đội ơn Chúa.

Quả thật, tôi không thể hiểu được tại sao tôi vẫn còn sống đến hôm nay, nếu không có sự can thiệp của Chúa, một sự can thiệp trực tiếp và rất hiển nhiên. Nối kết mọi biến cố quan trọng trong đời lại, tôi còn xác tín hơn nữa sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa bên cạnh tôi. Không thể nói là may rủi. Không thể nói là may mắn trùng lặp. Tôi xin lặp lại cách mạnh mẽ: Không thể có sự trùng hợp liên tục cả thời gian dài sáu mươi năm cuộc đời. Chỉ có Chúa là Đấng tốt lành, mọi sự tốt lành đều đến từ Chúa. Bao điều tốt lành tôi đã nhận và đã được hưởng, không một tác giả nào khác có thể cho tôi được như thế.

Tôi xin bắt đầu kể.

Tuổi thơ

Như bất cứ ai được diễm phúc sống lâu trên đời này, tôi cũng có một tuổi thơ. Thời thơ ấu của tôi rất đơn sơ, nhưng cũng nhiều điều để kể. Tôi sinh ra ngày 24-07-1948, theo giấy khai sinh mà mãi khi di cư vào Nam cha tôi mới làm cho cả gia đình, lúc đó là chín người cả thảy. Trong Nam, cha mẹ còn cho tôi thêm hai đứa em nữa. Tôi khó hưởng được thành quả khoa học của khoa tử vi, vì người ta thường nói “tuổi di cư”, tức là tuổi khai không mấy chính xác. Cha tôi nhớ đại khái rồi khai trước hai nhân chứng, thế là nhân viên sở hộ tịch đánh máy và phát lại cho mỗi người một “Bản sao y bản chánh thế vì khai sinh”. Ngay mẹ tôi cũng nghi ngờ về độ chính xác của con số ngày tháng ấy khi nói tôi sinh trước đứa này đứa kia trong làng.

Thời ấy, làm lại khai sinh hay sửa lại tên tuổi, ngày tháng năm sinh không khó lắm. Anh cả tôi cùng với mấy anh cùng lứa tuổi đã rủ nhau nâng thêm tuổi để được đi bỏ phiếu cho Tổng thống Ngô Đình Diệm trong cuộc trưng cầu dân ý nhằm lật đổ vua Bảo Đại. Về sau bị gọi đi quân dịch trước tuổi, họ mới thấy đã trót dại, nhưng đã muộn. Mãn quân dịch, anh tôi khiếp luôn nghề làm lính! Năm 1960, năm cuối cùng Tiểu học của tôi, Nhà trường thông báo ai muốn làm lại Giấy khai sinh thì ghi tên. Đó là dịp một số bạn học của tôi ở Trường đổi tên hoặc đổi tuổi. Tôi không thay đổi gì cả.

Quay trở lại thời quá khứ trẻ hơn, thời còn ở Miền Bắc. Lúc bấy giờ tôi khôn lớn như thế nào, tôi không biết rõ. Tôi chỉ nhớ khi còn nhỏ, các chị tôi dẫn đến thăm bà con họ hàng, ai hỏi gì, tôi chưa dám trả lời. Các chị bảo tôi trả lời, tôi vẫn im lặng. Có lẽ tuổi trẻ thời đó không hồn nhiên bạo dạn như bây giờ. Cũng có thể tôi nhút nhát hơn những em bé khác? Các chị đi dự chầu lượt ở nhà thờ Giáo xứ Nghi Lộc chúng tôi hoặc ở các Giáo xứ lân cận cách làng tôi khoảng vài ba cây số như Phi Lộc, Đông Phú, Xuân Phong, tôi vẫn được đi theo. Thỉnh thoảng các chị mua bắp luộc cho tôi ăn. Bà con tại các Giáo xứ tổ chức chầu lượt thường cho chúng tôi thưởng thức các thổ sản địa phương như mía, trái cây...

Trò chơi của tôi cũng như bao đứa trẻ khác trong làng khá đơn giản. Chúng tôi lấy ống đu đủ, gắn tổ sâu hoặc lá chuối vào làm kèn để thổi. Chúng tôi lấy bẹ cau khô làm ngựa để phi bằng đôi chân của mình. Chúng tôi rình bắt chuồn chuồn, lấy sợi chỉ cột đuôi xách đi chơi hoặc cho nó bay trong tầm tay của mình. Lớn hơn một chút, chúng tôi chơi đánh đáo (đào một cái lỗ nhỏ, đứng từ xa ném lọt tiền vào lỗ là được ăn, những đồng tiền chồng lên nhau, ném cho chúng văng ra khỏi nhau cũng được ăn). Có khi chúng tôi chơi gụ (con quay). Gụ đứa nào đổ trước phải đi trước cho những đứa khác chọi. Có đứa chọi rất chính xác, có thể găm mũi đinh làm bể đôi con gụ của bạn mình.

Các trẻ gái không chơi gụ, chúng thường chơi thẻ với nhau. Trò chơi thẻ chỉ cần một bó đũa, ném trái chanh lên và dùng tay vơ đũa ở dưới, làm sao kịp bắt trái chanh khi nó rơi xuống là được. Một trò chơi khác khá lý thú, đó là chơi nổ: mỗi đứa một cục đất sét, dạt nó ra thật mỏng và vén nó lại như một cái nồi, ném xuống đất thế nào cho nó nổ tung ra. Phải khéo tay ném sao cho vành nồi rơi xuống đều, không khí bên trong bị dồn làm nổ tung đít nồi càng lớn càng tốt, vì những đứa khác phải lấy đất sét của chúng trám kín phần bị khuyết ấy cho mình. Đứa thắng là đứa thu hết dần số đất sét của những đứa khác. Những trò chơi bịt mắt bắt dê, chơi u hoặc chơi cúp bắt cũng rất hấp dẫn chúng tôi.

Chúng tôi cũng thích đá banh lắm. Nghĩ lại thấy thật thê thảm! Banh chúng tôi đá với nhau chỉ là một mớ lá chuối khô hoặc giẻ rách bó tròn lại. Đứa nào tìm được một cục cà rếp (cao su đế dép) độn vào giữa, trái banh rơi xuống đất có thể nẩy lên một vài gang, đó là trái banh lý tưởng. Những anh lớn hơn biết cách dùng trái bưởi xanh, nướng chín, lăn đi lăn lại cho thật mềm. Đó cũng là một loại banh thuộc hàng quí hiếm.

Bác Đinh An và cha tôi, Đinh huỳnh Lục, là hai anh em ruột. Dì An (tên thật là Vũ thị Lương) và mẹ tôi, Vũ thị Huề, là hai chị em ruột. Hai anh em ruột bên trai lấy hai chị em ruột bên gái. Hai gia đình anh em cả bên cha lẫn bên mẹ. Hai gia đình ở gần nhau, chỉ cách nhau một con đường đất nhỏ. Tôi nhớ, lần kia, tôi sang nhà Bác An chơi. Phía sau nhà Bác có cây đu đủ, dưới gốc có đống gạch. Tôi leo lên đống gạch, với tay giật một lá đu đủ khô, tay cầm lá ấy rồi, tôi còn với giật thêm một lá khác. Bất ngờ tôi rơi bịch xuống đất. Không biết làm sao mà mông xuống trước chứ không phải chân? Tôi bị bại luôn. Những người khác phao tin rằng tôi đu lá đu đủ nên té! Từ đó mỗi khi di chuyển, tôi cứ lết bằng mông, đưa chân ra phía trước, chống hai tay, đưa cả người rướn tới. Cứ thế tôi di chuyển khá nhanh. Tôi chưa biết mặc cảm là gì. Dần dần, sau một thời gian chạy chữa, cha tôi phải sắm cho tôi một cái xe đẩy bốn bánh bằng tre, tôi vịn vào chiếc xe ấy tập đi quanh sân. Cuối cùng, tôi đi lại bình thường. Nếu bị tật suốt đời, không biết tôi sẽ ra thế nào?

Một bệnh khác, tôi cũng xin thành thật khai báo. Không biết có khoa học không hay chỉ là trùng hợp? Tôi đái vào đống than lửa, khói bốc lên người. Sau đó tôi bị sưng phù nguyên “bọc”. Nó sưng phù lên như cái bong bóng. Cha tôi tìm đâu về một ông thầy thuốc. Ông khám cho tôi. Ông tuyên bố tôi bị phù thũng. Ngoài các thứ thuốc khác, tôi nhớ một chai dấm tôi uống lâu dài, con dấm trong chai lớn dần. Có con dấm ấy, khi uống gần hết, cha tôi lại pha chế thêm chai khác. Cuối cùng tôi cũng khỏi bệnh.

Tôi đi qua lại nhà bác tôi thường xuyên. Bên bác có anh Đường và anh Hướng cùng lứa tuổi với tôi. Chúng tôi hay chơi chung với nhau. Sân nhà bác An láng xi-măng. Xi-măng lúc ấy hiếm lắm, nghe nói từ Hà Nội hay Hải Phòng mua về, không mấy nhà có. Nhà xây cũng chỉ dùng vôi đá làm hồ thôi. Sau mỗi cơn mưa, sân xi-măng sao mà trơn thế! Đang đi tự nhiên trượt té ngửa ra sau nghe tiếng “độp”. Sờ sau ót thấy u lên một cục to. Tôi về nhà leo lên giường nằm. Tối đến, cha tôi đi làm về thấy thế bèn la cho tôi một trận. Trò chơi ấy tôi khó chừa quá! Không biết bao nhiêu lần tôi bị u đầu như thế mà vẫn không bỏ được.

Bắt đầu có trí khôn

Bác tôi trồng một vườn nho sau nhà. Những chùm nho từ dàn thòng xuống trông rất cám dỗ. Chúng tôi chẳng bao giờ được ăn. Nho ấy bác tôi thu hoạch xong, đem ép làm rượu rồi đưa lên cho cha xứ làm lễ (Cha Phêrô Bùi Nhật Nghiệm). Chúng tôi chỉ được ăn xác nho còn lại. Bã nho lạp xạp chẳng ngon lành gì.

Một lần kia, tôi và anh Hướng bàn nhau ăn trộm một chùm nho. Chúng tôi mang chùm nho chôm được lên trên chuồng trâu nhà bác ngồi ăn. Chắc không ai biết mất chùm nho. Hay có người biết mà làm ngơ cho. Chẳng thấy ai hỏi han gì về chùm nho ấy cả. Nhưng hai đứa chúng tôi luôn nơm nớp sợ bị đánh. Nếu bị phát giác, có lẽ anh Hướng sẽ bị phạt nặng hơn, vì anh là người nhà.

Tôi đã biết tận dụng thời cơ tốt ấy. Mỗi lần thấy anh Hướng cầm ăn củ khoai hay trái bắp, tôi xin. Hễ anh Hướng từ chối, tôi chỉ cần dọa: “Tao mách”. Thế là anh phải cho tôi ngay. Mãi về sau, thấy chuyện xảy ra lâu rồi, anh Hướng không còn sợ nữa, tôi dọa mách, anh trả lời hiên ngang: “Cho mày mách”. Tôi hết đường làm ăn!

Nói vậy, chứ thuở ấy tôi còn dại lắm! Bác tôi hoạt động trong tổ chức Liên đoàn Công giáo. Khi Cộng sản nắm quyền, bác tôi đi tù cùng nhiều ông khác trong làng thuộc hàng trí thức. Bác tôi chết trong tù. Nghe nói bị tiêu chảy ra máu mà không được một viên thuốc nào nên chết! Nghe tin buồn, cha tôi nước mắt rưng rưng. Dì An ngồi bên bếp khóc hùi hùi nhiều ngày liền. Tôi chẳng hiểu chuyện gì, chỉ bắt chước tiếng khóc của dì tôi để trêu chọc anh Hướng (nay anh là cha Gioan Đinh Tiến Hướng).

Nhiều lần chết đuối

Ngày nay, khi thấy ai có hồ cá cạnh nhà, tôi cảm thấy lo cho những đứa bé nhà đó và các nhà lân cận. Quả đã có những em nhỏ chết đuối trong hồ nước nhà mình. Bản thân tôi hồi nhỏ đã gặp mối nguy hiểm ấy nhiều lần. Trẻ em rất thích nghịch nước.

Số là chung quanh nhà tôi có nhiều ao, hào, rộc. Gia đình bác An và gia đình chúng tôi có chung một cái ao lớn, do ông bà nội để lại. Đó là ao tắm của đông đảo trẻ em trong làng. Trâu và người cùng tắm chung một ao. Quanh ao có bờ đê. Trên bờ đê có hàng tre đan kín không chui qua được. Chỉ có một lối nhỏ đi ra cánh đồng lúa phía bên kia gọi là Rộc Bưu.

Trò câu cá cũng là sở thích của tôi khi chưa đến tuổi khôn. Không có lưỡi câu, tôi lấy một chút lưới tủ bếp, bẻ cong lại, cột đầu sợi chỉ, thế là có thể câu được. Có khi tôi cột sợi chỉ thẳng vào chút mồi trùn, tôi cũng câu được cá lia thia, cá bọt nước, cá cấn, cá mại, những loại cá to bằng một hai ngón tay trở xuống. Tôi ngồi trên mé bờ ao thả câu, khi thì hai ba đứa cùng tuổi, khi chỉ câu một mình. Hơi cúi xuống quá trớn, ngồi không cẩn thận, chuồi xuống theo đất trơn, với lấy cần câu khi lỡ tay để rơi xuống nước, đó là những lúc tôi dễ bị mất hăng bằng và lọt tủm xuống ao.

Cha mẹ tôi có riêng một cái hào sát sau nhà, hào rau muống. Nước khá sâu. Muốn hái rau muống, phải vừa bơi vừa hái. Cây rau cắm rễ dưới bùn, vươn dài lên trên mặt nước, lớp rễ ngang mặt nước đan kết lại thành những mảng dầy đặc. Một chiếc cầu gỗ nối từ bờ ra xa được khoảng hai hoặc ba mét. Đó là nơi rửa chân hay rửa rau. Cầu nằm sát mặt nước nên mặt cầu bị bám rêu, rất dễ bị trơn trượt. Tôi cũng hay bước xuống rửa ráy hoặc đứng câu cá trên chiếc cầu này.

Chúng tôi còn có rộc mùng. Rộc này nhỏ nhưng dài. Nước cạn. Mẹ tôi thường xuyên bẻ mùng, hái rau muống đem ra chợ bán.

Bờ ao, bờ hào và chiếc cầu gỗ trơn, đó là ba nơi nguy hiểm cho tính mạng của tôi nhiều nhất. Nhiều lần tôi rơi xuống ao xuống hồ lúc không có ai ở đó. Bấy giờ từ dưới nước mở mắt nhìn lên, tôi thấy trên đầu nước và ánh sáng loáng thoáng mà không sao nhô đầu lên khỏi mặt nước được. Tôi tiếp tục uống nước! Bỗng nhiên có người nhảy xuống vớt tôi lên. Lạ thật! Tôi ra ao chơi một mình, rơi xuống nước chết đuối không ai biết. Thế mà bao giờ cũng có người cứu. Người đó có thể là anh Trương, anh cả tôi, có thể là chị Mai tôi, có khi đó là chị Đồng, chị con bác An...

Ao chung hai gia đình chúng tôi có nhiều cá: cá mè, cá gáy, cá lóc, cá rô v.v...Thỉnh thoảng tôi thấy tát ao. Hồi đó tát cạn một cái ao lớn như thế quả là một công trình. Tát bằng gầu, mỗi góc ao một đôi gầu, mỗi gầu hai người cầm dây hai bên và tát hết ngày này sang ngày khác. Ai mệt ra nghỉ, người khác vào thay. Giai đoạn nước đã cạn tương đối, thanh niên trong làng đổ xô tới, mỗi người một cái nơm. Số cá nơm được sẽ chia đôi, một phần cho bên chủ ao, phần còn lại người nơm được mang về. Khi nước gần cạn thì không được nơm nữa. Số cá vớt lên hoàn toàn thuộc chủ ao. Ai mua, cân bán tại chỗ.

Theo thời gian, tôi làm quen với nước. Chính cái ao này đã giúp tôi có nơi để tập bơi. Tôi biết bơi là do tự tập luyện. Trong khi những trẻ lớn hơn bơi được ra tắm xa bờ, tôi chịu khó tắm sát bờ ao. Ở đó có một tảng đá to. Nghe nói ông cố nội tôi là người rất khỏe, ông vác hai vai hai khối đá từ đâu về đặt ở đó. Có lẽ chỉ là một truyền thuyết? Tôi không tin sức người có thể làm được chuyện đó. Khối đá ấy chúng tôi thường lên ngồi chơi. Người lớn ngồi trên đó giặt giũ. Những đứa bơi giỏi đứng trên đó phóng mình xuống nước. Tôi bám hai tay vào tảng đá, hai chân đập lên đập xuống. Lúc đầu người cứ chìm. Dần dần người nổi lên được. Về sau, thả xuống một cây chuối, những đứa không biết bơi cứ ôm cây chuối ấy mà bơi ra bơi vào. Chẳng bao lâu, tôi đã tự bơi vòng quanh ao được. Biết bơi rồi, tôi tập lặn. Lặn ngắn rồi lặn dài hơn. Lặn cạn rồi lặn sâu. Tôi trở thành một tay bơi lội khá giỏi ngay từ nhỏ.

Khi đánh cá trong ao, tôi thấy người lớn dùng đủ phương tiện để đánh: nhiều người dùng nơm, người khác dùng nhủi bắt cá nổi, một vài người dùng vó. Phải người thật khỏe mới kéo nổi vó giữa ao. Tấm lưới vó khá lớn. Tôi căn khoảng cách chiếc lưới và biết tôi có thể lặn qua được. Chờ khi vó bắt đầu thả xuống, tôi lặn từ bên này qua bên kia chiếc vó. Lần kia, không hiểu tại sao tôi lặn chưa qua kịp, lưới vó đè lên. Tôi vùng vẫy. Thời gian nhấc cao vó lên cũng mất ít phút, tôi bị sặc nước. Tất nhiên khi nổi lên được tôi đã khóc, những người lớn thì cười.

Lúc tát ao, tôi thấy một cái cống được đào xuyên bờ đê ao dẫn nước ra phía ngoài. Từ phía ngoài ấy, hai người dùng gầu tát nước lên đồng ruộng. Cống vừa lọt một người chui qua. Một lần kia, lúc ao đã đầy nước. Tôi từ phía ngoài đồng ruộng muốn vào phía trong. Để khỏi phải đi vòng xa mà vào theo cửa trổ, tôi chui theo cống này mà vào. Tôi căn khoảng cách của bờ đê, biết sức mình có thể lặn qua được. Trước hết, hố phía ngoài cũng ngập đầy nước, tôi phải lặn xuống. Tay lần ra miệng cống, tôi chui vào. Khi lặn gần qua bờ đê, tôi hết hồn. Cống đã bị đắp kín phía trong! Tôi nhanh trí quay ngược lại thật gấp. Cũng may, đất hai bên khá mềm, tôi đảo người lại được. Lần ấy, tôi đã lặn lâu và xa gấp đôi sức mình. Khi trở về điểm xuất phát, tôi kiệt hơi nhưng cũng mừng thầm vì suýt chết ngộp. Giả như, điều này chắc chắn đã không hề xảy ra, nếu tôi chết ngộp trong cống, không ai biết tôi ở đâu để tìm xác. May ra, lần tát ao sau đó, ít là một năm sau, khi thông lại miệng cống, tát cạn nước mới biết mớ xương ấy của ai. Hoặc nếu đó là cống xi-măng, tôi không cách nào quay đảo người lại được, cũng không thể lặn lùi được, số phận tôi kể như đã được an bài!

Chăn trâu và té trâu như cơm bữa

Gia đình cha mẹ tôi có nhiều đất ruộng nên phải nuôi trâu cày. Một số đất riêng, một số đất ông ngoại tôi cho làm. Ông ngoại tôi thương mẹ tôi vì mẹ tôi là con út. Mẹ tôi cho biết ông bà làm ăn cần cù, con cái lao động vất vả. Của làm ra không dám tiêu xài hoang phí. Ông tôi lo lắng cho tương lai con cháu. Nghe nói ở đâu bán đất, dù giá cao đến mấy, ông tìm mua cho được. Đất đai chia cho con cái làm, nhưng ông đứng tên giấy tờ sở hữu. Không ngờ thời thế xoay vần, căn cứ trên giấy tờ, ông bà ngoại tôi bị xếp hàng địa chủ. Đất đai mất hết. Chủ nhân đi tù.

Ông ngoại tôi tên Vũ Văn Dương. Dân chúng thường gọi là ông Trùm Dương. Chúng tôi chỉ gọi là Ông Trùm, Bà Trùm. Ông rất nghiêm, ít là theo tôi suy đoán thế. Tóc ông bạc, vấn một búi ở phía sau theo kiểu các cụ xưa, gọi là vấn tóc cu. Đi đâu, ông tôi luôn mang theo cây dù. Mỗi lần sang thăm, ông ở lại ăn trưa, mẹ tôi đều tráng cho riêng ông một dĩa trứng gà. Ông ít chơi đùa với cháu chắt. Tôi thấy ông thường ngồi trong mùng lần hạt. Chúng tôi cũng chẳng dám quấy rầy ông. Các ông cậu, các bà dì tôi dù đã có con có cháu vẫn kính sợ ông đúng phép. Không ai dám trái lệnh.

Một lần kia tôi sang nhà ông chơi, nhà ông ở xóm đông, cách nhà cha mẹ tôi một cánh đồng lúa không xa lắm. Chúng tôi ở xóm nam. Thấy trong vườn ông có cây đào lông sai trái. Tôi thèm ăn. Tôi đánh bạo vào phòng ông xin một trái. Ông la: “Để chín mà ăn chứ đào xanh mà ăn uống gì?” Nói thế nhưng ông tiếp ngay: “Ra hái một trái.” Tôi ra cây đào, đi vòng quanh chọn một trái ưng ý. Mấy gia đình cậu mợ tôi sống trong cùng khu vực (sống theo kiểu xã hội, nhà kế tiếp nhau), ai nấy ngạc nhiên thấy tôi dám tìm hái đào như thế trong khi chính bản thân họ sống tại chỗ không ai dám hái trái nào. Nghe ai đó nói một tiếng “Ông cho”, không ai còn thắc mắc.

Khi ông ở tù vì là địa chủ, mỗi lần được báo tin chuyển nhà tù, các cậu tôi sai con cái mang võng đi cáng ông. Tất cả tiền của chôn giấu đều bị đào bới mang đi hết. Của hết, đất hết, người bị đuổi ra khỏi nhà. Vất vả một đời cuối cùng trở về tay không, lại còn mang vạ! Thời cải cách, xét thấy ông tôi giàu nhờ lao động chứ không bóc lột ai, ông tôi được phục hồi danh dự, được trả lại vài gian nhà để ở. Chỉ thế thôi!

Trở lại chuyện con trâu. Tôi hầu như làm chủ con trâu này. Ngày ngày đi chăn trâu hoặc dắt trâu đến khu đất cha tôi chỉ định để cày ngày hôm đó. Những ngày Chúa nhật và lễ nghỉ, các anh chị tôi đi chăn thay, tôi được nghỉ. Tôi thường ngồi trên lưng trâu khi trâu ăn. Có khi tôi nằm ngủ trên lưng trâu. Nhiều khi tôi ngồi trên cổ trâu, hai tay nắm hai sừng trâu. Trâu cứ thế gặm cỏ. Khi mỏi cổ, nó ngẩng đầu lên, tôi hiểu ý, tôi chuồi sang ngồi trên lưng nó. Chẳng bao giờ tôi đội mũ nón, dù trời nắng chang chang. Da tôi đen thui thủi vì thế. Chiều về, hai bắp đùi tôi được bọc một lớp mồ hôi trâu đen nhánh, lúc đó tôi chỉ mới biết mặc áo thôi.

Tôi chứng kiến sự thay đổi từng giai đoạn của con trâu. Thời còn là con nghé nhỏ mới mua về tôi không hề hay biết. Nghe nói khi mới mua về, con nghé này ăn cạnh một cái hố ao. Con trâu ông Ngận, một địa chủ trong làng, hất nó lọt xuống hố, phải dùng đòn bắn kích nó lên. Từ đó, con nghé chúng tôi bị tật ở đầu gối hai chân sau. Tật này không ảnh hưởng gì đến sức khỏe của nó, nhưng bớt chút thẩm mỹ. Khi bước đi, hai đầu gối va nhẹ vào nhau phát ra tiếng “xẹt, xẹt” nho nhỏ, da không hề bị trầy.

Con trâu đực này không thiến. Đến tuổi trưởng thành, nó bộc lộ dần nam tính của nó. Thời gian dậy thì, nó là đối tượng đáng ghét của đàn trâu trong làng. Gặp nó ở đâu, những con trâu khác nhào vô tấn công. Chiều nào ra về, hai bên cổ nó cũng đầy những vết thương nứt xé, các vết cũ chưa kịp đóng vảy, những vết mới đã xuất hiện. Người nó ngứa ngáy. Trên đường về, nó thường đi ép sát các bụi tre bên đường cho đã ngứa. Nếu tôi không để ý rút chân về một bên hoặc kéo trâu ra giữa đường mà đi, chân tôi cũng bị gai tre cào sướt! Thịt tôi lành. Thịt trâu cũng lành. Các vết thương không cần xức thuốc cũng tự lành. Nếu muốn, rắc lên đó một chút đất bột, vết thương khô lại, đông vảy và lành dần. Cha tôi dạy, khi bị trâu dậm (đạp chân lên), cứ đá vào chân nó. Tôi làm thế, chân tôi cũng hết sưng dần.

Khi con trâu thật sự trưởng thành, gọi là lên mờm, cổ nó to tròn như cái vại, sức mạnh nó đạt đỉnh cao. Bấy giờ, không con trâu nào trong làng địch lại nó. Nó tấn công, cả bầy đều bỏ chạy. Đây là thời gian tôi gặp nạn nhiều nhất, đặc biệt khi nó gặp con trâu ông Ngận. Nó có trí nhớ lạ lùng. Nó luôn nhớ mối thù xưa lúc nó còn nhỏ. Hễ thấy trâu ông Ngận từ xa, nó nghênh một cái, hoặc “ẹ” một tiếng là tôi biết có chuyện. Tôi chưa kịp nhảy xuống, nó đã vọt đuổi rồi. Dĩ nhiên, tôi rơi “bịch” xuống và nằm dài trên đường đất. Tôi vùng dậy ngay đuổi theo trâu để bắt nó lại. Nhiều khi phải chạy sang làng khác mới bắt được. Có khi tôi ghì dây mũi, nó tỏ ra ngoan ngoãn như bỏ qua. Nhưng thình lình, lúc tôi không ngờ, nó phóng đi, tôi té xuống đất! Té trâu thường xuyên, có lẽ thân tôi nhẹ nhàng co giãn được nên không bao giờ gãy tay gãy chân cả.

Một lần kia, sau ngày cày vất vả, trên đường về, cha tôi và tôi ghé xuống ao làng rửa tay chân và cho trâu uống nước. Không biết sao, trâu ông Ngận cũng tới đứng trên bờ ao đúng lúc ấy. Trâu chúng tôi ngưng uống nước, vội vàng lên bờ tấn công trâu ông Ngận, tôi ghì dây lại, cha tôi cùng nhảy vào phụ tôi. Chúng tôi ghì chặt dây, đầu nó chúi sát đất và cứ kéo tới. Một lát sau, dây mây tuột lọt qua lỗ mũi nó, hai cha con chúng tôi té nhào với cái dây (quê tôi gọi là chạc mũi). Chúng tôi đuổi theo, chúng tôi gặp lại cả hai con trâu trong một đám lúa ở làng khác, làng Tú Mỹ, giáp ranh làng Nghi Lộc chúng tôi. Mỗi con một góc, không nhìn thấy nhau vì lúa tốt.

Trâu khỏe húc nhau khỏe nhưng làm cũng khỏe. Nếu nhờ lao động mà thành người thì tôi bảo đảm con trâu chúng tôi đáng được thành người và đã thành người từ lâu. Không hiểu con cháu nó nay ở đâu và bao đời nữa sẽ hóa người? Ruộng lúa mùa nắng đất nứt nẻ dọc ngang. Trâu kéo, lưỡi cày xẻ đất đi vèo vèo. Những luống cày lật sang một bên những mảng đất to. Phải dùng vồ (súc gỗ đặc tra cán vào giừa) đập nhỏ ra mới trồng tỉa được mùa khác. Đương nhiên, khi đang cày mà thấy có con trâu nào khác đi ngang qua đó, nhất là con trâu ông Ngận, cha tôi phải vội vàng tháo cày ra ngay. Nếu không, nó tha cả cày đuổi theo thì rất nguy hiểm, nguy hiểm cho người đi đường, cho chính nó hoặc cho cái cày! Thỉnh thoảng nó mang cả cày đến chỗ vũng nước hay vũng bùn mà lăn. Xảy ra như thế, cha tôi dùng roi đánh nó và bắt nó quay trở lại làm việc. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy như thế là oan cho nó. Da trâu được cấu tạo khác da bò. Bò kéo cày suốt ngày nắng không sao. Da trâu chịu nắng dở, da trâu mau bị khô và lưng nó nóng bỏng. Lâu lâu nó phải chạy vào bóng mát nghỉ một lát cho hạ nhiệt hoặc tìm ngâm nước ngâm bùn. Trời mưa hoặc trời râm mát, cày bừa suốt ngày đối với nó không thành vấn đề.

Trước khi di cư vào Nam, tôi dắt trâu đi trước, cha tôi đi theo sau. Chúng tôi đưa trâu đi bán ở một cái chợ khá xa. Đến nơi, tôi thấy có nhiều đàn trâu bò tập trung về đó. Có lẽ đó là chợ bán gia súc? Tôi thấy cha tôi và người mua mà cả nhau giá con trâu. Mỗi khi bên này bên kia ra một giá, hai người đập tay nhau một cái “bốp”. Khi giá đã thỏa thuận xong, cha tôi nhận tiền. Tôi trao chạc mũi vào tay chủ mới, tôi thấy trâu chúng tôi chảy nước mắt! Con trâu cũng khóc? Nó biết nó đổi chủ? Chủ mới dắt nó đi, tôi nhìn theo, tôi thấy nó cũng ngoan ngoãn từ từ bước theo sau chủ mới.

Di cư

Sự thay đổi chế độ ở Việt Nam không thuận lợi cho người Công giáo. Các cha xứ lần lượt bị đấu tố và đi tù. Các trí thức trong Giáo xứ cũng không tránh khỏi tù ngục. Những cảnh đấu tố hãi hùng xảy ra khắp nơi. Có đêm, một đoàn người đạp xe từ đâu kéo về tổ chức đêm đấu tố tại làng tôi, họ vừa chạy vừa hô to: “Tố khổ, nói khổ, anh em nông dân vùng lên!” Những người khác đáp: “Vùng lên!” Hai tay họ vung nắm đấm lên cao. Khi chưa biết gì, tôi cũng được theo các chị đi biểu tình. Hễ nghe xướng “Hoan hô...” thì mọi người “Hoan hô” theo. Hễ nghe xướng “Đả đảo...” thì ai nấy “Đả đảo”. Lần kia, tôi nghe xướng “Barăngcóc muôn năm”. Chẳng biết đó là ông nào, có lẽ là một lãnh tụ Liên Xô nào đó. Khi về nhà, tôi kể lại: “Họ nói Ba-răng -cóc muôn năm.” Cha tôi bảo tôi nói bậy, coi chừng chết bây giờ! Nhưng mẹ tôi bênh: “Thì nó nghe như rứa mà!” May mà không ai hay biết cái nói bậy của tôi. Một chú bé trong làng chưa có trí khôn, lớn hơn tôi vài tuổi, dại dột bôi phân trâu lên ảnh cụ Hồ dán bên đường, chú bé cũng bị nhốt mấy ngày đấy!

Một dịp chầu lượt kia của Giáo xứ tôi, vào lúc xế chiều, giáo dân các Giáo xứ khác trong Giáo hạt Đông Tháp, Giáo phận Vinh, ùn ùn gánh gồng đi qua Giáo xứ tôi. Họ đi Nam. Họ phao tin đồn: “Có tàu quốc tế về đưa người vào Nam”. Dân làng chúng tôi cũng vội vàng ra đi, ai vơ được cái gì thì vơ. Người lớn kẻ bé nhao nhao lên khắp làng. Mẹ và các chị tôi gồng gánh đi theo đám người này. Cha tôi ra chặn đường: “Cha xứ còn ở nhà đó, đi làm gì? Đi phải có quốc tế về đem đi rõ ràng, chứ đi như thế này thì đi làm gì?” Mẹ tôi cưỡng lại: “Người ta đi hết rồi đó tề!” Tất cả mẹ con chúng tôi ra đi theo dân chúng. Cha và anh cả tôi ở lại.

Đi qua các làng lương dân, trời tối, người ta ra đường ngăn cản hoặc bắt trẻ con giữ lại. Thanh niên và các ông trong đoàn phải từng tốp mang gậy gộc đi đi lại lại dọc theo đoàn để bảo vệ. Chúng tôi vào tập trung ở Trường Tập, thuộc Giáo xứ biển Xuân Phong. Mấy dãy nhà Trường Tập người chật ních. Ban đêm dân chúng trải chiếu trên cát mà ngủ. Mấy ngày ở đó tôi và nhiều người khác bị tiêu chảy, bước qua người này người khác mà chạy. Thật là cơ khổ vô cùng! Ngày kia, đi theo các chị ra đường, tôi chứng kiến cảnh tốp bộ đội kéo một ông già. Bốn anh cầm hai tay hai chân ông cụ mà kéo đi xềnh xệch. Có lúc lưng ông cụ sa xuống chạm đất, họ cứ thế mà kéo. Chắc chắn lưng cụ phải trầy da nhiều lắm! Về sau tôi kể lại điều mình thấy, người lớn cho tôi biết đó là một ông địa chủ. Tôi cũng nghe nói, sau đó ít lâu ông chết!

Sau những ngày cực khổ, chẳng thấy Ủy hội quốc tế đâu, chẳng thấy con tàu nào đến chở, đoàn người lại lục tục quay trở về. Cha tôi ở lại làng đã bị bắt đi tù. Anh cả tôi ở nhà bắt gà dì An ăn thịt, gia đình dì An cũng đi hết trong đoàn người ấy. Lúc dì trở về, mẹ tôi phải đền cho dì mấy con gà. Cha tôi thuộc loại có ăn học trong làng, biết đọc biết viết chữ Nôm và chữ quốc ngữ, có nhiều suy nghĩ đúng. Thời ấy chính quyền phát động phong trào Bình dân học vụ, cha tôi cũng dạy một lớp. Học sinh toàn các ông các bà lớn tuổi. Người ta chăng một câu biểu ngữ ngang đường, các bà đi chợ phải đọc được câu đó mới được cho đi qua. Cha tôi bị nhốt ở nhà tù Đô Lương, chắc không xa lắm, bởi vì các anh chị tôi đi bộ mang cơm thăm nuôi hàng ngày được. Khi cha tôi bị chuyển đi xa, gia đình không phải mang cơm nữa.

Vùng Nghệ An chúng tôi bị kiểm soát nghiêm nhặt. Cả làng ai cũng muốn di cư vào Nam, thế nhưng chính quyền chỉ cho đi nhỏ giọt, ưu tiên những thành phần cương quyết nhất. Nhà chúng tôi luôn bị theo dõi. Ngày ngày cán bộ ở đâu đến “mạn đàm”. Nội dung mạn đàm chung quy cũng chỉ là: “Đi Nam làm gì? Đừng đi Nam. Trong Nam đói khổ! Trong Nam, người ta ăn thịt con nít! Ở nhà làm ăn...” Tôi chưa biết gì, nhưng tôi nghe mẹ tôi lúc nào cũng nhất quyết đòi đi Nam. Mẹ tôi nói với cán bộ tuyên truyền: “Khổ cũng đi, chết cũng đi!”

Gia đình tôi bị liệt hàng “Phú nông”. Chúng tôi ăn uống đầy đủ. Có khi, không hiểu trước hay trong thời Cộng sản đã chính thức cầm quyền, tôi thấy những gia đình khác trong làng mang gánh đến nhà chúng tôi đong lúa rất đông. Tôi không biết là họ vay hay mua. Có những đêm, do thỏa thuận trước (?) nhiều người lạ mang gánh đi từ phía cửa ao đến nhà chúng tôi mua tiền đồng. Ngoài cửa ao là cánh đồng lúa, đi theo con đường đó không phải gặp bất cứ ai, vì nhà chúng tôi là nhà đầu tiên. Chó sủa inh ỏi nhưng không thấy ai phát giác. Mẹ tôi cân và bán tiền đồng cho tốp họ gánh về, cũng theo cửa ao cá.

Chúng tôi có thể ăn cơm trắng. Tuy nhiên, do bị rình rập, cơm chúng tôi cũng phải nấu độn bắp, độn cà pháo hoặc độn khoai lang hoặc bầu bí.

Thỉnh thoảng tôi thấy mẹ tôi phải giấu cơm trắng dưới “mươn” (một thứ bàn ăn đan bằng tre) khi có người lạ xuất hiện. Có lẽ thời ấy không ai được quyền ăn cơm trắng?

Không thuyết phục nổi mẹ tôi, chính quyền đành cho gia đình tôi đi Nam. Có lẽ cũng có sự giúp lời của ông Chức, người tại địa phương làm cho họ? Mẹ tôi hứa cho ông ta một gian nhà. Các gian còn lại nhờ ông trông coi. Ao rau muống, rộc mùng, mẹ tôi để lại cho ông thu hoạch... Chúng tôi đi có lợi cho ông Chức thợ rèn này, đương nhiên ông ủng hộ cho chúng tôi ra đi. Mẹ tôi đòi cán bộ (ông Truy) cho cha tôi về để cùng đi chung. Ông hứa cứ đi rồi họ sẽ trả lại cha tôi sau.

Chúng tôi được lệnh ra đi ban đêm, không được cho ai biết. Dĩ nhiên số gia đình ra đi Nam ấy không tránh được sự tỉnh táo của đàn chó trong làng. Tiếng chó sủa vang. Dân làng thức dậy. Những người được đi vui mừng, những người không được đi khóc ròng! Chúng tôi đi bộ khá xa. Các ông vác, các bà gánh hành trang. Các em nhỏ được người lớn bồng bế hoặc được đặt ngồi trong thúng cho người lớn gánh đi. Đến nơi tập trung, mấy chiếc xe chạy bằng than đã chờ sẵn. Chúng tôi lên xe, chen chúc nhau lúc nhúc trong những chiếc xe kín mít. Tôi lọt ở giữa đám đông chẳng nhìn thấy gì, chỉ thấy xe lúc lắc khi chạy và có cảm giác như xe chạy thụt lùi vậy. Đó là lần đầu tiên chúng tôi được đi xe ô-tô. Ở làng tôi, có những lúc mấy anh chị lớn hơn rủ nhau đi...Tôi nghe họ nói đi coi ô-tô. Chắc họ phải đi đâu xa lắm mới thấy được chiếc ô-tô khi hay tin có ô-tô chạy qua đó.

Vào tới Vinh, cách làng chúng tôi khoảng 40 cây số, chúng tôi được phân tán ra ở trong các nhà dân địa phương. Gia đình tôi ở trong một gia đình lương dân khá tốt. Thỉnh thoảng họ cũng cho chúng tôi một ít khoai lang. Ngày ngồi chơi loanh quanh lẩn quẩn. Tối tập trung lại học tập. Nội dung vẫn là vận động ở lại làm ăn, đừng đi Nam. Có cả một số người miền Nam tập kết ra cũng được giới thiệu lên tiếng. Họ cũng kể bao nhiêu cái khổ ở trong Nam. Nghe nói cũng có một hai gia đình quay về? Thật hay cò mồi nhử những người khác? Khó biết được. Một đêm kia, cha tôi được tha tù và được cán bộ dẫn tới. Chắc mẹ chúng tôi biết. Lũ nhỏ chúng tôi ngủ say chẳng biết gì. Chúng tôi chỉ gặp thấy cha khi chúng tôi thức dậy vào ban sáng. Như thế gia đình chúng tôi họp mặt đầy đủ. Nhiều gia đình khác ít may mắn hơn, khi chồng ra tù thì vợ con đã đi Nam. Cảnh chồng Bắc vợ Nam suốt nhiều chục năm trường đau khổ thương nhớ. 

Một thời gian sau lại nghe thông báo đóng tiền. Cán bộ cho biết định mức mỗi người phải đóng. Ai đóng đủ mới được đi. Ai không đóng đủ sẽ ở lại. Những gia đình hăng hái đóng tiền được xe chở đi. Những gia đình khác tiếp tục ở lại. Gia đình chúng tôi thuộc số không đóng nên ở lại... Cuối cùng, mọi gia đình còn lại cũng đều được đưa ra Cửa Hội, bến cảng ở Vinh. Ông cán bộ Truy xuống thuyền tiễn chân đoàn chúng tôi ra khơi. Khi chúng tôi bước lên tàu lớn, ông mới chào và quay trở vào bờ. Thì ra, những gia đình đóng tiền đi trước và những gia đình không đóng tiền cũng đều gặp lại nhau trên cùng một chuyến tàu.

Chúng tôi đi chuyến tàu 19, tàu của Tây (Pháp). Mấy ông Tây mắt xanh lè như mắt mèo. Nhiều người trong chúng tôi lần đầu tiên thấy loại người mắt xanh như thế. Vài ông tỏ ra thân thiện đến gần các em bé. Chúng sợ khóc thét lên. Đi tàu Tây là một may mắn: cơm nước đầy đủ. Sáng chúng tôi được phát sữa, bánh mì. Trưa và tối, chúng tôi có cơm, thịt heo và cam tráng miệng. Những gia đình đi tàu Ba Lan phải bỏ tiền ra mua cơm. Họ kể họ đi trên tàu Ba Lan phải chịu đói và thiếu thốn mọi thứ!

Tàu há mồm ra khơi chở chúng tôi và đổ chúng tôi xuống Touran (Đà Nẵng). Chúng tôi rủ nhau theo mấy anh chị lớn chạy nghịch trên bãi cát, lượm mấy ống lon, máy đánh chữ hư về gõ “lách cách” chơi. Nhưng chỉ mấy giờ sau, có lệnh đi tiếp. Chúng tôi lại lên tàu đi về Sài Gòn. Khi gần tới nơi, chúng tôi thích thú nhìn những chiếc máy bay bà già lượn vòng và nhào lộn trên bầu trời như chào đón chúng tôi. Đoàn người rời tầu sắp hàng đi lên đất liền, mỗi người lãnh một ổ bánh mì, hai hộp cá mòi và 500 đồng. Đó là một số tiền lớn thời bấy giờ. Mẹ tôi cất giữ số tiền cho cả gia đình. Nghe đâu số tiền này mẹ tôi để rơi hoặc ai lấy đi dâu mất! Hồi ấy, tiền giấy từ 10 đồng trở xuống được quyền xé đôi cho tiện tiêu xài, chẳng hạn bạn có một đồng trong tay, muốn mua 5 hào cà rem, bạn cứ gấp đôi tờ giấy một đồng lại, xé ra hai phần đều nhau rồi lấy một phần trả tiền cà rem, phần kia cất vào túi để dành.

Xuân Trường (Biên Hòa) là điểm tạm cư. Nhiều gia đình ở chung dưới một mái lều (nhà bạt). Tôi không biết thời gian ở đó là bao lâu. Những anh chị lớn đi lượm hạt cao su đem bán lấy tiền tiêu. Bọn nhỏ chúng tôi lấy vỏ lon hộp cá, đục lỗ hai đầu, vót tre xỏ xuyên qua, lắp vào đó bốn cái nắp bia, cột vài thước dây, thế là chúng tôi có một chiếc xe kéo đi chơi suốt ngày. Cuộc trưng cầu dân ý chọn tổng thống giữa ông Ngô Đình Diệm và vua Bảo Đại được thực hiện trong thời gian này. Dân di cư đều coi ông Diệm như vị ân nhân và dồn phiếu cho ông Diệm. Đã đến lúc phải ổn định chỗ ở. Một số đại diện được đưa đi coi đất và chọn chỗ. Lúc đó tôi nghe người lớn nhắc đến hai nơi: Buônmathuột và Bình Giả. Các vị đại diện đánh giá và chọn. Họ chọn Bình Giả.

Trại định cư Bình Giả

Bình Giả là miền đất rừng hoang vu thuộc Tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), cách Sài Gòn 123 cây số. Đất ở đây màu đỏ, mùa nắng đất khô, gió tung bụi mù trời; mùa mưa đất mến người, đất bám vào đế giày đế dép lớp này lớp khác. Đến lúc bạn kéo lê không nổi, bạn phải dừng lại, gạt đất ra khỏi giày dép rồi đi tiếp cho đến khi gạt đất lần khác. Hoặc muốn chắc ăn, bạn xách dép mà đi chân không.

Các nhà bạt được dựng lên ở khu chợ Bình Giả hiện nay, sát con đường đá dẫn vào lô cao su Xuân Sơn cách đó khoảng 6 cây số. Công nhân đồn điền cao su Bình Ba sáng đi qua con đường đá này vào Xuân Sơn làm việc, chiều ra. Bình Ba cách Bình Giả 7 cây số. Hai đồn điền cao su này thuộc cùng một chủ Tây. Cánh rừng Bình Giả có nhiều cây cổ thụ, nhiều cây ăn trái hoang dại: trái bin to gần bằng trái dưa hấu nhưng ruột đặc treo lủng lẳng trên dây leo, dùng để nấu canh; trái quéo hột to thịt ít, các bà ngồi ăn hết rổ này đến rổ khác; trẻ em thích trèo hái du da. Những người lớn rủ nhau đi đào khoai mài, khoai vạc gai. Tối đến họ gánh về từng bao bố. Khoai này luộc ăn trừ cơm được. Vài ngày sau trận mưa đầu, nấm mối nhô lên khắp nơi. Rau dền gai mọc lên từng lớp dày non mơn mởn, cứ việc mang liềm mang rổ ra hái về xào hay luộc, rau ngọt tuyệt! Muốn đổi món thì đi bẻ măng tre về xào. Rừng tre bạt ngàn.

Hàng viện trợ được chuyển về liên tục. Áo quần chia ra từng đống cho bắt thăm. Gạo, đường, bột mì, bột bắp, bơ, sữa, pho mát được cấp theo số người trong gia đình. Chúng tôi chỉ thấy bột bắp dễ ăn hơn cả, quấy vào nước sôi và đun tiếp cho đến lúc chín, cho vào ít dầu hoặc đường, chờ bột đông đặc lại, xắn ra từng cục cầm tay ăn. Bột mì cũng có thể làm kiểu đó, nhưng thường phải dùng muỗng múc. Bơ và pho mát, dân di cư không ham chút nào. Không mấy ai biết ăn mấy thứ lạ này. Người ta đem cho hay bán rẻ, hoặc đục nắp đổ ra cho heo ăn, giữ lại cái vỏ làm gàu múc nước. Cái vỏ quí hơn cái ruột!

Nói đến nước, tôi nhớ một kỷ niệm: Hồi ấy, Bình Giả chưa có giếng. Giếng phải đào sâu 18 đến 20 mét mới có nước. Ngày ngày xe nhà binh, không mui, chở nước từ Bình Ba về cung cấp cho dân Bình Giả. Nước chứa trong những thùng phuy (loại 200 lít), thả vòi từ trên xe xuống cho dân hứng vào thùng sắt tây (thùng dầu loại 20 lít). Khi xe đi chở chuyến khác, một ít người được tài xế cho mang thùng đi theo lấy nước riêng cho mình. Trẻ em chúng tôi rất thích đi xe ô-tô. Một lần kia, tôi bám đàng sau xe, chưa kịp vào trong, xe đã chạy. Đường đá cục khiến xe chạy không êm. Cách nơi xuất phát hơn một cây số... Tôi thấy mình được một người bà con cầm tay dắt đi vào trạm xá. Thì ra tôi đã đi như thế mấy trăm mét mà không hề thấy và hay biết gì. Phải chăng tình trạng mộng du cũng giống như thế? Khi băng bó xong ra về, anh bạn tôi cho tôi biết là tôi té xe. Bấy giờ tôi mới nhớ là mình leo theo xe và đã rơi xuống đường đá. Chúa đã không sai thiên thần đến nâng đỡ tôi! Không, chắc có sự nâng đỡ, nếu không tôi đã bị nặng hơn? Chiều tối, cha tôi về, nhìn thấy tôi bị thương nằm trên giường, cha tôi không an ủi, không vui mừng vì tôi thoát chết, trái lại cha tôi còn la mắng tôi! Các vết thương cứ chảy nước, phải chạy chữa nhiều ngày sau mới khỏi.

Cỏ tranh um tùm tốt lút đầu người. Rắn rít nhiều. Bò cạp vàng nhỏ. Bò cạp đen to. Trong lều, mỗi gia đình có một bộ phản gỗ và chiếu để nằm. Chung quanh phản chất chồng các thùng các tông quần áo hoặc lương thực viện trợ. Một lần mở thùng các tông, một con bò cạp đỏ chích tôi. Tay tôi đau nhức và sưng nhiều ngày, không cầm được gụ để chơi với bạn bè! Đêm tối kia, rắn lục chui vào lều, mẹ tôi vừa đặt chân xuống đất đã bị rắn lục cắn. Mẹ tôi có cảm giác như đạp phải dùi nhọn, soi đèn sáng mới nhận ra con rắn, phải ra trạm xá chích thuốc ngay. Chân mẹ tôi sưng nhức khoảng một tuần lễ!

Thú rừng rất đa dạng: voi, cọp, trâu rừng, nai, trăn... Mấy nhóm thợ săn di cư đã bẩy được cọp, trâu rừng, nai. Họ xẻ thịt chia nhau hoặc đem bán cho dân. Mấy anh Bảo an Đoàn từ Tỉnh về công tác. Trẻ em chúng tôi đi theo họ ra đồi Gia Hòa, chỉ cách lều chúng tôi ít trăm mét. Họ đi săn. Mỗi phát súng nổ, bầy vượn la hét inh ỏi. Vượn bay từ ngọn cây này sang ngọn cây khác cách nhau khá xa. Da ở nách chúng trải ra trông như cánh dơi. Hôm đó tôi thấy họ bắn chết được ba con vượn lớn, một con vượn con còn sống ngơ ngác bò quanh xác mẹ nó.

Người lớn bắt đầu xây dựng trại. Thanh niên vào rừng đốn tre, các bà cắt cỏ tranh. Các cụ chẻ tre đánh tranh. Số khác đập dập những ống tre lớn, duỗi thẳng chúng ra làm vách nhà. Cột và đòn tay đã được cấp phát. Các dãy nhà hai gian mọc lên dần, thẳng hàng thẳng lối. Mỗi nhà có một mảnh vườn dài 60 mét, rộng 30 mét, trước nhà có một con đường chạy dài từ đầu Trại đến cuối Trại. Một em bé qua đời, cha mẹ bươi cỏ tranh đưa xác em đến nơi chôn cất. Tưởng đã đi vào rừng được xa lắm, họ đào huyệt chôn xác ở đó. Về sau, ngôi mộ này nằm ngay ở hàng tư, nghĩa là chỉ cách trung tâm chưa tới 200 mét!

Nhà làm xong, cuộc bắt thăm bắt đầu. Vì có nhập thêm Anh Huân, con cậu Tường, vào Nam một thân một mình, gia đình tôi đông người, được bắt thăm lấy hai căn nhà. Ai cũng mơ ước được căn nhà ở hàng nhất dọc theo đường lộ chính. Những người bắt trúng nhà ở hàng sáu và hàng bảy thì khóc ròng, vì sát rừng, họ sợ voi, sợ cọp. Lần lượt các nhà ở xa ấy đã được dân làng xúm nhau khiêng dồn vào đất vườn của anh em bà con ở phía trong, tạo thêm một dãy nhà mới ở cuối vườn. Ngày nay con cái lập gia đình cũng được cha mẹ cho phần đất cuối vườn để làm nhà riêng. Như thế, con đường nào cũng đều đã có hai dãy nhà hai bên nhìn qua nhau: Láng giềng gần hơn anh em xa. Chúng tôi bắt thăm trúng một nhà ở hàng bảy và một nhà ở hàng tư. Chẳng bao lâu, chúng tôi cũng cho khiêng nhà hàng bảy vào đặt nối liền với căn nhà hàng tư. Cả hai khu vườn đều phủ một lớp cỏ gấu lâu năm dày đặc. Hai ba người túm nhau đào và nhặt cỏ gấu mỗi ngày chỉ được bốn hoặc năm mét vuông!

Trong khi mẹ con chúng tôi loay hoay đào cỏ, cha chúng tôi mải mê làm nhà thờ suốt mấy tháng trời liên tục. Ngoài đất vườn được chia đều, đất ngoài xa ai chiếm bao nhiêu tùy ý. Những ông có tầm nhìn xa đi khoanh vùng những khu đất tốt và rộng. Cha tôi cũng chọn được một đám đất sình cây sậy đan kín và tốt quá đầu người. Sau khi làm xong nhà thờ, mỗi ngày cha tôi hì hục đào sậy và kéo lên bờ một khoảng nhỏ. Quả thực, mẫu đất sình trâu đứng lún bùn chạm bụng ấy cung cấp đủ lúa gạo cho cả gia đình chúng tôi ăn quanh năm. Các mảnh đất khác cung cấp hoa màu phụ tiền chợ.

Cuộc sống thuở ban đầu ấy

Trại định cư Bình Giả gồm các giáo dân di cư từ Nghệ An và Hà Tĩnh vào, được chia thành ba Giáo xứ: Vinh Hà, Vinh Châu và Vinh Trung, cũng thường được gọi là Làng Một, Làng Hai và Làng Ba. Ngoài các thú dữ ra, dân chúng sống rất an bình, không có gì phải lo lắng.

Ngày ngày giáo dân đến Nhà thờ dự lễ ban sáng, đọc kinh ban tối theo truyền thống đạo đức của Giáo phận Vinh. Viện trợ vẫn được chuyển tới đều đặn. Lương thực và áo quần không thiếu. Chúng tôi được cung cấp đầy đủ dụng cụ nông nghiệp như cày, bừa, cuốc xẻng, vá (bai) xúc đất. Gia đình chúng tôi (10 người) và gia đình Dưỡng Dơn (3 người) được cấp chung một con bò đực thiến khỏe mạnh. Đất dẻo Bình Giả cùng cỏ rác hòa trộn kẹt vào giữa hai móng chân bò cứ lớn lên dần theo nhịp chân bước, chân bò bị lở liên tục chữa không hết! Một người thiểu số trong vùng đề nghị đổi cho chúng tôi một con bò cái. Chúng tôi đồng ý đổi. Một vài tháng sau, xe bò của chủ mới ấy chạy ngang nhà chúng tôi, con bò cũ của chúng tôi là một trong hai con bò kéo chiếc xe ấy. Còn con bò cái chúng tôi chăn giữ được một thời gian ngắn thì bỏ đi mất tích không tìm ra!

Dân chúng bắt tay vào việc làm ăn. Nhà nhà thi nhau phát rẫy, đào cỏ...Một hôm, các chị tôi đào cỏ gấu khu vườn ở hàng bảy, tôi có nhiệm vụ mang cỏ đi đổ. Gần đó có một cái giếng bỏ hoang, tôi cứ đổ cỏ xuống đó. Cỏ đổ đã khá nhiều, nhưng giếng vẫn còn sâu. Trên miệng giếng có một khối đá to. Tôi đứng trên khối đá chuẩn bị đổ, bỗng nhiên tôi có cảm giác khối đá trụt xuống giếng, tôi rơi xuống theo. Tiếp đến, tôi có cảm giác rơi xuống nước người ướt trũng. Nhưng thực tế, tôi rơi trên lớp cỏ dầy như trên một tấm nệm vậy. Không có chút nước nào. Nhìn chung quanh chỉ thấy thật nhiều con quấn chiếu bám thành giếng đòi leo lên, loại quấn chiếu to gần bằng ngón tay và dài khoảng một gang. Chúng cứ leo lên một đoạn lại rớt xuống! Nghe tiếng hét của tôi khi rơi xuống giếng, các chị tôi chạy tới. Tôi từ từ bám vào vách đất leo lên. Nghe đồn ở giếng hoang ấy có ma. Chắc chắn xưa đã có người sinh sống ở đó.

Đất đỏ nhiều chất bổ dưỡng, khai thác trồng tỉa hàng chục năm liền không cần phân bón. Thời gian thanh bình sung túc và con người sống nghiêm túc, người ta tôn trọng nhau và tài sản của nhau. Làm xong ngày, cứ bỏ cày bỏ quốc giữa đồng mà về nghỉ, sáng mai ra làm tiếp. Bắp, khoai thu hoạch chất đống ngoài đồng trống, nay xe chở chưa hết, cứ để đó ra về, mai ra chở tiếp. Không ai thèm lấy của ai. Những khách hàng đến thu mua là người miền Nam. Họ nói tiếng miền Nam chúng tôi hiểu chữ được chữ mất. Mấy bà di cư khen: “Sao mà họ hiểu tiếng ta mà ta nỏ hiểu tiếng họ hề?”. Họ đưa xe cam nhông tới, mua chở hết đống này đến đống khác. Nghe họ đếm bắp cũng rất vui. Họ đếm như xổ số kiến thiết vậy, bắp đếm rồi để riêng sang đống bên cạnh trước khi cho lên xe. Đất sình làm lúa, đất khô làm hoa màu: bắp, khoai, các loại đậu. Về sau nhiều người biết trồng lúa khô.

Tuy làm ăn dễ dàng, ai nấy đều nghĩ một thời gian rồi sẽ trở về quê cũ. Khi thấy cha tôi trồng mấy cây mít trước sân, ai nấy đi ngang qua đều cười: “Trồng mít khi nào mới được ăn?” Chúng tôi đã được ăn những trái mít đầu tiên của xã Bình Giả, những múi mít thật ngọt, giữa múi mít có một ít nước đường. Cha tôi hãnh diện về những cây mít ấy. Tất cả đều đã chết do thuốc khai quang của Mỹ!

Cắp sách đến trường

Cha xứ Antôn Đoàn Duy Đông mở Trường tư thục Vinh Châu (sau đổi thành Trường Tấn Đức). Những học sinh già đã từng được học ở miền Bắc được nhận vào lớp cao, cao trên hết là lớp nhất tiểu học (Ngày xưa tính ngược, lớp càng cao con số càng nhỏ). Lớp đi thi tiểu học đầu tiên chỉ đậu khá ít. Tôi bắt đầu học a, b, c ở lớp sáu tiểu học. Vở học giá cao, cha tôi thường lấy giấy bao xi măng, cắt ra, đóng thành tập cho chúng tôi đi học. Giấy xi măng phải dùng viết chì kẻ hàng trước mới viết được, viết trên giấy xi măng mực thấm tốn hơn viết trên giấy trắng.

Đi trâu giỏi mà học cũng không đến nỗi tệ. Các năm tiểu học tôi thường đứng nhất nhì trong lớp. Nếu giáo viên không có con hoặc cháu trong lớp, tôi đứng nhất. Ngược lại, tôi đứng nhì. Phần thưởng cuối năm, tôi thường ôm về vài thước vải, cắt may được ít cái quần đùi (quần ngắn). Nhưng “miếng giữa làng bằng sàng trong bếp”. Mỗi lần phát thưởng, tôi đều được nghe lại câu văn chương ấy.

Ở nhà, để tập viết, tôi lấy sách thuốc ra chép lại. Tôi tập viết chữ in như trong sách. Ông thầy giáo đến nhà thăm, cha tôi đem vở tôi viết ra khoe. Ông khuyên: “Đừng cho nó viết chữ in. Phải tập viết chữ thường, sau chữ mới đẹp”. Lúc đó đã có viết bíc gọi là viết nguyên tử, nhưng học sinh không được dùng viết bíc, phải dùng ngòi viết thường, chấm mực, nắn nót nét to nét nhỏ “chữ mới đẹp”. Mỗi ngày học một buổi sáng, buổi chiều đi chăn trâu. Vào Nam, cha tôi vẫn nuôi trâu, con trâu duy nhất trong làng, ra đồng cứ ăn riêng một mình, không chịu hòa nhập với đàn bò. Đàn bò cũng kính trọng nó, không dám đến gần! Nó đi hiên ngang lắm, đàn bò phải nép qua hai bên đường cho nó đi qua.

Đang học dở dang lớp tư tiểu học, thầy Lê Quang Diễn, một thầy trong làng được cử về giúp xứ Vinh Tân, Tỉnh Bình Tuy (Lagi, Hàm Tân). Anh Đinh Tiến Hướng và tôi được gửi đi du học ở đó. Một chuyến đi lịch sử tôi nhớ mãi. Bình Giả cách Bình Tuy không xa, ngày nay đi Honda mấy tiếng đồng hồ đã đến nơi. Thế mà năm 1958, chúng tôi phải theo chỉ thị ông Thu, người dẫn đường: Tối hôm trước ra ngủ ngoài chợ (phòng hờ ngủ quên), sáng bắt xe đò đi Long Khánh, chờ và lên xe lửa đi ra ga Sông Pha, trời tối ngủ ở nhà ga giữa cánh rừng, sáng hôm sau nhờ xe chở cây (xe be) cho quá giang ra đường lộ, đón xe đò đi tiếp ra Bình Tuy. Hai ngày hai đêm cho một chuyến đi đoạn đường trên một trăm cây số.

Anh Nguyễn Hồng Hường, con dưỡng Dơn, làm Thư ký Tòa hành chánh Tỉnh Bình Tuy, lương khá cao (3.000VNĐ/tháng). Anh chị nuôi một đàn cháu (6 đứa) từ Bình Giả ra trọ học. Anh rất đạo đức và sạch sẽ. Chị thì tính xuề xòa đại khái hơn. Thời gian học Trường Vinh Tân, tôi không xuất sắc lắm, đủ khả năng mỗi năm một lớp. Tôi viết chữ đứng khá đẹp. Anh Hường gọi tôi vào và bảo: “Những người làm lớn đều viết chữ nghiêng cả. Phải tập viết chữ nghiêng!” Từ ngày tập viết chữ nghiêng, chữ viết của tôi lộn xộn, ba hồi đứng, ba hồi nghiêng, có chữ đứng chữ khác nghiêng. Kiểu chữ ngoằn ngoèo!

Đậu bằng Tiểu học, tôi về Bình Giả nghỉ hè. Cha Gioan Lê Xuân Hoa, từ chủng viện Chân Phước Tự Tam Hà, Thủ Đức (nay là Dòng Salésienne) nhắn tin về: “Sao không thấy thằng Hoa lên thi?” Đâu có ai cho tôi biết chủng viện thi ngày nào! Ngay từ khi tôi còn học ở Bình Tuy, cha Hoa đã nhờ cha Thái ra đó “xem mắt”, cha Thái gọi tôi đến gặp và hỏi han. Sau đó, cha Thái im luôn, không thấy nói năng gì, có lẽ tôi không được ngài chiếu cố? Nhưng về Bình Giả, tôi được biết cha Thái về đó chê tôi: “Nó nghịch quá!” Nguyên do là: Tại Bình Tuy, dịp Giáng Sinh, Giáo xứ Vinh Tân tổ chức văn nghệ, cha Thái được mời tham dự, tôi đóng mấy vai diễn giúp vui. Cha Thái đánh giá tôi qua sân khấu.

hocvien_thuduc_lop2Anh Trần Đức Danh và tôi, quần trắng áo dài đen, được cha tôi dẫn lên Thủ Đức gặp cha Gioan Lê Xuân Hoa (nay là Đức Ông Xuân Ly Băng). Chủng viện Chân Phước Tự đã thi tuyển xong từ lâu. Cha Hoa kêu xe ngựa, cùng chúng tôi sang Chủng viện Phanxicô. Chủng viện Phanxicô cũng đã thi tuyển xong. Các ứng sinh đã phải tập trung ở đó một tuần lễ để làm bài thi và để các cha có điều kiện nhận xét và đánh giá. Sau cuộc trao đổi giữa cha Hoa và cha Dòng, hai chúng tôi được nhận vào thử một thời gian xem sao. 

Như thế, tôi may mắn thoát vòng thi cử, vì giữa khoảng 300 thí sinh chỉ chọn 50 kể cũng khó đậu. Chúa sắp đặt mọi sự cho ai yêu mến Người. Tôi là người duy nhất đi đến đích trong số 50 chủng sinh cùng lớp. Tất cả đã ra về, tự ý hoặc bị cho về do hạnh kiểm hay do học lực. Chủng viện có sức chứa nhất định, mỗi năm nhận vào thêm một lớp mới 50 chú, phải tìm cách cho về 50 chú thuộc các lớp trên. Tôi thấy nhiều trường hợp khá kỳ lạ và cũng đáng tiếc cho sự mất mát nhiều ơn gọi.

Anh Công cùng lớp với tôi, tuổi nhỏ hơn, quanh năm đứng nhất lớp. Trong kỳ thi cuối năm, anh không trả lời được một câu vấn đáp thầy Ngọc đặt ra, thầy kết luận anh học thiếu căn bản, đề nghị cho ở lại lớp, anh rút lui.

Chủng viện chúng tôi dạy theo chương trình Pháp, mọi môn học đều bằng tiếng Pháp, trừ môn Việt văn. Môn Pháp văn 40 điểm, môn Việt văn 20 điểm... Thầy Ngọc dạy Pháp văn, là giáo viên chính của lớp. Thầy cũng tu cùng Dòng, sau năm Tập tu, thầy cùng các anh em khác được gửi sang Pháp học Triết và Thần học. Chi tỉnh Phanxicô Việt Nam thuộc Tỉnh Dòng Paris. Phần đông các cha giáo sư đều từ Pháp sang dạy. Xuất tu, thầy Ngọc trở về Việt Nam, được nhận vào dạy trong Chủng viện. Thầy có một khoa sư phạm đặc biệt: bắt chép phạt. Nhiều bạn học của tôi là nạn nhân của khoa sư phạm độc đáo này. Đã kém thì khó có thể vươn lên. Đã không thuộc bài một lần thì kể như vĩnh viễn không bao giờ thuộc bài được nữa.

Chương trình học được quy định rất sít sao. Chuông báo giờ chính xác: Thức dậy, rửa mặt, đi lễ, ăn sáng, giải trí, học bài, lên lớp, làm bài, ăn trưa, nghỉ trưa, học bài, lên lớp, giờ chơi hoặc công tác, tắm rửa, làm bài, ăn tối, nghỉ ngơi, kinh tối, đi ngủ... Không thuộc bài, thầy Ngọc ra hình phạt: chép lại bài đó 50 lần, có khi 100 lần. Nếu đến hẹn, chưa chép đủ, thầy bắt chép thêm 200 lần... Lấy giờ học bài để chép phạt thì lại không thuộc bài mới. Xén giờ làm bài để chép phạt thì bài làm khó xong. Nhiều anh bị xếp loại học kém phải ra về, họ thuộc loại giỏi nhất ở trường ngoài.

Tôi bị chép phạt một lần duy nhất. Tôi sơ ý đánh rơi cái thước kẻ. Thầy Ngọc bắt tôi chép 50 lần câu: “Tôi không được làm ồn trong lớp”. Chép xong, tôi vẽ bên cạnh hình một chú bé học sinh đang viết, các ngón tay thiếu ngón, mồ hôi nhễ nhãi. Tôi lấy mực đỏ tô các giọt mồ hôi từ trên trán xuống giấy vở. Hôm sau đem nộp, thầy phê dưới hình vẽ của tôi: “Đáng kiếp! Không chút động lòng thương xót. Mong chép cho cùi mòn cả tay!” Giá như thầy nổi giận cho tôi chép thêm vài trăm lần nữa thì khốn! Bài Pháp văn của tôi, thầy Ngọc thường xuyên cho điểm “Zêrô” chứ không chấm. Lý do: “Lecture illisible” (Chữ viết không đọc được). Vậy mà tôi vẫn không bị liệt loại kém. Chúa gìn giữ những ai trông cậy vào Người.

Học Việt văn với cha Samuel Trương Đình Hòe về Truyện Kiều. Tôi nắm bắt được con bài của ngài, các bài làm của tôi luôn điểm cao. Chấm bài của tôi, cha Hòe khen hết lời. Liên quan đến Phạm Quỳnh, cha Hòe không đồng quan điểm với cha Thanh Lãng, Trưởng khoa Việt văn ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. Hai cụ như bút chiến với nhau! Sau này cha Hòe sang Pháp, dạy ở Đại học Sorbonne, Paris, làm Viện trưởng Viện Hàn lâm Viễn đông bác cổ, nói tiếng Tàu hơn người Tàu, đi ăn nhà hàng của Tàu thường được ưu đãi đặc biệt.

Thời gian học ở Tiểu Chủng viện, hai thời điểm dao động nhất đối với tôi, đó là trước và sau mỗi kỳ nghỉ. Mỗi năm chúng tôi được nghỉ Tết hai tuần và nghỉ hè ba tháng. Một tuần trước ngày về, tôi cứ thao thức chờ ngày về, tối rất khó ngủ. Nhưng về nhà được vài tuần lại nhớ Chủng viện. Vào Chủng viện lại nhớ nhà, mấy ngày sau mới ổn định tinh thần. Thật là vòng lẩn quẩn! 

Một số thời điểm tôi bị ho nhiều, cha Giám thị Paul Joseph cho rằng tôi “sensible au vent” (mẫn cảm với gió), đêm đêm cha đến đóng các cửa sổ phòng ngủ gần chỗ tôi nằm hoặc cha lót dưới chiếu giường tôi vài tờ báo.

Một dịp hè kia về Bình Giả nghỉ, tôi và anh bạn Vũ Văn Lương rủ nhau ra rẫy chơi. Trong đám rẫy gia đình tôi có cồn mối cao, trên đỉnh cồn mối cũng có một cây đu đủ khá cao. Tôi leo lên cây đu đủ hái trái chín. Đang ở trên ngọn, tôi nghe một tiếng “phựt” mạnh và cây đu đủ rung chuyển. Tôi nghĩ là anh Lương leo lên ở dưới gốc, tôi la to: “Đừng lên! Đừng lên!” Thực tế, anh đã đi chơi xa cách đó vài chục mét. Nghe tiếng la, anh chạy tới. Cây đu đủ đã đứt mấy cái rễ cuối cùng từ từ đổ xuống. Tôi nhanh trí ôm chặt lấy ngọn cây thay vì phản ứng tự nhiên là tuột xuống gấp. Vừa khi ngọn đu đủ gần chạm tới mặt đất, tôi đạp chân vào thân nó và nhảy lên. Cây đu đủ rơi xuống, nẩy lên rồi rơi xuống lần nữa và nằm im. Tôi rơi xuống theo, kể như tôi rơi từ một khoảng cách thấp nên không hề hấn gì. Kể lại chuyện này khi về nhà, mẹ tôi cứ dò hỏi: “Có bị đau ở đâu không?” Tôi khẳng định không đau gì cả. Mẹ tôi không tin, nghĩ tôi sợ nên giấu: “Bổ cây đu đủ cao như thế mà không đau là làm sao? Đau ở chỗ nào thì nói!” ...

Kinh nghiệm ấy cho tôi an tâm mỗi khi ở trên ngọn cây dừa hay một cành cây có lá nào khác. Khi xảy sự cố, vội vàng buông tay hay tuột xuống, không chết cũng gãy chân gãy tay, ít nữa cũng bị trầy sướt mình mẩy. Ở yên vị trí, lá cây sẽ cản giùm gió, lực rơi sẽ nhẹ hơn. Xuống gần mặt đất, nhảy lên để tránh bị cây dội đập vào người khi nó chạm đất nẩy lên. Thân người rơi xuống lúc đó không phải từ trên cao, trái lại từ khoảng cách mặt đất rất ngắn.

Đi thoăn thoắt trên mái nhà cao, chạy trên các đòn tay sườn nhà chưa lợp, những chuyện như thế không khó khăn gì đối với tôi. Từ cành cây này nhảy đu chuyền sang cành cây khác cách nhau khoảng hai hoặc ba mét, tôi thực hiện cách nhẹ nhàng. Đuổi chuột trên gác nhà, chuột theo cột chạy xuống, tôi theo thang gỗ rượt đuổi, tôi kịp xuống trước, đứng chờ sẵn ở chân cột đón bắt chú chuột xấu số! Nhưng cũng có lần gặp nạn: Tại sân thể thao Chủng viện, tôi đứng trên hai cây parallèles nhảy sang đu cây parafixe, tay tôi đã bám được cây sắt tròn, nhưng khi thân xít ngược lại theo đà, tay tôi bị trượt, tôi té xuống nằm bẹp dưới đất. Tôi như xây xẩm trong giây lát, có cảm giác như hai cánh tay căng phù lên. Nhưng khi mắt ổn định nhìn thấy được, hai cánh tay không có gì đặc biệt, chỉ đau nhức thôi! Tay tôi bị bong gân, bó thuốc Nam một thời gian cũng khỏi. Rất may, chỉ tay trái bị nên không ảnh hưởng đến việc học hành.

Có kỳ hè tôi không về nhà được. Lý do: đường bị du kích chặn lối. Cả Quận Đức Thạnh lúc đó (nay là Huyện Châu Đức), hầu như chỉ xã Bình Giả là an ninh, có bờ rào tre kiên cố bao bọc, các cổng ra vào khóa chốt ban đêm, nghĩa quân thay phiên nhau trực canh gác... Quận trưởng và binh lính ở trong đồn ở Ngãi Giao, mấy vòng kẽm thép gai vây quanh, mìn cài dày đặc. Các cuộc hành quân ra ngoài thường bị phục kích chết rất nhiều. Ông Quận trưởng nào hăng hái cũng chỉ được một thời gian là tử trận. Các làng mạc chung quanh thiếu an ninh, Việt cộng từ rừng ra hoặc nằm vùng ngay tại chỗ hoạt động thoải mái: ngày là dân, đêm là du kích. Kể cũng tội nghiệp cho dân địa phương, họ phải làm tôi hai chủ. Ban đêm bên Việt cộng huy động họ ra đào đường đắp ụ; ban ngày bên quốc gia bắt họ ra lấp lại... Du kích chặn đường tại Bình Ba (cách Bình Giả 7 cây số), không ai được đi qua. Chiếc xe Lambretta kinh tài cứ im lặng chở xuống rồi chở lên, đợt này đến đợt khác, tính tiền cả chuyến đi lẫn chuyến về mà không hề cho hành khách biết đường bị chặn rồi. Loanh quanh trong khu vực, van xin đủ cách, dù chỉ là mấy chú học sinh nhỏ, mấy chú du kích chỉ làm theo lệnh trên! Tôi quay trở lên, tìm về nhà anh bạn học ở Xóm Mới ở nhờ cho đến hết hè. Em gái tôi từ Bình Giả nghe tin, mang mấy trái măng cầu xiêm ra Bình Ba tiếp tế cho tôi, không được gặp anh, đành mang trở về, vừa đi vừa khóc!

Một lần lọt được về quê nghỉ hè, khi đi ra lại vất vả. Lần ấy, hết hè, bà Bảng dẫn anh Hường con bà và tôi trở về Chủng viện, bị chặn lại tại Bình Ba. Đang đi bộ dưới tán cây cao su, nghe tiếng máy bay trực thăng, anh du kích la: “Tránh ra, tránh ra! Tôi bắn”. Trực thăng bay qua trên cao, anh ta vác súng trường bắn lên mấy phát. Bà Bảng hô hào chúng tôi chạy mau ra xa khỏi khu vực, vì mỗi lần như thế, trực thăng sẽ báo về, và một lát sau máy bay tới dội bom vùng đó. Hôm đó không có máy bay tới dội bom. Hỏng chuyến này bày chuyến khác. Hôm sau, bà Bảng nhờ người địa phương mà bà quen biết. Họ có chuyến xe sắp chở cà phê đi về hướng Long Khánh. Họ dặn chúng tôi cởi áo quần học sinh ra, tôi mặc chiếc quần lót và áo lót, anh Hường mặc chiếc quần lót, cởi trần ngồi trên buồng lái. Chúng tôi làm như thể đi bốc vác hay theo xe đi chơi gì đó. Chúng tôi lọt qua các chốt du kích an toàn. Chuyến ấy chúng tôi phải trả tiền xe cao hơn giá bình thường? Cũng chẳng biết bình thường giá bao nhiêu, vì đường đi về phía Long Khánh bị chốt từ lâu, không hề có xe khách lưu thông!

Sau kỳ thi Brevet (Trung học Pháp), lớp tôi chỉ còn lại bảy đứa. Một lớp bảy học sinh mà phải trên mười cha giáo sư chia nhau dạy các môn thì hơi phí. Các cha gửi chúng tôi ra Nha Trang. Chúng tôi ở Tu viện Phanxicô, ngày ngày đi bộ sang học bên trường các Sư huynh La San. Các Sư huynh cũng dạy chương trình Pháp. Hai nhà ở trên hai ngọn đồi giáp ranh nhau. Hai ngôi nhà hiện nay cùng chung số phận: Nhà Nước sử dụng!

Chưa hết lớp Première ở La San, chúng tôi xin chuyển ra học Trường Việt. Tại Trường bán công Lê Quí Đôn do Thầy Cung Giũ Nguyên làm Hiệu trưởng, tôi đứng nhất trong kỳ thi cuối năm Đệ nhị. Chúng tôi vừa học vừa làm giám thị và dạy học tại Ký túc xá Phanxicô do cha Đaniel Nguyễn Thăng Cao làm Giám đốc. Chính cha Đaniel Cao vận động cho tôi vào học lớp Đệ nhất ở Trường công Võ Tánh. Trường công không nhận học sinh vào ngang. Năm ấy, lớp Đệ nhất lại đông, vì các nam giáo sư bị động viên đi học quân sự, Trường phải điều nữ giáo sư sang dạy, đồng thời cũng cho lớp Đệ nhất Trường công nữ nhập chung với lớp nam. Hồi đó, các thầy cô dạy Tiểu học gọi là giáo viên, dạy Trung học gọi là giáo sư, dạy Đại học gọi là giảng sư. May mắn, tôi cũng lọt vào được Trường công. Ông Hiệu trưởng nói ông nhận tôi vì nể cha Cao cứ chạy qua chạy lại nhiều lần. Tôi không phụ lòng ông và cha Cao: Bảng danh dự treo cao trước mặt tiền Trường, tên tôi nằm yên một chỗ không bao giờ phải thay đổi. Bằng danh dự tôi nhận được hàng tháng xếp thành một chồng. Cha Cao hãnh diện ôm ra khoe khi cha Tỉnh ủy ra thăm. Tốt nghiệp Trung học, tôi mang xe đạp chở một chồng phần thưởng về nhà. Trường công tuyên bố giải nhất là phần thưởng của Tổng thống, gần một thước Tự điển; giải nhì là phần thưởng của Phó Tổng thống. Cô bạn gái lãnh giải nhất, tôi nhận giải nhì. Có phải vì ga-lăng hay nữ thông minh hơn?

Học Văn chương Việt Nam ở Đại học Văn khoa Sài Gòn, tôi học với cha Thanh Lãng, thầy Giản Chi, thầy Nguyễn Cần và nhiều học giả khác. Học Triết, tôi học với các giảng sư Nguyễn Văn Trung, Lê Đình Trị, Lý Chánh Trung, cha Trần Thái Đỉnh... (Triết Tây), và các thầy Lê Đăng Khoa, cha Bửu Dưỡng, cha Lương Kim Định... (Triết Đông). Cha Giám sư Nguyễn Hồng Giáo giúp chúng tôi học thêm môn Triết học tại nhà. Cha cũng là Tiến sĩ Triết với luận án được đánh giá xuất sắc (Maxima cum laude) tại Đại học Louvain.

Xét về Trường học, tôi đã học đủ loại trường: Trường tư, Trường bán công, Trường công, Trường Pháp, Trường Việt, Trường các cha, Trường Sư huynh... (trừ Trường nữ). Nếu được học Trường nữ hoặc Trường các Xơ, chắc chữ viết của tôi sẽ đẹp hơn.

Nhà thể thao

Đối với tôi, tôi là nhà thể thao trên sân chơi và thể thao trên chiếc xe hai bánh. Các loại xe tôi sử dụng, tôi đều tự tập lấy. Từ nhỏ, tôi tập đi xe đạp bằng cách đưa xe đến bên gốc cây đầu dốc, tựa vào thân cây mà leo lên xe, buông tay khỏi thân cây và nắm lấy ghi đông xe, xe cứ thế theo triền dốc mà chạy. Té keo này bày keo mới. Cứ từ từ bằng lòng với một đoạn ngắn rồi dần dần chạy được đoạn xa hơn. Chân không tới bàn đạp thì đừng ngồi trên yên xe, ngồi trên khung mà chạy, và khi muốn đổi thế ngồi thì thọc chân qua dưới khung xe, ngồi một bên hông xe mà đạp.

Xe solex (loại xe vừa máy vừa đạp), kéo máy lên chạy như xe đạp, thả đầu máy xuống, xe tự chạy không cần đạp, có một thầy chỉ cho tôi chạy một đoạn trong sân Chủng viện. Mấy ngày sau, tôi mượn xe solex ấy chạy thẳng từ Thủ Đức về Tân Hưng Gò Vấp thăm người thân.

Vào Đại học, tôi được cha mẹ cho tiền mua chiếc Honda. Trước đó đã có người cho tôi ngồi xe của họ chạy thử một lần, có họ chạy theo sau giữ xe. Lần sau, chẳng những tôi chạy một mình mà còn có thể chở thêm một người được. Anh cả tôi dặn nên mua xe Brigistone hoặc Honda nữ, các loại xe này dễ chạy. Nói thế, nhưng có lẽ hai loại xe ấy thấp, vừa tầm với anh, người nhỏ hơn tôi. Tôi không thích, nhưng cũng làm theo lời anh tôi. Ráp xe xong, tôi tự lái chạy thẳng về nhà. Lúc đó chúng tôi ở Cộng đoàn Antôn Cầu Muối.

Xe mới phải chạy rô đa cho bền xe bền máy sau này. Trên đường từ Thủ Đức về Sài Gòn, tôi chạy chậm và sát lề đường, chiếc xe Volwagen phía sau chạy tới. Tôi thấy đầu xe ấy quẹo ép vào lề trước mặt xe tôi như thể muốn ghé đậu xe, nhưng khi đuôi xe quẹt được vào xe Honda mới toanh của tôi, tài xế cho xe quay ra đường và chạy luôn. Xe tôi đổ xuống trên xa lộ, tôi lăn lộn ba vòng về phía trước theo đà tự nhiên. Nhờ cú lộn đó, tôi chỉ rách tí quần, trầy da đôi chút nhẹ. Nhưng xe mới bị nặng hơn: dẹp giỏ trước, bể đèn, bể bửng xe. Cái máy cassette cột sau xe lắc kêu lóc cóc ở trong, nội thương khá nặng. Một viên sĩ quan thấy thế, đã dừng xe xuống giúp tôi, lấy lại cho tôi những dây máy và chiếc micrô từ tay mấy chú nhỏ chạy ra hôi của.

Rô đa nửa chừng, chưa đạt mức cây số phải chạy, tôi đã cho chạy hết tốc độ trong một chuyến đi Vũng Tàu, theo nhóm Thanh lao công của cha Trương Bá Cần. Tôi có thể chạy nhanh hơn, nhưng tốc độ tối đa của xe chỉ nhích hơn 100 cây số mà thôi! Tôi đi sinh hoạt trong Thanh lao công một thời gian ngắn, thấy không thích hợp, tôi ngưng tham gia. Anh cả tôi khuyên tôi mua Honda nữ, thế nhưng anh lại lên Bà Rịa mua chiếc Honda ông mang về chạy ở Bình Giả. Kỳ nghỉ tiếp đó, chúng tôi đổi xe cho nhau theo ý của tôi. Chiếc xe ông này gắn bó với tôi suốt mấy năm Đại học. Nó có bảng số độc đáo: “0000”. Ai nhìn thấy số xe cũng bật cười.

Xe chạy tốt, thích hợp với sở thích tốc độ của tôi. Trời mưa lất phất, trên xa lộ, xe tôi chạy như bằng từ trường, bánh xe chỉ lướt trên mặt đường chứ không chạm đất. Tôi không để ai chạy trước mặt mình, phải vượt lên. Cũng có phần nguy hiểm! Một lần từ Bình Giả về Sài Gòn, đang chạy bình thường theo quán tính của người tài xế, đường trường chạy không cần chú ý nhiều ở phía trước, tôi quay ra nói chuyện với người ngồi phía sau, tự nhiên có linh tính như rađa báo hiệu, tôi quay tức tốc về phía trước thì chiếc thùng phuy nằm ngay đầu xe, tôi kịp lách xe vụt qua một bên tránh được chướng ngại vật trong tích tắc. Hú vía và mừng thầm, vì với tốc độ tôi đang chạy, đâm vào chiếc thùng phuy ấy, xe tôi đã nát và người cũng...! Hai hàng thùng phuy đựng đầy cát người ta đặt ziczắc trên cầu sông Đồng Nai hồi ấy kể cũng nguy hiểm.

Tôi té xe nhiều nhất do những vũng nhớt trên đường. Những người sửa xe tải vô ý không chùi sạch nhớt xả, Honda lọt vào đó là trượt, giữ vững tay lái đến mấy cũng nhào. Hai lần đi dưới mưa, xe tôi trượt té vì đường rầy xe lửa nằm vắt xéo qua đường. Một lần xe tôi hôn sau chiếc xe con vì họ dừng thình lình trên xa lộ, sau đó tay tôi run một thời gian ngắn. Một lần chở cha Phêrô Đậu Văn Minh, xe tôi đâm đầu vào đống cát trên đường, cha Minh lao ra khỏi xe chui vào trong cát, phủi cát mãi mới nhận ra hình hài cha Minh. Chuyến chạy từ Bảo Lộc về Đà Lạt giữa trưa, có lẽ tôi ngủ trong tích tắc, bỗng thấy mình đi vào giữa đống bắp đang rải phơi nguyên trái trên đường, biết thế nào cũng té, nhưng phải hạn chế tối đa thương tích. Một đàng giữ vững tay lái, đàng khác đạp nhắp thắng mấy cái để cho xe giảm tốc độ. Chuyện đến đã xảy đến, người và xe lăn xuống ruộng. Tôi nghe một tiếng “bộp” trên đầu. Đầu tôi đã đập xuống đất, chiếc nón bảo hiểm đã che chở tốt cái đầu quí báu của tôi.

Nhưng lần nặng nhất phải kể, đó là lần chở cha Phi Khanh Vương Đình Khởi từ Đakao về Cầu Muối. Xe tôi đã quay gần hết vòng bùng binh sau Nhà thờ Đức Bà, một chiếc xe nhà binh từ phía Dinh Độc Lập vụt tới bất ngờ. Bánh xe trước của tôi nằm dưới bánh xe nhà binh. Tôi giữ chắc xe nên không văng ra. Hồi còn là học sinh Trường Bán công Lê Quí Đôn Nha Trang, tôi đã bị một trường hợp như thế. Nhưng lúc đó là xe đạp, xe cán vào là xe rép sĩ quan, vành xe bánh trước của tôi cong giống chiếc bánh tráng sau khi nướng, thợ không chịu gò, tôi phải thay vành xe mới! Lần này, tôi phải nhờ xe bốn bánh chở xe Honda của tôi về nhà, vì nó đã cong thành chữ “L”. Đem ra thợ sửa xe, họ nói sẽ thổi được. Tôi hiểu “thổi” là dùng hơi dùng khí ép sao cho nó thẳng ra. Không ngờ đến hẹn ra lấy, thì ra họ đã dùng lửa khí đá thổi đứt đôi khung xe của tôi và hàn lại. Suốt thời gian dài, mỗi lần ngồi lên chạy, tôi cứ sợ gặp ổ gà mối hàn nhả ra và xe sẽ đứt làm đôi nên không dám chạy nhanh như trước. Nhưng quả thực, mối hàn rất bảo đảm, mấy chục năm sau, xe vẫn còn tốt! Sắt cứng nên cong, thịt mềm nên co giãn được. Tuy nhiên, bị thúc mạnh, ngoài chiếc quần bị xé rách từ trên xuống dưới ngay giữa đường phố, đùi của tôi cũng sưng phù, phải bóp nước nóng hòa muối hai tuần sau mới xẹp! Cha Khởi ngồi sau bị nhẹ thôi, trầy da chút chút, nhưng có lẽ không biết rồi sẽ để các xơ Mến Thánh Giá lại cho ai, cha vội vàng đi chích ngừa phong đòn gánh.

hocvien_thuduc_doibanh_huynhhoaThật là bất công với chính mình khi nói thể thao mà không nhắc đến vận động viên luôn mang số 2 trên sân cỏ. Thời ở Chủng viện Thủ Đức, tôi thuộc số cầu thủ của ba loại thể thao: Bóng rổ, Bóng chuyền và Bóng đá. Bóng rổ tôi tham gia một số trận. Bóng chuyền tôi tham gia nhiều trận thi đấu hơn. Nhưng có lẽ sở trường của tôi là Bóng đá, luôn được giao vị trí hậu vệ khoác áo số 2. Trận thi đấu nào đã nắm chắc phần thắng, tôi vẫn bỏ nhà lên tham gia tấn công. Mỗi lần tôi lên sát cầu môn đối phương, khán giả nhà luôn vỗ tay cổ động nhiệt liệt.

Phong trào đá bóng thập niên 60 rất mạnh. Đội chúng tôi thi đấu với hầu hết các Trường lớn ở Sài Gòn và Thủ Đức, kể cả các đội thanh niên ngoài Trường học. Phần lớn chúng tôi thắng. Khí thế tranh đua quyết liệt, trận nào thua, chỉ chờ khoảng một tháng sau chúng tôi mời đội thắng đấu lại để phục thù. Lần kia, trên sân cỏ, một cầu thủ chúng tôi nhảy cao đội đầu, lúc rơi xuống cầu thủ đối phương ghé cùi chỏ hất vào sau ót, anh cầu thủ chúng tôi nằm quay đơ trên sân. Khênh về phòng, anh mê man từ bốn giờ chiều cho tới mười giờ đêm mới tỉnh!

Tinh thần háo thắng cũng góp phần làm căng thẳng trận đấu. Có trận hai bên đem thước ra đo các cầu thủ, các cầu thủ cao quá mức quy định một hai centimét bị loại khỏi cuộc chơi. Các cầu thủ xấu số khóc thút thít biến sân cỏ thành đám tang trước khi xung trận! Dù tôi thuộc cầu thủ đội lớn, nhưng vóc người không cao, khi đội nhỏ chúng tôi bị đối phương dẫn trước, tôi được yêu cầu vào trận để cứu đội nhà. Các cầu thủ thư sinh đối phương dẫn banh lên, nhìn thấy cặp giò cứng cáp và vững chắc của tôi bình tĩnh đứng chờ trước cầu môn, không còn đủ can đảm lao vào!

Tôi có khả năng ứng biến và làm chủ thế trận. Khi cần sức mạnh, tôi không cho phép banh chạm đất. Banh trên trời rớt xuống, tôi đá bật lên ngay từ trên không. Khi thư thái vì đã nắm chắc phần thắng, tôi đá nghệ thuật nhiều hơn. Tôi đá gót và đá giò lái thành thạo. Tôi đuổi theo banh mà đối phương chạy sát đàng sau, tôi chỉ cần hất gót một cái, đối phương chưng hửng vì tôi chưa quay mặt lại mà banh đã được bắn ngược lên rồi! Banh từ trên cao rơi xuống, hai bên đều chạy tới đón, tôi chạy quá điểm rơi của quả banh để cản đối phương, nhưng một cú đá gót đã đủ để bắn ngược trái banh lên phía sân đối phương. Cổ động viên đối phương kết án tôi: “Số 2 chơi xạo!” Khi banh lọt qua tôi mà có đối phương bám sát, biết chạy theo cũng không kịp, tôi đứng yên một chỗ. Trọng tài nhìn thấy chỉ một cầu thủ đối phương dẫn banh vào mà hậu vệ không thèm đuổi theo, ông thổi còi bắt việt vị theo phản xạ tự nhiên. Một dịp nghỉ hè, tôi được mời tham gia đội banh đại diện Quận Đức Thạnh đi thi đấu với đội banh Quận Long Điền. Đội banh Long Điền là đội mạnh, họ có nhiều mạnh thường quân ủng hộ, cả về tài chánh lẫn tiếng cổ động viên. Trận đó, lần duy nhất Đội Quận Đức Thạnh chúng tôi thắng. Khán giả Long Điền hô: “Đề nghị số 2 vào Đội banh Tỉnh”, và họ trách các cầu thủ nhà: “Tụi bay chỉ có chùi... cho quân Bình Giả!” Cầu thủ Đội Quận Đức Thạnh hôm đó hoàn toàn dân Bình Giả. Ông Quận trưởng Đức Thạnh hãnh diện. Ông chiêu đãi chúng tôi một bữa tiệc mừng.

Dấn thân tu hành

Người ta nói Năm Tập là năm đẹp nhất của đời tu, Tập sinh chết thì lên thẳng thiên đàng. Có lẽ thời xa xưa, các bậc đàn anh trải qua kinh nghiệm đã có nhận định đó. Năm Tập của họ thánh thiện, đạo đức, ăn chay, đánh tội nhiều. Thứ sáu hàng tuần, họ đứng trong phòng, dùng dây áo Dòng quất mạnh vào người, cha Giám Tập đi đi lại lại ngoài hành lang kiểm tra. Họ nằm ngang cửa phòng ăn cho anh em bước qua...

Năm Tập chúng tôi không còn giữ các tập tục tốt lành ấy. Có lẽ quan niệm tu trì sau Công đồng Vatican II đã có nhiều canh tân. Tóc chúng tôi không còn cắt trọc, chừa một vành tròn quanh đầu. Áo chúng tôi không đeo thêm bộ tràng hạt dài và to... Sống trong cùng một Tu viện, nhưng chúng tôi ở một khu vực riêng, ăn ở phòng cơm riêng. Thánh lễ và các Giờ Kinh, chúng tôi dự chung với cộng đoàn.

Không còn bận tâm với chuyện học lý thuyết các môn học đời, chúng tôi được hướng dẫn về tu đức và những môn học liên quan đến đời tu. Tâm hồn nhẹ nhàng thoải mái hơn. Ngoài giờ học, chúng tôi chia nhau phụ giúp làm các công việc trong nhà, nuôi thỏ, trồng rau... Thỏ miền nóng đẻ liên tục, có con đẻ một bầy 18 con nhỏ xíu, có con đẻ bất ngờ, không báo trước để chúng tôi cho sẵn bát nước vào chuồng, cô ả đẻ xong, khát quá xơi luôn bầy con, chỉ chừa lại mớ đầu! Cũng có loại mẹ không thương con mình sinh ra! Nha Trang mùa nắng cỏ khô cháy. May thay có cây rau muống biển luôn luôn tươi xanh. Mỗi ngày tôi ra bãi biển cắt hai bao bố đạp xe chở về cũng tạm đủ cho bầy thỏ ăn.

Mãn Năm Tập, chúng tôi đi thẳng lên Đà Lạt để kịp ngày khai giảng năm học 1973-1974 ở Giáo hoàng Học viện. Các thầy Dòng Phanxicô khá tiếng Pháp, theo học các cha giáo sư nước ngoài không khó. Chúng tôi đăng ký bao nhiêu được nhận hết bấy nhiêu, trong khi mỗi Giáo phận chỉ gửi được năm thầy mỗi năm. Chúng tôi học ngoại trú nên không đòi hỏi phòng ốc. Hai chiếc xe Lambretta đưa các lớp khác nhau đi về giữa Học viện Phanxicô Du Sinh và Giáo hoàng Học viện, cách nhau khoảng năm cây số. Lớp chúng tôi chưa học hết chương trình thì biến cố 1975 xảy ra...

Thời thế thay đổi, nhịp sống chúng tôi cũng thay đổi. Anh em Học viện do Hạt Dòng nuôi (chưa thành Tỉnh Dòng). Bây giờ không ai nuôi được ai, mọi liên lạc bị cắt đứt, đi lại khó khăn, xin di chuyển đến vùng khác phải làm giấy xin phép trình Tổ ký, đưa lên Phường ký, vác lên Thành phố ký, chờ hai tuần sau Tỉnh trả lời. Được giấy phép đi vài tuần lễ, đợi mua được cái vé xe cũng đã hết ba hoặc bốn ngày. Ngày ngày ra xếp hàng từ hai ba giờ sáng, bị làm nhục và hành hạ đủ kiểu, bảy giờ bắt đầu bán vé, bán được dăm ba người đã tuyên bố hết vé. Nhân viên Bến xe đã bán vé chợ đen tại nhà riêng. Tại Bến, họ chỉ bán tượng trưng! Dân tại chỗ luôn trực sẵn thành hai hàng dài trước quầy bán vé để giữ chỗ, họ bán lại chỗ cho những người cần đi thực sự. Ai may mắn mua được cái vé xe quí hiếm, vui mừng lên xe ngồi, dọc đường xe ban dừng lại sửa chữa ba bốn lần. Cha Giám hạt Agnêlô Vũ Văn Đình lên xe khởi hành tại Đà Lạt từ sáng sớm, về đến Sài Gòn đồng hồ điểm bốn giờ sáng ngày hôm sau. Kể cũng khỏe hơn đi bộ. Chậm mà chắc! 

Làm rau chuyên nghiệp

Chúng tôi phải nghỉ học để lo chuyện sinh nhai. Cha Giám sư Vương Đình Khởi đặt tôi làm Tổ trưởng Tổ sản xuất của Học viện. Ngày lao động, tối đi họp. Sau khi Bắc Nam nối liền, hội họp và học tập liên tục. Họp tổ, họp khu phố, họp phường, họp bình bầu, họp toàn dân, họp đại diện... Dân chúng tham gia đông đảo, vì sợ nhiều hơn là vì nhiệt tình. Các cán bộ hầu hết ở rừng ra, trên bảo gì họ về nói với dân như vậy. Nói phét nhiều hơn nói thật. Chẳng hạn, khi Phạm Tuân được đi chung với mấy nhà du hành Liên Xô trở về, anh cán bộ đưa tin, vừa chắt lưỡi vừa nói: “Đồng chí anh hùng Phạm Tuân bay lên vũ trụ chụp biết bao nhiêu là ảnh đem về, các nhà khoa học nghiên cứu không biết bao giờ mới hết! Ảnh chụp được cho thấy dưới chân chúng ta ngồi đây (anh chỉ tay xuống đất), toàn mỏ là mỏ, đất nước chúng ta sẽ giàu to!” Khi khác anh ta nói: “Chúng ta bán một cây trúc nuôi được cả Tiểu đoàn”. Khi dân nói một điều ngoài bài học sẵn có, anh khất sẽ trả lời sau. Chẳng hạn dân hỏi: “Hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa bây giờ ai ở?”; “Đề nghị cho sinh viên đi ra nước ngoài học tập để về xây dựng quê hương” ... Cuộc họp lần sau đó, có lẽ đã được chỉ đạo, anh cán bộ trả lời: “Lần trước có người hỏi về Hoàng Sa và Trường Sa. Các anh biết gì mà hỏi? Các bạn Trung Quốc giữ giùm cho chúng ta. Khi nào chúng ta cần, họ sẽ trả lại. Tôi có thằng em ở ngoài đó mới gửi thư về... Còn chuyện gửi người đi học nước ngoài: Chúng ta cần học gì ai. Họ phải đến học chúng ta chứ. Hỏa tiễn Liên Xô cung cấp cho chúng ta, chúng ta điều chỉnh lại nên bắn xa hơn và hạ được máy bay B52 của Mỹ. Cả thế giới phải khâm phục”. Chuyện bồi thêm thuốc súng để bắn xa hơn có thể tin được. Nhưng coi mình nhất thiên hạ, bản thân tôi cũng khâm phục tài “Nói không biết ngượng miệng!”

Được giao công tác điều hành sản xuất, tôi bắt tay vào việc. Đất Đà Lạt không trồng được lúa, khí lạnh quá lúa không có hạt! Sau 1975, có khi nhiệt độ Đà Lạt xuống mức 2 độ. Sáng sớm, một lớp sương muối trắng xóa phủ trên các mái nhà tôn, trên các đám cỏ và rau. Nếu không tưới ngay cho bụi nước đá ấy tan đi, nắng lên, rau cháy hết lá. Lá rau lang cũng khô. Nhờ những giáo dân Du Sinh chuyên làm rau chỉ dẫn từng chi tiết một, chúng tôi làm theo. Làm rau vụ đầu tiên, tôi cảm thấy chán nản. Làm nông ở quê tôi khỏe hơn nhiều. Tôi quen làm hoa màu ở Bình Giả: cày luống, gieo hạt, cây mọc chưa đầy gang tay, gạt cỏ lần thứ nhất, cây tốt gần hai gang, làm cỏ lần thứ hai và đồng thời vun gốc luôn thể, ngồi chờ ngày thu hoạch. Làm rau: rải phân chuồng, lật đất lên, moi lỗ thẳng hàng, cách nhau thật đều, đặt cây con xuống, lấp gốc lại. Tưới liên tục giữ cho lá đừng khô, hai tuần sau cây đứng, xăm đất quanh gốc, mồi phân hóa học. Khi cây tốt, nĩa đất dọc theo đường rãnh giữa các luống, rải phân xác mắm trộn phân hóa học lên luống theo từng loại rau (ăn củ, ăn lá hay ăn trái), xúc đất dưới rãnh phủ lên lấp phân, tưới nước đều đặn, xịt thuốc sâu, thuốc dưỡng cây, thuốc chống nấm...Ôi phức tạp làm sao!

Làm rau, vốn đầu tư ban đầu khá cao. Sợ chúng tôi không dám theo đuổi, những người chỉ dẫn cứ trấn an: “Không hết bao nhiêu đâu!” Cần đến đâu, họ kêu chúng tôi đi mua đến đó, thay vì nói chúng tôi mua đủ một lần. Trong khi đó, cứ vào thầy quản lý xin tiền hoài cũng ngại. Mỗi lần vào xin tiền đi mua phân hoặc dụng cụ, thầy J.B. Thái lại giở sổ ra, gọi tôi lại gần và chỉ: “Anh coi này! Cứ bỏ ra không mà chưa thu vào được gì cả!” Chán thật! Mới bắt đầu làm đã đòi thu hoạch rồi. Các loại rau hầu hết đòi hỏi thời gian tối thiểu ba tháng trở lên mới cho kết quả. Lứa rau đầu tiên của chúng tôi là 3.000 cây bắp sú. Nếu thất bại, mất số vốn đầu tư lớn như thế, chắc chắn không ai trong cộng đoàn dám cho đầu tư tiếp nữa. Mưa liên tục, đất sét trên một băng đất sình không bao giờ ráo nước. Bắp sú thối rễ hết một nửa! Số còn lại nằm rải rác khó chăm, các giáo dân cố vấn bàn với nhau bứng lên dồn chúng lại một phía. Chúng tôi dùng giá xúc xắn cả đất lẫn gốc chuyển về trồng vào chỗ những cây chết. Đám rau bây giờ còn lại một nửa. May thay trời bớt mưa. Số cây còn lại sống cả. Những cây bắp sú thật to và đẹp. Đến ngày thu hoạch, nhà buôn vào trả giá: “450.000VNĐ”.

Đó là một số tiền lớn thời ấy! Lần đầu tiên cộng đoàn Du Sinh làm ra số tiền lớn như thế. Ai nấy phấn khởi. Tinh thần lao động tăng cao. Có lẽ để thưởng công, cha Giám sư Vương Đình Khởi cho tôi trở lại học tiếp ở Giáo hoàng Học viện, hoàn toàn do các cha Việt Nam đảm trách. Trước đây chỉ một mình anh Vũ Phan Long đi học. Số anh em khác vẫn ở nhà lao động.

Chẳng bao lâu sau, chúng tôi mau chóng trở thành những người làm rau chuyên nghiệp. Chúng tôi trồng đủ mọi thứ rau: bắp sú, sú lơ, cà rốt, khoai tây, cải củ, su hào, đậu hòa lan, cà chua, cải thảo, xà lách, dâu tây...và các loại bông. Khổ nỗi! Thời bao cấp, Nhà nước không có đủ xe chuyên chở. Một đám bắp sú thu hoạch được năm hay sáu tấn, đăng ký bán cho Nhà nước theo luật hợp đồng hai chiều (Nhà nước bán lại cho các thứ lương thực khác). Chờ đợi ba bốn ngày mới được chặt năm hoặc sáu tạ. Được báo tin, dù đang ngủ cũng phải vội vàng thức dậy đi chặt sú cho kịp xe đến bốc. Có khi chúng tôi phải gánh đi tập kết ở một nơi cách xa vườn chúng tôi. Nhìn thấy chúng tôi gánh những bắp sú to lớn, những nhà vườn lâu đời phải thốt lên: “Mấy ông thầy làm có sách!” Bắp sú, cải thảo chúng tôi trồng mỗi bắp trung bình nặng năm hoặc sáu ký. Loại tám ký một cây cũng không ít.

Rau đến ngày thu hoạch không thể để kéo dài lâu trên vườn, nhất là xà lách. Càng kéo dài, chúng nó càng thối, số lượng càng hao. Nhiều khi chờ xe không có, nóng ruột quá, chúng tôi phải bán “chui”. Bán chui là bán ngoài hệ thống: Khoảng từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng, trời mưa lất phất, chúng tôi gánh rau chạy đoạn đường 3 cây số từ nhà đến chợ để bán. Nếu không may bị bắt, số rau ấy có thể bị tịch thu không thương tiếc!

Ngoài việc phân công cho anh em, chỉ đạo mọi kế hoạch làm ăn, tôi còn phải lo giao dịch đối ngoại, đại diện Tu viện đi tham gia các cuộc họp, học tập ở mọi cấp từ Tỉnh, Thành đến Phường, Khóm. Nhiều khóa liên tiếp, làm Phó Phụ trách công đoàn Phanxicô Du Sinh, tôi phải thay cha Phụ trách Phi Khanh Vương Đình Khởi lo việc nhà để cha đi lo việc các xơ Dòng Mến Thánh giá. Ơn gọi Mến Thánh giá nơi cha Khởi mạnh hơn ơn gọi Phanxicô, cha đi liên tục, tháng này qua tháng khác, năm sau tiếp năm trước. Cũng thông cảm cho cha: cha có tinh thần trách nhiệm cao, thương những ai đáng thương hơn. Cha đi tìm tài liệu, nghiên cứu tài liệu, quy tụ các Bề Trên cao cấp của các Hội Dòng Mến Thánh giá khác nhau, nghe ngóng tỉ mỉ lời thỏ thẻ của từng chị em để giúp viết lại Bản Hiến Chương lịch sử Dòng Mến thánh giá. Nghe quá nhiều và quá chú ý lắng nghe những lời nhỏ nhẹ rung rinh tựa tơ vàng, đôi tai cha không còn khả năng nghe những giọng nói bình thường của anh em!

Viết về mình mà nói nhiều về người khác ắt không nên. Tôi quay lại chuyện làm ăn. Nghề làm rau vất vả và mau mất sức, liên tục phải thay đất mới: Đào và gánh đất nơi khác về đổ trộn với đất cũ. Rau sống trên phân nhiều hơn trên đất. Phân, thuốc trừ sâu... đều hiếm, phải sáng chế ra đủ kiểu cách để bù trừ. Chúng tôi đi lùng phân chuồng khắp nơi. Có những chuồng bò mái dột, chủ không cắt được cỏ khô lót chuồng, bước vào phân ngập đến đầu gối, phải múc từng xô chuyền đổ lên xe. Trên đường về, mỗi lần gặp ổ gà, xe lắc một cái, phân nước văng rớt xuống bắn tung tóe lên áo quần người đi đường. Đó là những dịp quý báu để có thêm nhiều kinh nghiệm về phản ứng của người thế gian.

Về vụ đổi tiền

Vụ đổi tiền xảy ra trong lúc vắng chủ nhà (họ Vương Đình), cả nhà bối rối. Mọi sự cũng trôi chảy êm xuôi. Nhưng trời bỗngnổi sóng: Sau ngày đổi tiền, Công an lần lượt mời nhiều giáo dân ra đồn Công an làm việc. Cuộc điều tra xoay quanh chuyện nhà Dòng có nhờ ai đổi tiền giùm không. Ai hay đi lại với Nhà Dòng đều được chiếu cố. Trong thời gian điều tra, Công an cấm không ai được liên lạc với nhà Dòng. Những lời đe dọa có kết quả. Những người làm việc với Công an trở về im thin thít. Người dám vào gặp các cha là một người vẻ hốt hoảng sợ hãi cho biết: “Con bị Công an đánh đập xỉu lên xỉu xuống. Họ dí điện đau quá nên đã khai...” Chúng tôi họp cộng đoàn lại, quyết định không để giáo dân phải khổ. Tôi sẵn sàng nhận hết trách nhiệm. Các anh em khác nếu bị điều tra, cứ dồn hết cho tôi. Tôi chấp nhận vào ngồi tù mấy tháng.

Sự việc không đơn giản. Đó là giai đoạn Nhà Nước tìm mọi cách để chiếm đoạt các cơ sở tôn giáo. Có thể kết tội thì cho chủ nhà đi tù, giải thể những người còn lại, tịch thu nhà cửa và đất đai. Không có tội thì dàn dựng những tình huống để có thể kết tội. Ban đêm chỉ cần cho người giả dạng làm Fulrô vào Tu viện gõ cửa xin gạo, xin sách... Đem gạo ra đương nhiên mắc tội tiếp tế cho Fulrô. Ngay chuyện sáng hôm sau không mau mắn đi khai báo Công an cũng đã đủ lý do để bị kết tội! Thành phố Đà Lạt đã giao cho Lâm Trường một khu đất sát cổng Tu viện. Khu đất ấy cũng là đất thuộc Giáo xứ Du Sinh. Họ mở một xưởng cưa ở đó. Mặt bằng không rộng lắm, mỗi lần chở cây gỗ từ rừng về, phải chất ngổn ngang choán cả lối đi. Từ lâu họ đã dòm ngó với vẻ thèm thuồng khu vườn bằng phẳng của Tu viện Phanxicô. Phải chăng đây là cơ hội?

Cha Hoàng Gia Bình, do lời khai của ông Trực, được mời lên Công an Thành phố làm việc và bị giữ lại luôn trên đó hai tuần. Số tiền cha Bình nhờ ông Trực đi đổi, cha nhận là của bà con gửi nhờ xây mộ cho một người thân. Tiền đã bị tịch thu, cha còn phải về nhà đóng một cây thánh giá gỗ đi tìm cắm vào một ngôi mộ vô danh nào đó, phòng hờ khi Công an đi xác minh, cha có mộ để chỉ. Sau khi lấy lời khai của 12 cá nhân vừa giáo dân vừa lương dân, tôi được mời với tư cách thay chủ hộ. Cha Bình được tạm cho về nhà. Dân thường làm việc ở Công an Phường, tu sĩ làm việc ở Công an Thành phố. Tôi được mời cuối cùng, sau khi họ đã nắm chắc cơ sở để buộc tội. Tôi được mời lên Phòng Công an chính trị. Với những chứng cớ họ có trong tay, họ đã coi tôi như một tội phạm. Một người giáo dân buột miệng: “Bây giờ bắt đầu chiếu tướng”.

Bước vào đồn Công an như bước vào nơi ám khí. Không khuôn mặt nào tỏ vẻ thân thiện. Mặt nào cũng hằm hằm sát khí. Tôi thử bắt chuyện, nhận được câu trả lời cộc lốc: “Anh làm việc với ai?” Anh khác: “Anh Hùng sẽ làm việc với anh”. Quả thế, người chịu trách nhiệm điều tra về tôi là anh Hùng, một Công an xưng gốc Nghệ An.

Bắt đầu làm việc, anh Công an tự giới thiệu về mình vài câu, tiếp đến anh vào đề ngay bằng giọng khủng bố tinh thần. Anh ra lệnh cho tôi: “Trước hết yêu cầu anh bỏ kính xuống. Bây giờ anh đang làm việc với chính quyền. Tôi là đại diện cho chính quyền. Anh phải nghiêm túc”. Anh Hùng ngồi trên chiếc ghế dựa bình thường, cách một cái bàn nhỏ, tôi ngồi đối diện. Ghế dành cho tôi là một khúc gỗ tròn, thấp. Mới ngồi vào, tôi phải cử động người cho hợp vị trí, anh Công an mắng ngay: “Yêu cầu anh ngồi ngay ngắn, lịch sự! Anh quen ngồi như thế với giáo dân của anh rồi à? Tại sao lần trước đã gửi giấy mời mà anh không lên? Nguyên chuyện đó chúng tôi đã có thể cho xe đến bắt anh!” Tôi trả lời: “Tôi chưa nhận được giấy mời nào cả. Hôm qua nhận được giấy mời, hôm nay tôi lên ngay”. Giấy mời lần đầu, nhưng trên đó đã ghi: “Mời lần thứ hai”. Chẳng qua, đó cũng chỉ là lời hù dọa thôi. Lời người chạy về phao tin bị đánh đập, dí điện cũng chỉ là lời hù dọa. Chưa ai bị đánh đập hay dí điện cả. Anh Công an giả bộ tỏ vẻ thông cảm: “Hôm đó đã giao cho anh (nghĩ ngợi...làm như không nhớ!) cầm về. Thôi được, bây giờ chúng ta vào đề. Anh cho biết rõ ràng, ngày hôm đổi tiền, anh ra khỏi nhà lúc mấy giờ, đi với ai, đi con đường nào, trên đường ghé vào những nhà nào, gặp những ai, anh trở về đường nào, gặp những ai, mấy giờ, về đến nhà anh làm gì? Anh phải nói đúng sự thật...”.

Tôi ngồi kể hết đầu đuôi, anh Công an ghi chép. Suốt ba ngày đầu, ban sáng lấy khẩu cung, sau đó tôi phải ngồi chép lại ra giấy; sau nghỉ trưa, Công an nhận xét về tờ khai từng chi tiết một, kết luận: “Khai chưa đúng! Yêu cầu viết lại cho đúng và đầy đủ”. Chiều, viết lại tờ khai. Tôi viết đi viết lại sáu tờ khai về hành trình đi đổi tiền của tôi, sáu tờ khai hình thức viết khác nhau, nhưng nội dung chỉ là một. Một đàng, tôi dứt khoát khẳng định tôi đi một mình để tránh liên lụy đến người thứ ba, tôi cũng không nhờ ai đổi... đàng khác, tôi phải dùng lý luận bác hết những lời khai không phù hợp lời khai của tôi nơi các tờ khai của mười mấy người kia. Rất khó mà khai khớp với nhau, vì giáo dân nghe lệnh cấm của Công an, không ai dám vào gặp hoặc nhờ người báo cho chúng tôi biết họ đã khai những gì, khai như thế nào. Ngay cả khi hai bên đối chất nhau trước mặt Công an, bên nào cũng tự ái nên bảo vệ lời khai của mình trước đó, gây bất lợi cho tôi. Chẳng hạn, tôi khai khi ra khỏi cổng Tu viện, tôi ghé rủ ông Có, nhưng ông bận, ông bảo tôi cứ đi trước, ông đi sau (điều đó có thật). Nhưng ông Có đã lỡ khai tôi không hề gặp ông, không ai rủ đi hết. Khi Công an mời ông lên đối chất với tôi, tôi gợi cho ông nhớ lại một số tình tiết: hôm đó có ông Toan ở nhà ông, hai ông đang làm thịt con gì đó. Ông Có nhất mực giữ lời khai cũ. Công an kết luận: “Thấy chưa, người ta là người dân chân chất, có thế nào người ta khai thế ấy. Còn anh, ngay từ đầu anh đã gian dối!” Sai hóa đúng, đúng thành sai. Trong con mắt thù hận của Công an, linh mục đồng nghĩa với gian dối, lười biếng, ăn bám quần chúng, bóc lột nhân dân và nhiều điều xấu xa khác!

Ông Có là một láng giềng lương dân. Có thể ông được hưởng lợi lộc vật chất khi quan hệ với chính quyền. Khi mọi sự đã lùi vào dĩ vãng khá lâu, ông Có thú nhận: “Tôi nhớ hồi đi đổi tiền, hình như cha Hoa có ghé nhà rủ tôi đi”. Lời nói thật ấy không còn giá trị và chẳng giúp ích gì nữa! Một anh thanh niên giáo dân Du Sinh đã lỡ khai: Trên đường đi đổi tiền, anh đi xe đạp, gặp tôi đi chung với mấy người khác, hình như là người Tổ 54 (Tổ 54 nằm trên đồi Du Sinh giáo dân toàn tòng, Tu viện Phanxicô trước đây thuộc Tổ đó). Khi đối chất với tôi, nghe tôi khẳng định đi một mình, anh không biết phải nói thế nào, anh đành nói anh thấy “hình như vậy”. Dựa vào hai chữ “hình như” ấy, tôi xác quyết với Công an lần nữa: “Anh Tuấn đi xe đạp, tôi đi bộ. Anh đi ngang qua tôi, nếu anh nhìn từ phía sau mà biết đó là mấy người Tổ 54, chắc chắn anh biết tên họ, vì giáo dân Du Sinh không xa lạ đối với anh. Nếu anh đi qua và anh quay lại, anh phải nhận ra mặt họ. Vậy mà anh chỉ nói “hình như”, anh không nêu tên được ai. Còn tôi, tôi khẳng định: “Tôi đi một mình. Còn ngày đổi tiền, người đi người về đông đúc, anh Tuấn gặp tôi lúc tôi đi ngang qua những người khác hoặc những người khác đi ngang qua tôi, đó là chuyện bình thường”. Trong các vụ án, lời khẳng định bao giờ cũng mạnh hơn những lời thiếu chắc chắn: “hình như, có lẽ...”.

Khó gỡ cho tôi nhất, đó là trường hợp một bà giáo dân Du Sinh đã khai bà đổi tiền cho tôi. Một lời khai thẳng thừng như thế khó bề chối cãi. Sự kiện xảy ra như sau: Bà Lập (tuổi trên 70), ôm tiền sang Vạn Thành nhờ bà Phiến đổi giùm. Hai người bà con nhau. Bà Phiến mấy ngày trước sang bà Lập mượn tiền, bà Lập không có tiền cho mượn. Nay bà Lập lại đưa tiền sang nhờ đổi, bà Phiến nói: “Chắc tiền cha Hoa đây”. Bà Lập im lặng. Công an đã làm việc với bà Phiến. Họ còn lên Đại học Đà Lạt lấy lời khai của anh sinh viên tên Bắc, con bà Phiến. Anh Bắc thú nhận khi ấy anh ở trên gác, nghe các bà ở dưới nói đổi tiền cho cha Hoa. Ra trước Công an, có lẽ bà Lập không còn hồn vía, phần khác thấy quá nhiều người lên Công an, bà nghĩ đàng nào tôi cũng có tội rồi, bà dồn cho tôi thêm một tội để cứu người khác chăng? Khi được mời lên đối chất với tôi trước mặt Công an, bà vẫn giữ lời khai của bà, bà tỏ ra bực bội khi tôi bác bỏ lời khai ấy. Tôi hiểu bà như muốn khuyên tôi cứ nhận đi, về nhà bà sẽ bù lại cho. Công an cũng kết tội tôi trước mặt bà Lập như đã kết tội trước mặt ông Có. Đối với họ, tôi mới là người gian dối, còn ngoan cố nữa.

Mặc dầu Công an cấm tôi trong thời gian làm việc này tuyệt đối không được liên lạc với ai, họ còn cảnh cáo nếu tôi hăm dọa ai, hãy coi chừng. Tôi viết một lá thư kể lại vụ việc giữa bà Lập và tôi. Trong thư, tôi mạnh mẽ nói: “Vì lợi ích của Dòng và vì danh dự của linh mục, không bao giờ tôi nhận tội vô lý như thế”. Thư được bí mật chuyển đến các con bà Lập. Cả nhà mới vỡ lẽ: cả tuần mẹ họ bần thần, bỏ ăn bỏ ngũ, người ốm đi, bà cứ im lặng, không ai biết chuyện gì. Bây giờ rõ chuyện, chị em khóc lóc chạy vào xin lỗi Nhà Dòng. Sau đó mẹ con dắt nhau lên Công an “phản cung”. Bà nhận vì sợ hãi khi Công an đe dọa nên bà khai như thế.

Mười hai ngày làm việc với Công an chính trị. Hết nghe lại viết, viết xong lại được lệnh ngồi suy nghĩ cho kỹ. Thay vì suy nghĩ, tôi ngồi gục đầu lên bàn ngủ. Tôi liền bị la: “Anh kia, gọi anh lên đây làm việc, chứ lên để ngủ hả?” Ngày họ làm việc, mỗi Công an thụ lý một vụ. Chiều đến, họ làm việc chung với nhau và nghe chỉ đạo. Nhờ nhớ câu: “Khi ra trước Tòa, anh em đừng lo nghĩ phải nói gì, chính Thánh Thần sẽ nói trong anh em”, tôi thêm can đảm. La mắng, sỉ nhục to tiếng, nói những lời xóc óc khiêu khích lòng tự ái, tôi thản nhiên nhìn thẳng vào mặt Công an. Những ngày đầu họ lấy thông tin tối đa, những ngày kế tiếp Công an cấp cao hơn nhập cuộc. Anh Châu, Phó Thủ trưởng, làm việc với tôi. Anh xuất thân từ Đại học Công an, phân tích và phê bình các lời khai của tôi cách chính xác và tỉ mỉ, lý luận sắc bén. Anh nói với tôi như nói với cả một giảng đường. Tôi thầm nghĩ: loại người như thế có còn tính người không? Làm sao chúng có thể sống với vợ con?” Tôi nhìn thẳng mặt anh và bình thản nghe anh to tiếng...Thỉnh thoảng anh nhìn mặt tôi thăm dò, thấy tôi không tỏ vẻ sợ hãi, tay anh bắt đầu rung rung. Tôi nhìn vào tay anh, anh mất hứng bỏ ghế đứng lùi ra xa hơn để nói tiếp. Tôi biết như thế, tôi đã làm chủ được tình hình.

Tôi được lệnh không được ra khỏi phòng. Nhưng khi tất cả Công an tập trung vào phòng họp phía dưới, tôi nhẹ nhàng bước ra đầu cầu thang nghe ngóng. Họ đọc các lời khai của tôi, họ đánh giá với nhau và khen cách lý luận của tôi, họ nói: “Nó lý luận nghe đã không? Nó không sợ gì cả!”. Tôi nghe ông Thủ trưởng Tuyên chỉ thị: “Nói mạnh mà nó không sợ, phải chuyển qua nói nhẹ”. Đúng như thế, ngày hôm sau, tôi được mời xuống phòng tiếp khách gặp ông Thủ trưởng Công an. Ông rót nước trà mời tôi uống và ngồi nói chuyện với tôi tử tế. Ông khuyên tôi nhận tội. Tôi quả quyết tôi không có tội. Ông không tin. Ông cho rằng: làm sao một người giáo dân dám khai một ông linh mục như thế. Họ khai, chắc chắn là tôi phải có tội.

Họ bắt tôi ở lại ngủ nhà Công an ban đêm. Nan giường đóng thưa, tôi nằm thịt lọt xuống giữa hai chiếc nan, sáng hôm sau thức dậy thấy khá đau. Tối họ không cho mùng. Tôi không ngủ được. Tôi nghe ở phòng dưới bà vợ ông Thủ trưởng có vẻ bênh vực cho tôi, bà thủ thỉ với chồng: “Nhỡ ông ấy không có tội thì sao?” Ông Tuyên đáp: “Làm gì có chuyện đó. Không có làm sao người giáo dân họ lại khai?” Ông hiểu khá rõ về người giáo dân, đối với ông, người giáo dân không bao giờ vu oan cho linh mục. Nhưng trường hợp của tôi, sự việc không đơn giản như thế. Mỗi lần muỗi đậu vào người, tôi lợi dụng đập một cái thật to. Suốt đêm tôi không ngủ, chắc chắn ông bà Thủ trưởng và cô con gái nhỏ ở phòng trệt cũng không được ngủ. Tối hôm sau tôi được cho về nhà ngủ. Anh em trong Tu viện nghe nói tôi mất ngủ tỏ vẻ lo lắng, sợ tôi không đủ tỉnh táo để ứng phó, họ khuyên tôi về phòng ngủ, dù lúc đó là ban ngày.

Tôi thắc mắc làm sao mấy anh làm nghề Công an dữ tợn như thế có thể sống với vợ con. Tôi đã tự tìm ra câu trả lời sau đó mấy ngày thôi. Hôm ấy tôi xuống phòng dưới, đi ngang qua trước cửa, tình cờ tôi thấy một chị, có lẽ là vợ anh Châu, bế cô con gái nhỏ tới. Anh Châu to tiếng với tôi trên phòng làm việc, nhưng khi bế cô bé gái từ tay vợ, anh ta cũng hôn con, âu yếm nựng con như tất cả những người cha bình thường khác. Bấy giờ tôi giác ngộ: thì ra họ cũng còn tính người. Khi làm việc với tôi, chẳng qua họ áp dụng chiến thuật thôi. Khủng bố tinh thần, trấn áp, đánh đòn tâm lý, làm cho người khác hoảng sợ, tất cả chỉ là chiến thuật. Từ đó tôi càng bình tĩnh hơn khi đối diện với Công an. Anh Châu báo với tôi: “Chúng tôi sẽ đến khám nhà anh”. Tôi không biết làm thế nào để đưa tin về cho anh em ở nhà để họ chuẩn bị đối phó. Bên kia đường có một gia đình Công giáo, nhưng khá xa, phải có ná thun bắn giấy qua mới tới. Nhìn ra cửa sổ, tôi nhìn thấy cha Bình mang cơm đến tiếp tế cho tôi, tôi vội vàng chạy xuống gặp để báo tin cho anh biết về chuyện Công an sẽ khám Tu viện, bất chấp lệnh cấm, cấm bỏ phòng và cấm gặp ai trong thời gian làm việc với Công an. Tiếp tế cơm cũng phải giao cho Công an, chứ không được trao cho tôi trực tiếp! Bất chợt gặp tôi bỏ phòng mà xuống, anh Châu hỏi gằn giọng: “Anh đi đâu?” Tôi trả lời ngay: “Tôi xuống nhờ anh Bình mang xe đạp của tôi về cho anh em ở nhà dùng”. Anh hỏi: “Xe đạp của ai?” Tôi nói xe của chung, tôi để đây không dùng tới, gửi về cho anh em dùng”. Anh hỏi: “Xe đâu?” Tôi dẫn anh tới chỗ để xe đạp. Khi bắt tôi ở lại đồn Công an, tôi đã gửi xe đạp ở đó thật. Nhìn thấy chiếc xe đạp, anh không nói gì thêm.

Trong đồn Công an, tôi viết trên những tờ giấy nhỏ các hướng dẫn cho anh em ở nhà chăm sóc vườn rau, cách pha thuốc diệt nấm... Tôi cố tình để Công an bắt gặp và tịch thu các giấy đó. Đúng như tôi suy tính, Công an thu giấy của tôi, họ đọc và họ biết tôi cũng là người lao động chuyên nghiệp. Nếu họ kết tội tôi lười biếng, không chịu lao động, tôi dám thách thức họ cho người ra thi làm vườn với tôi, họ sẽ biết ai lao động tốt hơn ai?

Công an Phòng chính trị làm việc không kết quả. Vụ việc của tôi được chuyển qua Công an kinh tế. Trong khi chờ đợi ngoài phòng làm việc, tôi nghe văng vẳng từ những căn phòng xa xa trong cùng khu vực những tiếng la thét ghê rợn. Tôi có cảm tưởng trong các phòng ấy người ta đang tra tấn các tội nhân? (Xin nói nhỏ: có lẽ chỉ là máy phát thôi). Công an kinh tế buổi đầu tỏ ra nhẹ nhàng, sau thấy tôi không nhận tội, anh tỏ ra bực bội hơn. Rốt cuộc, Công an kinh tế gửi công văn lên Chủ tịch Ủy ban Thành phố, trong đó ghi: Dù đương sự không nhận tội, nhưng xét rằng... Đề nghị cho tịch thu số tiền...Tôi lại phải làm đơn lên Chủ tịch Thành phố trình bày vụ việc, với những lời tôi đã khẳng định ở Sở Công an chính trị, ở Phòng Công an kinh tế, lời phản cung của bà Lập...Từ đó, không thấy giấy mời nào nữa.

Như thế, tổng cộng tôi đã làm việc 19 ngày, 12 ngày với Công an chính trị và 7 ngày với Công an kinh tế. Một kinh nghiệm quí báu trong đời đối diện với Công an chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian ấy, cha Phi Khanh Vương Đình Khởi hầu như mỗi trưa mang cơm lên Công an tiếp tế cho tôi. Đó là những ngày cha quan tâm đến tôi hơn cả.

Nếu các xơ Mến Thánh giá nhớ ơn và coi cha Khởi như vị sáng lập thứ hai sau Đức cha Lambert de la Motte, thì họ không được quên người gián tiếp giúp họ, bao hết các chuyện nhà cho cha Khởi đi vác ngà voi!

Chăn nuôi gia súc

Cha thánh Phanxicô cấm anh em nuôi súc vật trong nhà: “Tôi truyền cho tất cả anh em, giáo sĩ cũng như giáo dân, khi đi ra giữa đời hay lưu lại nơi nào, không được nuôi súc vật, bằng cách này hay cách khác, trong nhà mình hay nơi nhà người khác”(L Ksd XV). Nếu sống thời đại hôm nay, lệnh cấm ấy có được duy trì không, nhưng các cộng đoàn Phanxicô chúng tôi vẫn chăn nuôi một số con như gà, vịt, heo, cá và bò...Tại cộng đoàn Du Sinh, chúng tôi đã phát triển chăn nuôi khá mạnh.

Đúng là giai đoạn vừa học vừa làm đúng nghĩa: chúng tôi làm rau, hoa; chúng tôi chăn nuôi, chúng tôi tiếp tục theo học chương trình Thần học lưu động. Ngay từ những ngày đầu thống nhất Nam Bắc, các cha các thầy nước ngoài bị buộc rời khỏi Việt Nam. Tại Giáo hoàng Học viện, các cha Việt Nam thay thế, mở lại các lớp học. Nghe thông báo ở đâu dạy môn chúng tôi chưa học, chúng tôi đến học môn đó, dù được dạy ở Giáo hoàng Học viện, Chủng viện Minh Hòa hay Học viện Boscô. Tôi được gọi chuẩn bị khấn trọn vào ngày 03-10-1976 cùng với anh Phanxicô Vũ Phan Long. Mọi sự sắp đặt xong xuôi. Thánh lễ sẽ được tổ chức tại Nhà thờ Giáo xứ Du Sinh. Sát ngày khấn, đùng một cái, anh Long nhận được giấy gọi đi quân dịch. Cha Agnêlô Đình áp dụng Giáo luật, anh Long phải ngưng khấn hứa! Tôi khấn một mình. Cuộc khấn trọng thể không có một tấm hình lưu niệm nào, phía gia đình chỉ có hai đứa em tham dự. Tôi nhận chức Phó tế cùng một số thầy khác tại Giáo hoàng Học viện một tháng trước khi chịu chức Linh mục, cũng không một thân nhân nào tham dự.

Trong tình hình khó khăn của thời gian Quân quản, chẳng có gì rõ ràng. Cha Giuse Võ Đức Minh là Thư ký Tòa Giám mục Đà Lạt. Cha cũng là cháu Đại tướng Võ Nguyên Giáp nên cũng được kính nể thời đó. Cha Minh đại diện Tòa Giám mục liên hệ với chính quyền. Phía chính quyền không ký văn bản nào chính thức, nhưng chấp nhận ngầm các đề xuất của Tòa Giám mục qua cha Võ Đức Minh. Đợt chịu chức linh mục của bốn anh em Phanxicô chúng tôi cùng với sáu thầy bên Chủng viện Giáo phận, cha Võ Đức Minh đi gặp Chủ tịch Ủy Ban Quân Quản, nghe nói ông Chủ tịch trả lời như sau: “Về tôn giáo, chúng tôi chưa nhận được chỉ thị mới nào. Trước đến nay, các ông làm thế nào, các ông cứ thế mà làm, nhưng đừng làm rầm rộ bề ngoài làm gì”.

Nhận được trả lời miệng như thế, nhưng không giấy tờ, biết đâu lại là cái bẫy? Người ta trở bàn tay không khó gì. Nhưng Đức cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm đánh liều. Theo cảnh giác đề phòng, Đức cha đã chuẩn bị tinh thần để trả giá, sẵn sàng dù phải vào ngồi tù. Ban đầu dự kiến hai bên Phanxicô và Chủng viện cùng chịu chức cùng ngày 25-01-1977 tại Chủng viện Giáo phận, nhưng để Phanxicô di chuyển sang Chủng viện, chiếc xe Lambrretta của Phanxicô ồn quá, có nguy cơ làm bại lộ vụ việc. Đức cha quyết định tách ra: Sáu thầy Chủng viện chịu chức ngày 25 tại Chủng viện, bốn thầy Phanxicô chịu chức ngày 26 tại Tu viện Phanxicô. Cuộc lễ phong chức linh mục của chúng tôi cũng đơn sơ giản dị: ngoài anh em trong nhà, chỉ có vài cha đi theo Đức cha, vài đại diện của Giáo xứ Du Sinh, hai xơ Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ. Thân nhân của bốn cha mới nằm ở số “không”.

Tôi thuộc số linh mục được Đức cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm phong chức trong thời gian Quân quản sau biến cố 1975 (26-01-1077), đó là đợt cuối cùng, vì sau đó chính quyền Lâm Đồng ra lệnh cấm rõ ràng Đức cha không được phong chức linh mục nữa. Họ dọa nếu còn tiếp tục, họ sẽ bắt! Phải đợi mười năm sau mới có một đợt phong chức linh mục khác. Tôi đồng thời cũng là linh mục cuối cùng (sau 18 năm chịu chức) được chính quyền Tỉnh Lâm Đồng công nhận (trong văn bản gọi là phục hồi chức năng, không biết mất lúc nào mà phải phục hồi?). Chính quyền Lâm Đồng coi đó như một phần thưởng chính quyền dành cho Đức cha trước khi Đức cha ra Thanh Hóa nhận Giáo phận mới.

Khi chưa được công nhận, chúng tôi thi hành chức linh mục cách âm thầm, đi làm lễ tại một số cộng đoàn nữ tu. Nhà Nước chỉ bán cho 8 kg gạo mỗi tháng trong khi các linh mục chính thức được mua 12kg. Không sao, chúng tôi nấu ăn chung, người chỉ được 8 kg mà khỏe vẫn ăn nhiều hơn người được 12 kg mà yếu. Tại các buổi họp và học tập liên quan đến tôn giáo, Nhà Nước phân biệt rõ ràng giữa hai loại linh mục: Lúc điểm danh, họ xướng: “Linh mục Võ Đức Minh – Có; Linh mục Vương Đình Khởi – Có”, còn đến lượt chúng tôi, họ xướng: “Ông Đinh Huỳnh Hoa – Có; Ông Vũ Phan Long – Có”. Họ gọi chúng tôi là “Tu sĩ có trình độ” để phân biệt với các Tu sĩ không linh mục khác. Các đợt tĩnh tâm linh mục Giáo phận, trong tờ đơn xin phép, Tòa Giám mục phải ghi tên chúng tôi vào danh sách thành phần phục vụ Tuần Tĩnh tâm. Thực tế, chúng tôi chẳng phải phục vụ gì. Chúng tôi được bố trí một phòng riêng, nghe bài giảng qua “loa” chứ không được thấy mặt người giảng!

Trở lại việc chăn nuôi. Các vật nuôi của chúng tôi đa dạng, cũng có lúc chạy theo phong trào. Cha Hoàng Gia Bình và cha Đậu Văn Minh cũng có nhiều kinh nghiệm về chăn nuôi, nhất là nuôi heo. Cha Bình nghe theo thiên hạ, trộn urê vào cám heo, heo mau lớn và da đẹp bóng láng, nhưng đến ngày phải bán gấp không thì khốn. Heo đó làm thịt, nấu ra nước gần hết, không được mấy tí nạc! Cũng có lúc cha cho heo ăn lá cần sa, heo ăn cám khỏe và chóng lớn. Ngưng hoặc hết lá cần sa, heo bỏ ăn, luôn nghếch mõm lên chờ đợi mơ hồ và teo lại mau chóng. Nhưng kỷ niệm nên lưu lại về nghệ thuật chăn nuôi của cha Bình, đó là chuyện “Bầy heo than”. Ngày kia, heo nái cha Bình cho ra đời bầy heo con rất đẹp. Con nào con nấy khỏe mạnh và chạy nhảy tung tăng. Cha Bình thương heo, chăm sóc kỹ lưỡng. Ban đêm, sợ heo lạnh, cha mang vào chuồng một thùng gỗ lớn, rải dưới nền một lớp trấu thật dày, cha đặt một cái chảo to ở giữa (loại nấu cơm cho trên 20 người ăn), trong chảo cha chất đầy mạt cưa và củi. Cha châm lửa vào chảo mạt cưa, đặt bầy heo con nằm chung quanh chảo, bảo đảm heo không thể chạy ra xa được vì đã có thùng gỗ vây quanh. Sáng ra, cha Bình vào chuồng thăm heo, tám chú heo con đã là tám cục than đen sì! Chảo nóng đỏ rực khiến lửa cháy lan ra cả lớp trấu bên ngoài!

Một chuyện khác đáng nói về cha Bình: Sáng sớm kia, cha đi làm lễ cho cộng đoàn chị em Phan sinh Thừa sai Đức Mẹ ở đường Cô Giang Đà Lạt. Đến đầu dốc Ga xe lửa (nay đã được sửa sửa lại bớt dốc hơn), sức mạnh nào thu hút, cha rướn mình đạp dốc tiến lên. Một nàng tiên ngồi xe đạp từ trên dốc lao xuống. Hôm đó sương mù dày đặc, hai bên không thấy nhau. Bỗng “rầm” một tiếng xé tan màn đêm tĩnh lặng. Trán cha bể chút xương lõm sâu vào một lỗ. Môi cô nàng dập, máu ra lênh láng. Cả hai nằm sát nhau. Mặt giáp mặt, cô gái tấn công trước: “Trời tối thế này mà anh còn đeo kiếng!”. Hình như đó chỉ là một lời tỏ tình âu yếm?

Cha Phêrô Đậu Văn Minh chăn nuôi có tiến bộ hơn. Cha rất thương súc vật. Heo đẻ, cha mắc võng nằm ngủ với heo. Mỗi lần cho heo con bú, cha bắt từng con đưa miệng chú vào từng vú một và dỗ dành: “Bú đi con! Bú đi con!” Thấy chú heo bé nhỏ bỏ vú này chạy đi tìm vú khác, cha bắt quay lại. Quá tam ba bận, cha túm con heo cứng đầu ném vào vách chuồng đá, máu miệng máu mũi trào ra: “Dạy con từ tuổi còn thơ” là thế.

Chúng tôi đã nuôi thí nghiệm nhiều bầy bò khác nhau, bầy này không đạt, chúng tôi thay bầy khác. Chủ yếu nuôi bò để lấy phân làm vườn, và thêm bê con thì cũng thêm kinh tế cộng đoàn. Thấy bầy bò người ta ngày ngày dẫn đi ngang trước cổng Tu viện béo úc núc, lúc nào cũng có năm, sáu con bê con thật đẹp. Cuối cùng chúng tôi cũng đã mua được nguyên toàn bộ bầy bò mơ ước ấy.

Từ khi vào tay chúng tôi, bầy bò ốm dần, ít đẻ, vài con bê hiếm hoi chào đời thì phải chăm sóc y tế liên miên. Thay phiên nhau, mỗi anh đi chăn bò một tuần. Anh gốc Nghệ An Hà Tĩnh thì điều khiển bò bằng tiếng “tắc (sang trái), rì (sang phải)”; Anh gốc Quảng Ngãi thì dùng tiếng “ví (sang phải), thá (sang trái)”. Khả năng ngoại ngữ của bò không cao, sau một thời gian, nghe người chăn truyền lệnh, bầy bò chạy lung tung, con sang trái, con khác sang phải!

Được giới thiệu, chúng tôi tìm mua một con bò Ấn Độ, to cao nhất trong số bò hiện có ở Đà Lạt. Ả cho chúng tôi một chú bê đực xinh xắn khỏe mạnh, nhảy nhót tung tăng. Cha Minh cưng chú lắm, lấy alcool 90 độ sát trùng rửa rốn chú hàng ngày. Chúng tôi chẳng thấy con vi trùng nào dám đến bám rốn chú, nhưng thấy rốn chú lở loét. Hình như chú bê con không cảm thấy đau đớn gì, chú vẫn vui đùa nhảy nhót. Gọi thú y đến chữa, được biết khoa học gọi hiện tượng đó là “hoại tử”. Alcool làm da non cuống rốn hoại tử! Chẩn đoán xong, thú y ra tay trổ tài điệu nghệ: lau kỹ càng sạch sẽ vết thương, chích cho chú một mũi thuốc. Rút kim ra, chú bê con lăn đùng ra giẫy giụa, thở khò khè. Thú y vội vàng chích thêm mấy mũi khác rồi hẹn ngày mai đến lại. Sáng hôm sau, ra chuồng thăm, chú bê đã an nghỉ ngàn thu hồi nào! Tìm dưới đất, chúng tôi lượm được bốn cái vỏ thuốc Atropin. Thì ra, thú y chích kháng sinh gây “sốc”, giải thuốc bằng bốn lọ Atropin mà cũng không cứu vãn được tình thế. Kinh nghiệm cho thấy: Cưng con hóa ra hại con.

Theo phiên, tôi cũng nấu ăn, chăn bò, dù có người đề nghị cho tôi nghỉ, vì lúc đó tôi làm Phụ trách cộng đoàn. Một hôm, tôi đang canh giữ cho đàn bò ăn trước cổng Tu viện, hai thầy Dòng Thánh Tâm Hố Nai đến thăm. Các thầy ghé gần tôi hỏi: “Chú ơi! Có cha Bề trên ở nhà không chú?” Tôi trả lời: “Có!” -  “Giờ này có gặp được không chú?” Tôi đáp: “Được, xin mời chạy thẳng vào trong nhà”. Tôi vào theo sau. Gặp tôi ra tiếp, một thầy thốt lên: “Xin lỗi cha! Xin lỗi cha! Chúng con có mắt mà như mù. Cha cho chúng con một bài học”. Tôi chẳng hiểu tôi đã cho bài học gì, chỉ thấy các thầy cứ tỏ ra áy náy lương tâm suốt buổi tiếp chuyện hôm ấy.

Biết bơi để cứu người

Như đã nói trên, tôi nhờ tự tập và nhờ sống trong môi trường ao hồ từ nhỏ, và sau này sống những năm ở Nha Trang, tôi bơi lội có trình độ. Thú nhảy cao và nhào lộn từ mõm tảng đá xuống nước ở Hòn Chồng cuốn hút tôi. Vừa nhảy vừa nhào lộn trước khi rơi xuống nước là môn thể thao lành mạnh, nhưng đôi khi nguy hiểm. Lần kia, tôi lấy đà từ xa, đến chỗ đạp chân để nhảy, đá ướt trơn, tôi bị trượt chân nhưng không thể nào dừng lại được, nín thở lo âu chờ tai họa. May thay! Tôi đã rơi được toàn thân xuống nước. Bình thường, tôi nhảy xa ra khỏi mõm đá từ hai đến ba mét, hôm đó tôi rơi cách ra ngoài mõm đá chỉ vài gang tay, đầu tôi an toàn! Tôi thích tắm vùng nước sâu hơn tắm ở những bãi biển cát lài lài. Có tắm bãi tắm, tôi cũng ra thật xa hưởng dòng nước trong. Khi biển động, tắm gần bờ để lướt sóng cũng tạm được. Ra xa, nước sạch và phẳng lặng, tôi có thể nằm im bao lâu tùy ý, giang thẳng hai tay hai chân nghỉ ngơi hoặc hai tay kê sau ót làm gối ngủ ngon lành. Giữ được thế nổi không cần cử động như thế rất có lợi, nhất là khi đã mệt vì bơi lâu ngoài biển.

Tôi cũng từng đạp xe đi làm lễ ở cộng đoàn Phan sinh Thừa sai Đức Mẹ ở Đà Lạt (cách cộng đoàn chúng tôi sáu cây số). Nhưng chưa bao giờ được diễm phúc như cha Bình. Trường hợp tôi gặp khác thường một chút: Sáng sớm tôi đạp xe ra đi lúc trời còn tối. Qua khỏi hẻm Ấp Ánh Sáng, tôi thấy người ta chạy nháo nhác. Nghe tiếng hô lớn: “Ai biết bơi ra cứu. Có người chết đuối dưới hồ!” Tôi vội vàng chạy tới. Góc Hồ Xuân Hương và cầu Ông Đạo phía đường Nguyễn Thái Học đầy người. Những người đi bán chợ đêm tập trung lại đứng nhìn. Nhiều ông khuân vác hoặc gánh hàng thuê đứng chống đòn gánh. Không ai xuống cứu. Thấy tôi dừng xe đạp bước xuống, mọi người đoán ra tôi là người họ chờ đợi. Một chị đỡ ngay chiếc xe đạp của tôi và nói: “Anh nhảy xuống đi, em giữ xe cho”. Tôi nhảy xuống hồ nước lạnh, lặn ra, mở mắt nhìn lên thấy bóng người lờ mờ. Tôi đưa tay lên đỡ ngay lưng nạn nhân và đẩy dần vào bờ. Tôi bê lên thấy nhẹ tâng. Đó là một bà khá tuổi, có lẽ đi chợ đêm, xuống bờ hồ rửa rau hoặc rửa tay và trượt té. Tôi nắm hai chân bà dốc ngược lên và lắc mạnh, không có nước. Bà không chịu uống nước hồ. Tôi dặn những người vây quanh đưa bà đi thay áo quần và sưởi ấm cho bà. Họ cùng nhau khiêng đi. Tôi nhận lại chiếc xe đạp. Một em bé chạy đến hỏi tôi: “Có sâu không chú?” Tôi cho em biết sâu lút khoảng ba người lớn!

Tôi tiếp tục lên đường. Khi đó, tôi đến chỉ báo cho các xơ rằng: “Hôm nay cho nghỉ lễ, tôi ướt hết rồi, phải về thay áo quần”. Một xơ hỏi: “Cha bị sao vậy?” – “Nhảy xuống Hồ Xuân Hương vớt người chết đuối”. Mấy xơ cảm thấy cho tôi về là hợp lý... Trong số những người có mặt tại Hồ Xuân Hương lúc ấy hình như có người nhận ra tôi, hoặc do các xơ nói ra? Những ngày sau, người thì phong tôi là “Anh hùng Hồ Xuân Hương”, người khác coi tôi như tấm gương “liều mình để cứu người hoạn nạn”. Một cụ già khuyên ngược lại: “Lần sau cha đừng làm như vậy nữa. Ma nó kéo cha xuống đấy”. Phần cha Đinh Viết Hoàng, cha biến nó thành một câu truyện tiếu lâm. Cha thêm đoạn kết: “Khi cha Hoa ôm người chết đuối lên, mọi người trên bờ vỗ tay. Cha nhìn xuống, nhận ra đó là một bà già, cha vất bà ta xuống, vừa chửi vừa nói: “... Tưởng là còn trẻ!”.

Bà ấy không chết đuối. Bà sống. Một người khác đúng là chết đuối thật: Một chú giúp lễ Nhà thờ Du Sinh tên Việt. Chú mới 15 tuổi nhưng vóc to lớn khỏe mạnh, da đen. Đi chơi với hai anh bạn khác, chú rơi xuống Hồ Hy Vọng dưới chân đồi Du Sinh, một anh bạn nắm được tay chú, nhưng chú nặng quá anh bạn không làm sao kéo lên được, anh lại sợ bị kéo xuống theo. Anh mới nói: “Mày thả tay ra để tao đi kêu người lớn”. Hai anh bạn chạy đi để lại chú Việt chơi vơi dưới nước. Nghe nói một anh sợ quá chạy đi luôn. Anh còn lại chạy lên đỉnh đồi kêu cha mẹ chú Việt. Được tin báo, cha chú Việt lên xe Honda chạy ra Phố tìm các nhân viên cứu hộ Hồ Xuân Hương. Họ hứa cứ về đi, họ sẽ vào. Mẹ chú Việt hớt hải chạy thẳng xuống hồ, không còn nhìn thấy con, chị liền ngất xỉu. Dân chúng lần lượt chạy ra. Những người chuyên đánh cá ở Hồ Xuân Hương nhảy xuống nước. Nước quá sâu, không ai lặn xuống tới đáy nên lên bờ ngồi nhìn tuyệt vọng!

Tôi nghe bên Nhà Mô (Cơ sở sản xuất cây giống Phan Sinh) các công nhân xôn xao. Tôi hỏi có chuyện gì. Họ cho biết có người chết đuối ở Hồ Hy Vọng. Hồ chỉ cách Tu viện Phanxicô vài trăm mét. Tôi hỏi:

- Chết đuối lâu chưa?

- Một tiếng rồi!

- Như vậy thì chết rồi. Thời gian quá lâu.

- Biết là chết rồi, nhưng gia đình chỉ mong đưa nó lên. Để nó ở dưới nước lạnh tội nghiệp nó.

Nhân viên cứu hộ hứa nhưng không vào! Cứu hộ kiểu đó chỉ nhắm vớt xác lấy tiền thôi! Tôi gọi mấy thầy Tập sinh cùng đi ra. Anh em mang theo chiếc lưới. Thấy một chú bé chỉ tay nơi chú Việt chết đuối, tôi nhảy ngay xuống. Nổi lên khỏi mặt nước, tôi thấy đôi dép của tôi tuột khỏi chân nổi lềnh bềnh, tôi lượm dép quăng lên bờ. Về sau có người thắc mắc: “Có phải cha quăng dép lên như thế là làm ám hiệu (làm bùa) sẽ vớt được xác lên không?” Chẳng có ám hiệu gì cả, chẳng qua tôi quên tháo dép khi nhảy xuống thôi.

Chiếc lưới vô dụng, vì không được cột đá, nó cứ nổi lên, không chịu chìm xuống đáy. Tôi lấy hơi lặn xuống, xuống càng sâu nước càng lạnh. Tôi nắm một nạm bùn đưa lên. Mọi người trên bờ theo dõi đều biết tôi đã xuống được tới đáy hồ. Không đủ hơi để rà tìm ra xa ở dưới đáy, tôi phải lặn xuống ngoi lên nhiều chỗ khác nhau. Bỗng nhiên, tôi giật nẩy mình một cái khi chạm phải khối thịt. Tôi có cảm giác như đó là một xác người lớn. Tự trấn an chắc chắn đó là xác chú Việt thôi, tôi nổi lên lấy hơi, đồng thời báo cho mọi người biết đã tìm thấy. Đám người trên bờ xôn xao: “Thấy rồi! Thấy rồi!” Tôi lặn xuống lần cuối, kéo xác lên, đưa vào bờ. Những người trên bờ đưa tay phụ tôi. Xác đã tím ngắt. Tôi xốc người lên, tìm cách cho nước thoát ra. Chú cũng không uống nước. Hô hấp nhân tạo một lúc, không kết quả. Miệng chú đã mở. Có người nhìn thấy thế đã nói: “Miệng mở rồi cứu gì được nữa!”. Tôi xin họ khiêng chú về nhà. Nghe nói sau đó cha Nguyễn Ngọc Hiếu tiếp tục châm cứu một hồi lâu nhưng không kết quả. Nhân đây cũng xin lưu ý lời sách dạy: Chết đuối mà uống nước dễ chữa hơn. Phổi ngừng thở, tim ngừng đập, nhưng khi dốc hết nước ra, tim phổi có thể hoạt động trở lại. Nhiều trường hợp phải hô hấp nhân tạo gần cả tiếng đồng hồ, kiên nhẫn nhưng cứu được nạn nhân, chỉ vì não họ còn sống. Chết đuối không uống nước, gọi là chết đuối khô, não không có oxy nên mau chết. Não đã chết quá năm phút thì hết cứu!

Linh mục Đoàn Giáo phận Đà Lạt có truyền thống đi nghỉ một ngày sau Lễ Phục Sinh hàng năm. Thường các cha đi tắm biển. Tắm biển Phan Rang, chỉ cách Đà Lạt 100 cây số, các cha có thể đi về trong ngày. Tắm biển Phan Thiết, Nha Trang hoặc Vũng Tàu, phải mất hai hoặc ba ngày. Tôi đi theo các cha Giáo hạt Đà Lạt. Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đi theo nhóm này. Mỗi lần có tôi cùng theo Đoàn đi tắm biển, Đức cha cảm thấy an tâm. Tôi được Đức cha giao nhiệm vụ “Để ý giùm các cha”. Tôi luôn luôn làm tròn trách nhiệm, dù không cần để ý bao nhiêu. Tôi biết các cha khôn ngoan lắm, không dám liều như giới trẻ. Những cha không biết bơi không ai dám ra xa quá ngực. Các ngài tắm sát bờ, ngồi xuống tắm thì nước cũng ngang ngực vậy. Có cảm giác nước ngang ngực như thế, các ngài cũng thấy mãn nguyện rồi. Các cha cũng thương con chiên lắm, không nỡ bỏ chiên bơ vơ. Có lúc tôi khuyên cha nào không biết bơi mang theo cái chậu thau, múc nước biển lên bờ ngồi mà tắm. Đề nghị nên đưa môn bơi lội vào chương trình đào tạo linh mục, ít là để giữ mình.

Long đong phiêu bạt

Mãn nhiệm kỳ làm Phụ trách cộng đoàn, tôi được Tỉnh Dòng điều về cộng đoàn Phanxicô Xuân Sơn, một xã kinh tế mới thuộc Tỉnh Đồng Nai (Nay chia cắt Tỉnh, Xuân Sơn thuộc Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Xã Xuân Sơn trên 15.000 dân trong đó giáo dân Kitô hữu chiếm hơn một nửa. Cha Gioan Nguyễn Gia Thịnh, Ofm, vừa là Phụ trách cộng đoàn vừa là cha Quản xứ Xuân Sơn. Tôi về phụ giúp cha Thịnh. Cha Thịnh dẫn tôi đi trình diện ông Bí thư xã. Cuộc xã giao thân thiện cởi mở. Ông Bí thư Bảo chấp nhận cho tôi tạm trú tại Xuân Sơn, nhưng ông không quên dặn dò: “Phải cẩn thận lời ăn tiếng nói!” Có lẽ ý ông muốn nói, khi giảng dạy, đừng nói lời gì đụng đến Chính quyền. Biết gì thì cứ im lặng là được.

Ngoài công tác mục vụ, dạy lớp chủng sinh Hạt Bình Giả, tôi tham gia lao động. Anh em Xuân Sơn có một vườn cà phê rộng và một số cây khác trồng theo mùa. Tôi mua thêm một số cây sầu riêng, sabochiê (cây trám) trồng xen trong vườn để có sự đa dạng trái cây. Chỉ mấy ngày sau, những cây giống tốt nhất (giống Thái Lan) trong số cây mới trồng ấy đã không cánh mà bay! Tôi được thêm kiến thức: Cây cối vườn Nhà xứ cũng không phải là bất khả xâm phạm. Tôi còn được nghe nhiều về các vụ trộm cắp như cơm bữa xảy ra ở Xuân Sơn. Tôi cũng được nhờ can thiệp giải quyết những đối kháng giữa các bên liên can, ngay giữa giáo dân với nhau. Một bên trồng bắp trong vườn mà kẻ khác thu hoạch mất. Bên kia không trồng bắp mà bắp chất đống trong nhà. Từ nghi ngờ đến đánh nhau. Mủ cao su mất, chuối mất, hoa màu mất, dây máy mất, trong vườn mất, ngoài đồng mất... Đó là vấn đề nổi cộm đối với tôi khi đến Xuân Sơn!

Mấy cháu tôi từ quê Nghi Lộc, Nghệ An, vào Nam với ý định sẽ xin tìm hiểu Dòng Phanxicô. Họ ở nhà bà con tại Bình Giả, cách Xuân Sơn sáu cây số. Họ ghé vào thăm tôi. Họ gặp tôi đang vác cuốc ra vườn, họ tỏ vẻ ngỡ ngàng. Họ vào phòng tôi, mở tủ ra xem, họ than: “Cha trong Nam này khổ. Cha ngoài Bắc, tủ như ri thì đầy bia, cam, và đủ thứ bánh”. Kể từ đó họ không hề nghĩ đến chuyện đi tu Dòng Phanxicô nữa. Một trong hai nay đã là cha Quản xứ thuộc Giáo phận Vinh.

Tôi ở Xuân Sơn được sáu tháng. Dịp chầu giờ Giáo xứ Xuân Sơn năm 1989, theo thông lệ, giáo dân chuẩn bị ngày chầu giờ bằng ba ngày Tĩnh tâm trước lễ. Cha Thịnh nhờ tôi giảng Tĩnh tâm hai ngày trong thánh lễ thứ năm và thứ bảy. Bài đầu tiên, cha Thịnh cho tôi giảng theo chủ đề: “Như men trong bột, người Kitô hữu đem Phúc Âm vào thế giới”. Tôi giảng lý thuyết dựa theo Phúc Âm. Tôi cho giáo dân biết họ có một môi trường thuận lợi. Xã Xuân Sơn 15.000 dân, đó là khối bột; giáo dân 7.500, đó là men. Như vậy men chiếm một nửa khối bột. Phần áp dụng vào thực tế, tôi trình bày cụ thể hơn. Tôi nhấn mạnh hai điểm: Thứ nhất, vấn đề học hành. Ai có khả năng, hãy cho con em đi học, học càng cao càng tốt. Có em đi học, bạn bè gièm pha: “Mày đi học đến khi lấy được cái bằng tú tài, hai bàn tay trắng. Tao ở nhà lúc đó đã có một cơ ngơi rồi”. Một anh khác thấy bạn mình sắp cưới một cô vợ có bằng tú tài, đã can ngăn: “Nó có bằng tú tài, mày lấy nó về, nó đè đầu mày!”. Tôi kêu gọi hãy cho con cái đi học tối đa. Tương lai của chúng là mười năm hoặc hai mươi năm nữa chứ không phải như bây giờ. Những gì tôi nói trên đều là những chuyện có thực đã từng xảy ra ở Xuân Sơn.

Điểm thứ hai, vấn đề công bằng. Tôi kể lại một số trường hợp lỗi đức công bằng tôi nghe được hoặc tôi trực tiếp chứng kiến. Kitô hữu chặn đánh nhau, cắn nhau ngoài đường! Tôi nói: “Là Kitô hữu, chúng ta phải biết tôn trọng tài sản của kẻ khác. Chúng ta giữ đức công bằng không phải vì có Công an hay không có Công an. Chúng ta không phải sợ Công an, khi thấy Công an thì không trộm cắp, khi không có Công an thì cứ lấy thoải mái. Chúng ta giữ luật Chúa. Đừng để người ta phân biệt di cư 1954 và di cư 1982 (Xuân Sơn có trên 3.000 giáo dân di cư tự do đến năm 1982. Hai khối di cư cũ và mới đã từng đả kích nhau về nhiều chuyện, trong đó có chuyện dân di cư 1982 bị chỉ trích trộm cắp quá nhiều) ... Đến thăm nhau mà khi ra về, chủ nhà thấy biến đâu mất cái búa vừa để trên giường!

Ngoài số người đi lễ đông đảo ở Nhà thờ hôm đó, thầy Đạt (nay đã là linh mục), một thầy đã lớn tuổi từ Vinh vào Nam học thêm. Thầy đã ghi âm bài giảng của tôi. Thầy tâm đắc. Bản thân thầy phải nuôi gà để kiếm sống khi vào Nam. Thầy cũng đã mất nhiều gà... Thầy đem băng ghi âm về nhà và cho phát bài giảng của tôi oang oang liên tục trong mấy ngày liên tiếp. Mọi người trong vùng đều được nghe đi nghe lại bài giảng ấy. Anh Sáu, một Đội trưởng của Đồn điền cao su Xuân Sơn, là một lương dân, anh cũng rất mừng vì bài giảng của tôi. Anh đã phải than phiền vì mủ cao su bị mất cắp thường xuyên!

Bài giảng ngày thứ bảy nói về Đức Mẹ, tôi hướng về đạo đức nhiều hơn. Sau thánh lễ sáng thứ bảy, tôi nhận được tờ giấy của lãnh đạo Xã Xuân Sơn mời tôi ra Xã làm việc. Cơm sáng xong, tôi đạp xe một mình chạy thẳng ra Trụ sở Xã. Trước tiên, Trưởng Công an Xã tiếp tôi. Anh hỏi han trò chuyện với tôi khá nhẹ nhàng. Anh cho tôi biết anh làm theo chỉ thị của lãnh đạo. Tiếp đến, tôi được ông Chủ tịch Mặt Trận Xã gặp. Sau cuộc nói chuyện, ông đưa chỉ thị: “Linh mục hãy trở về địa phương”. Chủ tịch Ủy Ban gặp tôi lâu hơn cả và cũng tỏ ra gay gắt hơn cả. Anh cho tôi biết anh đã nắm kỹ bài giảng của tôi. Anh nói: “Linh mục cũng thông cảm. Xã có tới 15.000 dân mà anh em an ninh chỉ có 20 người thì nó cũng phải mất vài con gà, con vịt”. Anh còn đưa ra lý lẽ biện minh buồn cười: “Bên Mỹ cũng có trộm cắp. Chế độ trước cũng có trộm cắp”. Tôi thầm nghĩ có lẽ anh ta muốn nói: người ta có ăn trộm thì mình cũng phải có ăn trộm? Tôi trình bày thẳng với anh quan điểm của tôi: “Tôi không trách các anh. Tôi huấn luyện giáo dân của tôi. Người Công giáo khi có Công an hay khi không có, họ vẫn phải tôn trọng tài sản kẻ khác theo luật Chúa dạy. Tôi không thể chấp nhận chuyện làm ra được một đám bắp, tương lai người ta đặt vào đó, cứ phải nằm canh ngày đêm ngoài đồng như thế: mất sức! Người ta ghé về nhà một lát, khi ra thì đám bắp đã bị bẻ sạch rồi!” Tôi kể lại cho anh nghe mấy trường hợp xảy ra thời gian làm theo Hợp tác xã mà những người bà con của tôi từ miền Bắc vào thăm đã cho chúng tôi nghe. Một người đi nhổ đậu phộng Hợp tác xã, ông nhổ lên, bươi đất vùi xuống, con đi mót phía sau bươi lên, vặt củ mang về nhà mình. Người khác đi gánh lúa Hợp tác xã, ông trổ một cái lỗ trên đòn xóc (đòn xóc là một khúc tre luồng để nguyên ống), trên đường ông vừa gánh vừa tuốt lúa bỏ vào đòn xóc. Tối về nhà, đổ ra, ông cũng được mấy ký lúa.

Những chuyện như thế không thiếu khi người ta tìm mọi cách để sống còn. Chẳng hạn chuyện khó tin sau đây: Ông anh rể tôi trong Nam sắp tổ chức đám cưới cho con, ông em ngoài Bắc được tin, vội vàng vào giúp vì cho rằng ông đã có nhiều kinh nghiệm tổ chức đám cưới ở ngoài Bắc. Đám đầu tiên, ông mất 100 cái chén ăn cơm. Khách mời ăn xong, nhét chén vào trong người mang về luôn (có lẽ để làm kỷ niệm?). Đến đám thứ hai, ông phải thuê người canh gác, cũng vẫn mất một số chén nhưng mất ít hơn. Ông ngạc nhiên khi thấy ở trong Nam tổ chức đám cưới không phải lo chuyện mất mát. Bà con họ hàng xúm nhau lại giúp, ăn uống xong, họ giúp dọn dẹp rồi  ra về. Chẳng ai thèm lấy trộm cái gì. Nói vào giúp, nhưng ông vào chỉ ngủ thôi. Ông nói: “Trong Nam này sướng thật!”.

Tôi nói cho ông Chủ tịch quan điểm của tôi: “Tôi thông cảm với những người như thế, khi họ đói quá. Họ phải tìm mọi cách để sống. Nhưng ở đất Xuân Sơn này, ai chịu khó làm việc, không sợ đói. Ông Chủ tịch chỉ tay vào mặt tôi và nói: “Cái đầu của anh!” Ý ông kết án tôi có cái đầu phản động? Có sạn?

Chính quyền Xã Xuân Sơn trục xuất tôi ra khỏi địa phương. Họ dọa nếu tôi ở lại, họ không chịu trách nhiệm về an ninh của tôi. Tôi nói với cha Thịnh, Bề Trên của tôi: “Thử cứ ở lại xem họ làm gì?” Cha Thịnh khuyên tôi: “Thôi họ đã căng như thế rồi, đừng chọc tức họ. Anh cứ về gia đình ở Bình Giả chờ, tôi sẽ tìm cách gặp họ xem sao”. Mọi cố gắng của cha Thịnh đều thất bại. Tôi ra đi, giáo dân bàn tán xôn xao. Chính quyền mời Hội đồng Giáo xứ Xuân Sơn ra nghe họ giải thích. Giáo dân thắc mắc tại sao các ông đuổi cha Hoa đi? Cha dạy giáo dân của cha chứ làm gì các ông mà đuổi? Chính quyền tìm mọi cách để trấn an dân chúng. Nào là: “Giảng ở Nhà thờ chỉ một phần thôi. Ra Xã, ông ta còn nói mạnh hơn nữa”. “Ông ấy nói cũng đúng thôi. Nhưng nói ra như thế Xã ta mất điểm”. Thì ra, Xuân Sơn nhiều năm liền được Huyện Châu Thành (Barịa) tuyên dương là Xã tiên tiến, Xã điển hình!”. Để bảo vệ vinh dự dởm ấy, các vị lãnh đạo Xã bằng mọi giá bưng bít các điểm tiêu cực của mình. Có người cho rằng mấy ông chính quyền Xuân Sơn cảm thấy đụng chạm. Số là lúc mới vào, họ đi làm thuê làm mướn. Từ khi làm việc ở Xã, ông nào ông nấy đã xây nhà lầu cả!

Về Bình Giả, tôi ở gia đình. Trình Công an Xã Bình Giả, tôi được tạm trú cũng sáu tháng. Tại giáo họ Nghi Lộc tôi lúc đó có hai cha khác cũng về gia đình tạm trú. Cha Nguyễn Sơn Miên, Sĩ quan tuyên úy quân đội chế độ Sài Gòn, sau thời gian đi cải tạo, cha không được về lại Giáo phận Long Xuyên của cha, cũng không được về Trụ sở của Giáo phận tại Sài Gòn, cha đành phải về ở gia đình người em. Cha Đinh Vĩ Đại cũng ở tù ra, Nhà thờ Vinh Thủy ở Phan Thiết cha coi sóc đã bị san bằng để xây khách sạn. Cha về sống với gia đình chú thím và các em. Cả ba chúng tôi đều ở trong Giáo họ Nghi Lộc, Giáo xứ Vinh Châu (Làng Hai). Chúng tôi sống âm thầm, chỉ giúp cha Quản xứ ít Thánh lễ và một số bài giảng. Tôi vẫn tham gia dạy học cho các chủng sinh của Hạt Bình Giả.

Cũng dịp Chầu giờ Giáo xứ Vinh Hà (Làng Một), cha Quản xứ Phêrô Ngô Kỷ lại nhờ tôi giảng Tĩnh tâm ngày áp lễ. Tôi biết điều đã xảy ra ở Xuân Sơn, tôi giảng thuần túy đạo đức. Đề tài được đề nghị liên quan đến sự hiệp thông giữa chủ chăn và giáo dân trong việc xây dựng Giáo Hội. Một người bà con của tôi sau đó cho nhận xét: “Cha giảng thì hay, nhưng thiếu những ví dụ cụ thể!” Đúng thế, những ví dụ cụ thể có thể đưa đến hậu quả như ở Xuân Sơn. Thế mà, hậu quả cũng không kém. Cha Kỷ được mời giải trình tại sao lại cho linh mục Hoa giảng. Cha trả lời, có cha Hoa ở đó, không mời cha giảng, giáo dân sẽ thắc mắc với tôi: “Tại sao không mời cha Hoa giảng?” Chủ tịch Mặt Trận Xã cho cha Kỷ biết: “Trên Huyện cấm không được cho cha Hoa giảng bất cứ ở đâu”.

Đến lượt, tôi cũng được Công an Xã Bình Giả mời ra làm việc. Anh cán bộ Công an bắt tôi kể lại: Ai mời giảng, giảng những gì, giảng ở đâu... Tôi trả lời rõ ràng, không giấu giếm: Tôi là linh mục, tôi có bổn phận phải giảng dạy giáo dân. Nếu không được phép làm sao tôi có thể giảng trong Nhà thờ của một ông cha khác? Tôi đã giảng về sự hiệp nhất giữa các chủ chăn và người giáo dân để xây dựng Giáo Hội. Anh Công an đòi tôi ngồi viết lại bài giảng và trả lời ai mời giảng. Tôi xin cầm giấy về nhà viết. Anh đồng ý.

Nhận thấy các cha khác tạm trú trong Giáo xứ cũng cùng hoàn cảnh như tôi, các cha đã ở đó từ lâu và giúp cha Quản xứ trong việc giảng dạy nhiều hơn tôi, vậy mà không ai bị đặt vấn đề cả. Nếu tôi khai báo theo đề nghị Công an, biết đâu các cha ấy cũng bị liên lụy. Có thể các ngài cũng sẽ bị cấm giảng, và tình trạng tạm trú không chính thức của các ngài có thể gặp khó khăn. Dù không phải là điều quan trọng, bài viết giấy trắng mực đen của tôi nhắc đến danh tánh vị Quản xứ nhờ tôi giảng, đó cũng là một hình thức tố cáo ngài, tôi không viết bài để giao nộp cho Công an.

Những ngày tiếp đó, anh Trưởng Công an Xã Bình Giả cho thuộc hạ đến nhà tôi nhiều lần. Ba ngày đầu, họ cầm đến cho tôi giấy mời, những ngày khác, họ chỉ đến mời miệng. Tôi trả lời: “Những gì cần khai báo, tôi đã trình bày đầy đủ cả rồi. Các anh tự ghi lấy. Tôi không viết gì nữa. Trong số các anh Công an đến gặp tôi ấy, có anh là dân trong Xã, anh biết tôi, và anh cũng kính nể tôi. Anh nói: “Con biết cha. Chúng con cũng chẳng muốn làm chuyện này, nhưng anh Long (Trưởng Công an Xã) bắt chúng con làm. Cứ thế, họ đã hoàn thành nhiệm vụ, đến mời và về trình lại cấp trên điều tôi nói.

Tôi báo về cha Guiđô Nguyễn Hồng Giáo, Bề Trên của tôi, trình cho ngài biết tôi đã bị Công an mời bảy lần rồi! Cha Giáo gửi về cho tôi một tờ giấy nhỏ với hàng chữ vắn tắt: “Trong vùng đó người ta để ý đến anh rồi, anh nên về Sài Gòn thì hơn. Anh đi ngay càng sớm càng tốt”. Tôi xin phép nán lại ít hôm để dạy cho xong những môn học đang dạy dở dang. Theo tôi được biết, các cán bộ chính quyền Xuân Sơn, Bình Giả và Huyện Châu Thành là một hệ thống ăn rơ với nhau. Cấp dưới o bế cấp trên, cấp trên bao che cấp dưới! Ai đã bị nơi này đuổi, đi nơi khác cũng bị đuổi thôi, dù không vi phạm tội gì. Tôi đi rồi, trước sự thắc mắc của dân chúng, họ cũng khôn ngoan tìm ra cách trả lời mang tính đấu dịu: “Có gì đâu, ra nói một tiếng là xong!”. Họ coi như chuyện ra đi của tôi là do phía tôi, chứ đối với họ, không có gì quan trọng. Họ đánh lừa được dân chúng. Sự gian dối tinh vi là ở đó!

Tôi về sống với anh em tại cộng đoàn Phanxicô Đakao, làm Phụ tá cho cha Boscô Nguyễn Văn Đình để giúp cho Dòng Phan Sinh Tại Thế. Thời gian ấy, tôi có dịp đi về các Tỉnh cùng với cha Đình hoặc thay cha Đình đi kinh lý anh chị em Dòng Phan Sinh Tại Thế. Tại Sài Gòn, bộ mặt của Việt Nam độc lập tự do và nơi có khách quốc tế nhiều, chính quyền có vẻ thoáng hơn. Làm gì người ta cũng biết, nói gì người ta cũng nghe, nhưng không chạm đến họ bao nhiêu, họ cũng làm ngơ.

Ngày 15-11-1992, một biến cố bất ngờ xảy đến. Hôm ấy là sáng Chúa nhật, tôi làm lễ thiếu nhi ở Nhà thờ Đakao. Kết lễ, tôi vào Phòng thánh. Cha Giáo bước vào Phòng thánh và báo: “Anh Lam ở Bình Giả điện lên báo cha anh đã qua đời!”. Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Cha anh Lam hả?”. Cha Giáo đáp: “Không, cha của anh” (Cha đưa ngón tay chỉ vào tôi). Trước đó, tôi không có tin gì về bệnh tình của cha tôi cả. Tôi đoán có thể là tai nạn xe hoặc té ngã, vì cha tôi làm thợ xây. Tôi thắc mắc: “Có thấy nói bệnh tật gì đâu, sao lại chết?” Cha Giáo giải thích: “Tôi không biết, chỉ biết tin vậy thôi”. Tôi còn tiếp tục rửa tội cho một em bé, xong sẽ ra về ngay. Trong lúc rửa tội một em bé mới sinh, một sự sống bắt đầu, với một người qua đời, một sự sống kết thúc, tự nhiên trong cổ họng tôi phát ra một tiếng nấc nhỏ. Tôi biết những người hiện diện nhận ra...

Chiều thứ bảy, cha tôi vẫn bình thường, dọn dẹp trên sân, chơi đùa với cháu. Sáng Chúa nhật, cha tôi thức dậy đi lễ. Bỗng nhiên cha tôi kêu đau, các em tôi nghĩ là trúng gió nên xúm lại cạo gió. Trước đây cha tôi đã có lần bị như vậy, cạo gió một lát thì khỏi. Lần này, cha tôi nói: “Cạo mạnh mạnh lên, không thấy bớt đau gì cả! Các em tôi tiếp tục cạo gió và thoa bóp tay chân. Một lát sau, nét mặt cha tôi thay đổi. Một anh láng giềng sang giúp, nhìn thấy thế, anh nói: “Cha em hồi trước cũng vậy, đi mời cha xức dầu đi!”. Em tôi chạy đi mời cha Minh ở Cộng đoàn Phanxicô gần đó đến xức dầu. Cha Minh chưa kịp đến, cha tôi đã tắt thở. Thời gian mất khoảng nửa tiếng. Có lẽ do tai biến hoặc do tim mạch. Người ta nói nhiều đến linh tính, thần giao cách cảm... Hôm ấy, trước khi được cha Giáo báo tin, trong người tôi không hề có một cảm giác gì khác thường cả, mặc dù trong nhà, có lẽ cha tôi dễ lắng nghe tôi hơn những người khác.

Trở về Du Sinh, Đà Lạt

Là tài xế xe hai bánh đáng tin cậy, tôi được cử làm Thư ký kiêm tài xế cho cha Tổng linh lý Samuel Trương Đình Hòe. Cha ở Paris, được cha Tổng Phục vụ cử về kinh lý và thay mặt cha Tổng Phục vụ chủ tọa cuộc Tu nghị Tỉnh Dòng Việt Nam. Mãn nhiệm kỳ ba năm, trong đợt sắp đặt nhân sự sau Tu nghị Tỉnh Dòng năm 1992, tôi được điều về lại cộng đoàn Phanxicô Du Sinh, Đà Lạt. Thời gian mới này, sinh hoạt của tôi khá đa dạng và phong phú.

Là linh mục, tôi tham gia công tác làm lễ, giảng dạy trong Cộng đoàn và những nơi khác: Giáo xứ Du Sinh, Các Bà Truyền giáo, Các chị em Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, hai Cộng đoàn Mến Thánh Giá Khiết Tâm. Tôi nhận sự phân công cùng các cha khác giảng Tĩnh tâm tháng cho các cha trong Giáo hạt Đà Lạt. Tôi gắn bó chặt chẽ với Linh mục Đoàn Giáo phận trong mọi sinh hoạt. Theo nhu cầu của các Chị Tu hội Nữ tỳ Chúa Thánh Thần, tôi sang Vạn Thành dạy vài môn họ nhờ. Tôi được Tỉnh Dòng đặt làm Trợ Úy tinh thần và mục vụ cho Dòng Phan Sinh Tại Thế Miền Lâm Đồng. Thời gian còn lại, tôi tham gia lao động trong nhà. Khuôn viên Tu viện Phanxicô Du Sinh chúng tôi khá thông thoáng, thích hợp với bầu khí tu trì, có rừng cây nguyên sinh và nhân tạo, có suối nước chảy ra từ tảng đá, có ao hồ cá bơi lội tung tăng, có rau xanh cho anh em tẩm bổ, có nhiều loại hoa cho anh em ngắm nghía, có một cơ sở nhân giống các cây con cung cấp cho dân chúng. Nhưng một công tác mới lạ đến với tôi từ năm 1999.

Quản xứ Giáo xứ Du Sinh

Tôi không xa lạ với Giáo xứ Du Sinh. Thời cha Phaolô Nguyễn Văn Hồ, Ofm, làm Quản xứ, mỗi lần ngài đi vắng, một hai ngày hoặc một hai tuần, cha Hồ đã thường nhờ tôi lên thay. Khi cha Phanxicô Xaviê Vũ Phan Long được thuyên chuyển đi, cha Đaminh Nguyễn Ngọc Hiếu ở Suối Thông B Huyện Đơn Dương chưa có người thay thế để cha về làm Quản xứ Du Sinh, tôi được cắt cử làm Quản nhiệm Giáo xứ Du Sinh. Giai đoạn Quản nhiệm của tôi kéo dài bảy tháng.

Trong thời gian đó, nhân chuẩn bị kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo xứ Du Sinh, tôi tiếp tục thực hiện cho xây Cổng Tam Quan và khoảng 80 bậc cấp bằng đá chẻ từ Cổng Tam Quan lên Nhà thờ. Hai con rồng lớn hai bên cũng được đúc trong thời gian này. Nghệ nhân đúc rồng, lãnh tiền xong, trốn đi luôn, không chịu sửa lại theo đề nghị của tôi. Thấy chưa cấp bách, tôi tạm gác để đó và dành ưu tiên cho những công trình khác cần thiết hơn. Hai con rồng nhỏ cha Rôcô Trần Phúc Long cho đắp hai bên bậc cấp lên Cung thánh được di dời ra ngoài và đặt trên Cổng Tam Quan. Cuộc mừng kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo xứ (1955-1995) diễn ra long trọng và tốt đẹp, đem lại niềm vui cho nhiều người. Sau đó, tôi đứng ra tổ chức cuộc lễ nhận xứ của cha Hiếu. Mãn thời gian bốn năm của cha Hiếu, tôi được cử lên thay thế cha Hiếu. Cha Hiếu được điều về Cộng đoàn Đakao, Sài Gòn.

Đảm nhận trọn vẹn trách nhiệm một cha Quản xứ, sự thực tôi không có ơn gọi ấy. Điều này tôi đã nói ra công khai, nhưng vì đức vâng lời, tôi sẵn sàng đón nhận gánh nặng. Từ tháng 03-1999, tôi đã nhận trách nhiệm rồi, vì đó là hạn chót để anh em ổn định vị trí và nhiệm vụ mới theo sự bố trí của Tỉnh Dòng. Trong khi chờ đợi Chính quyền ký đơn Tòa Giám mục nhìn nhận tôi làm Quản xứ Du Sinh, cha Hiếu thỉnh thoảng phải từ Sài Gòn lên cho có mặt, để tỏ lòng tôn trọng chính quyền. Tỉnh Dòng cho cha Hiếu nghỉ Quản xứ Du Sinh theo nguyện vọng của ngài, vì bốn năm làm cha Quản xứ Du Sinh, ngài phải điêu đứng do những bất đồng trầm trọng. Nhưng điều ngài về Sài Gòn, ngài có vẻ không hài lòng lắm. Ngài như muốn tiếp tục ở lại làm Quản xứ Du Sinh? Hội đồng Giáo xứ gồm 20 người từng cộng tác chặt chẽ với ngài ủng hộ đắc lực nguyện vọng đó. Giáo xứ ở trong tình trạng bất ổn kéo dài. Nhiều đơn từ, nhiều phái đoàn của nhóm ấy chạy lên Tòa Giám mục, họ chạy về Tỉnh Dòng Phanxicô để vận động  níu kéo cha Hiếu ở lại coi xứ Du Sinh.

Tháng 09-1999, sau khi Chính quyền ký nhận tôi làm Quản xứ, tôi lo chuẩn bị tổ chức Ngày lễ Đức cha về đặt tôi làm Quản xứ, đồng thời kết hợp với việc cám ơn và từ giã cha cựu Quản xứ. Tôi muốn tiếp tục lưu lại Hội đồng Giáo xứ để họ cộng tác với tôi trong việc phục vụ Giáo xứ. Nhưng sau nhiều cuộc họp, tôi nhận ra không ổn. Tôi hoàn toàn bị khống chế, không thực hiện được chương trình của mình. Tôi đành phải cho tổ chức bầu lại Hội đồng Giáo xứ. Cuộc chuẩn bị cũng như cuộc bầu bán này gặp nhiều khó khăn. Cuối cùng, tôi đã có một Hội đồng Giáo xứ mới, không lý tưởng lắm, nhưng đáp ứng được hoàn cảnh cụ thể của Giáo xứ.

Cuộc bàn giao không êm thắm gì! Đức cha nhờ cha Tổng Đại diện (cha Giuse Võ Đức Minh) về giải quyết. Cả Đức cha cũng phải đích thân về can thiệp. Nhận thấy tình trạng hỗn loạn căng thẳng kéo dài quá lâu, gần một năm trời, gây hoang mang cho bà con giáo dân và thiệt hại đến tinh thần và tình đoàn kết của Giáo xứ, tôi nhận ra lẽ phải không đủ để thuyết phục tinh thần thế gian. Rõ ràng có sự chống phá để chống phá chứ không mang tính xây dựng, tôi đành phải mạnh tay, vì lợi ích của Giáo xứ, biết rằng sẽ có một ít người phải hy sinh danh dự (đó là điều đau đớn nhất không thể tránh được!). Tôi đánh ra được 20 trang giấy đánh máy, tường thuật đầy đủ mọi hành vi và toàn bộ diễn biến liên quan đến Giáo xứ trong suốt một năm vừa qua. Tôi có đủ kiên nhẫn chịu đựng lâu dài, nhưng còn lại số đông giáo dân thì sao? Tôi phải công khai hóa để mọi người hiểu vấn đề và cùng cộng tác giải quyết.

Đầu một Thánh lễ ngày Chúa nhật, thay cho bài giảng sau Phúc Âm, tôi mời bà con giáo dân ngồi xuống lắng nghe. Tôi đọc và giải thích 5 trang trong số 20 trang giấy nói trên. Thời gian đã hết 45 phút. Tôi hứa sẽ tiếp tục trình bày hết 15 trang còn lại, nếu tình trạng vẫn không ổn. Kết quả đã đến khá nhanh. Không bao giờ tôi phải dùng đến 15 trang còn lại ấy nữa. Số đông giáo dân biết chuyện, đã tỏ ra bất mãn với nhóm nhỏ đã nhân danh họ làm những chuyện mà họ không hề hay biết, khiến cả Giáo xứ phải mang tiếng! Họ không để tôi phải chống đỡ một mình. Nhóm chống tôi bị cô lập, không còn tiếp tục hành động kiểu cũ nữa. Trong nhóm, có nhiều người đầy thiện chí, họ bị lèo lái, chứ thực tế, họ rất thành tâm. Họ phải sống trong mặc cảm nặng nề một thời gian cho tới khi hầu như cả nhóm đều dấn thân cộng tác với tôi cách tích cực để xây dựng Giáo xứ.

Giáo xứ được ổn định, ai nấy vui vẻ và bình an. Tôi thi hành chức năng Quản xứ của mình: Tổ chức Phụng vụ, củng cố các Hội đoàn, họp Hội đồng Giáo xứ đều đặn... Tôi cũng phải quan tâm đến đời sống xã hội của bà con trong khu vực.

Hoạt động xã hội

Tận dụng chương trình Nhà nước nhân dân cùng làm, tôi vận động kinh phí hỗ trợ nhiều dự án quan trọng. Nhiều con đường đất lồi lõm và trơn trượt khu vực Du Sinh đã được tráng nhựa hoặc đổ bê tông xi măng. Con đường đầu tiên từ Đường Huyền Trân công chúa chạy qua Cổng Tam Quan dẫn lên đỉnh đồi Du Sinh có sự đóng góp của Quỹ xã hội Tỉnh Dòng Phanxicô. Tôi kêu gọi mọi người trong xứ cùng đóng góp, vì đó là con đường chung. Bà con trong Tổ 54 đóng nhiều hơn, vì họ là chủ đầu tư. Chỉ sau ba tháng, dân đã có đủ số tiền phải nộp. Công ty Lâm Viên về thi công. Đường tráng nhựa xong, bà con phấn khởi. Dân Du Sinh được đánh giá là có sự đoàn kết. Cán bộ Phường cho biết: Nhiều nơi khác, dân đóng ba năm vẫn chưa đủ! Nhà nước cho làm thêm một con đường thứ hai. Trong số 30% dân phải đóng để thực hiện con đường tiếp theo này, Thành phố cho không 100.000.000$. Như thế dân sẽ đóng nhẹ hơn. Tôi sợ vận động kinh phí không kịp, dự án bị rút lại thì uổng, tôi chạy làm đơn lên cả Đức cha Đà Lạt “mượn” tiền, hứa sẽ trả sau. Đọc xong bản trình bày của tôi, Đức cha trả lời: “Tôi rất thích các cha làm những việc như thế. Nhưng đừng lên Tòa Giám mục mà xin tiền. Thay vì cho mượn, tôi coi đây như một sự đóng góp của Tòa giám mục...” Cám ơn Đức cha. Cám ơn Tòa giám mục. Đường Mẫu Tâm này, Công ty Công trình đô thị thực hiện.

Kỹ sư, nhà thầu và các công nhân của các Công ty về thực hiện các công trình kia tại địa bàn Du Sinh đều cảm thấy thoải mái. Mỗi lần gặp khó khăn trong thi công, họ đều chạy đến nhờ tôi can thiệp. Tôi lên tiếng, giáo dân không làm khó dễ... Tôi được đánh giá là linh mục có uy tín. Một cô kỹ sư của Công trình Đô thị (lương dân) hỏi tôi tại Nhà xứ:

- Các linh mục có được lấy vợ không?

- Đi tu thì còn lấy vợ gì nữa. Chúng tôi phải giữ luật độc thân suốt đời.

- Thế thì buồn thật! Nhưng thích, vì có uy tín, được dân chúng kính trọng!

Đúng là người ngoại đạo, hỏi những chuyện đơn sơ và suy nghĩ theo thế gian. Nhưng cô có vẻ chân thành. Những ngày về làm việc trong khu vực Du Sinh, cô cũng như những người khác đã có kinh nghiệm mới mẻ ấy. Một cô đảng viên khác trước kia ở Miền Bắc rất ác cảm với các linh mục. Vào Nam, cô sống bên cạnh Tu viện chúng tôi. Cô nhận xét: “Các linh mục trong Nam hiền lành, gần gũi với dân chúng, thấy họ cũng bình thường”. Nếu các đảng viên đều hiểu như thế, xóa tan mọi ác cảm, tin tưởng nhau, đất nước này chắc chắn sẽ khá hơn.

Hai con đường huyết mạch ấy ấy hoàn thành, bà con dân chúng ở các con đường nhỏ khác thấy vậy cũng nôn nóng muốn có đường nhựa hoặc bê tông xi măng. Họ đua nhau làm đơn, họ hăng hái đóng góp... Những con đường kinh phí cao trong khi dân hai bên đường thưa thớt, họ tin tưởng vào lời kêu gọi của tôi. Họ nói: “Cha có đứng ra thì mới làm nổi”. Cán bộ địa phương trong khu vực cũng nói: “Linh mục nói một tiếng là được”. Đường sá tốt, dân cảm thấy không cần đi tìm đến ở nơi nào khác, họ muốn ổn định cuộc sống. Một phong trào thi đua xây nhà mới được phát động. Nhiều ngôi nhà cũ trải qua nhiều chục năm được thay thế bằng những ngôi nhà mới khang trang. Những gia đình bên ngoài có vẻ nghèo khó, bỗng họ đào tiền đâu ra để xây những ngôi biệt thự đắt giá. Có lẽ đã đến lúc họ có thể bám trụ ở mảnh đất Du Sinh này được.

Nước sinh hoạt cho các hộ dân trên đỉnh Đồi Du Sinh là vấn đề cấp thiết. Năm chục năm qua, họ sử dụng nước bơm từ Hồ Hy Vọng lên. Hồ Hy Vọng nay không còn đủ tiêu chuẩn vệ sinh. Nước tù đọng, rác rưởi và phân bón trên đường tuôn xuống, nhiều người xuống đó giặt giũ. Một cô từ nơi khác về làm dâu ở Du Sinh, mỗi lần uống nước Hồ Hy Vọng, cô sặc sũa, ói mửa. Cô bắt chồng hằng ngày đưa xe hai bánh đi ra phố chở một hai can nước về cho cô dùng. Nói đến xin đưa nước sạch về, ai cũng nhất trí. Dân làm đơn nộp Nhà máy cấp nước, được hồi âm: “Đây là tổ chức kinh doanh, không có chuyện hỗ trợ. Đóng đủ tiền, chúng tôi cho nước về”. Sau khi biết kinh phí phải đóng, nhiều cuộc họp dân về Nhà xứ đã được triệu tập. Số tiền khá lớn! Nếu đổ đồng đều cho mọi gia đình, có những gia đình sẽ không đủ khả năng! Chúng tôi đưa ra mức đóng góp vừa phải, phần còn lại tôi và một số mạnh thường quân ủng hộ. Đồi Du Sinh quá cao so với Bể chứa của Thành phố, nước chỉ lên đến nửa đồi, chúng tôi phải xây bể ở lưng chừng đồi, đặt mô tơ đẩy nước lên đỉnh đồi. Từ đó, nước chảy về từng hộ dân. Như vậy, ba cái cần đã được đáp ứng: điện, đường, nước. Dân chúng hân hoan nhìn thấy cuộc sống có nhiều bước đi lên. Bộ mặt Du Sinh thay đổi hẳn. Trong mấy năm tôi làm Quản xứ, để thực hiện các công trình trên, giáo dân Du Sinh đã phải đóng góp nhiều hơn số tiền họ đóng góp trong cả sáu đời cha Quản xứ trước, tức hơn cả 50 năm cộng lại. Đóng góp nhiều, nhưng không ai phàn nàn, vì họ thấy những thành quả thiết thực mà bản thân họ được hưởng. Họ tin tưởng vào tôi, vì thấy tôi “làm cái gì ra cái đó”, theo như họ nói; “cha làm xong cái này đến cái khác, chứ không làm tùm lum”, “Cha làm cái gì cũng tốt đẹp cả”. Hễ phát động quyên góp cho một dự án nào, bà con giáo dân đều nói: “Cha đứng ra, chúng con mới đóng”.

Nắm bắt thời cơ, nhận thấy thiên thời địa lợi, biết giáo dân đóng tiền liên tục cũng tội nghiệp, nhưng không còn cách nào khác! Công trình quan trọng nhất, đòi hỏi kinh phí cao nhất, chính đáng nhất, đó là xây dựng lại ngôi Nhà thờ Giáo xứ.

Ngây thơ vướng bẫy

Khi thiết lập Trại định cư Du Sinh, cha Thiên Phong Bửu Dưỡng đặt tên đường theo ngôn từ tôn giáo: Đường Âu Tinh, Đường An Tôn, Đường Fatima, Đường Lộ Đức, Đường Gioan ... Con đường Huyền Trân công chúa bắt đầu từ Đường Trần Phú (nay là Hoàng Văn Thụ) chấm dứt trước Nhà thờ Du Sinh. Con đường đất từ cuối Đường Huyền Trân vào tới Học viện Phanxicô là Đường La Vang. Ngày nay Đường Huyền Trân công chúa kéo dài vào tới Nghĩa trang Du Sinh, Nghĩa trang của Thành phố. Như vậy Đường La Vang đã biến mất trên bản đồ. Tôi bị mắc lừa và học được kinh nghiệm trong vụ Nhà Nước làm con đường này.

Trước khi thi công, các cán bộ Phòng Dự án đầu tư xây dựng Thành phố đến Tu viện Phanxicô gặp tôi để làm việc. Họ tự giới thiệu và giới thiệu nhau, tôi không quan tâm đến danh tánh, chỉ nhớ một ông tên Thế. Một anh kỹ sư khá trẻ cùng đi trong Đoàn. Họ trình bày Dự án mở rộng và đổ nhựa Đường Huyền Trân. Theo nguyên tắc, đường phải mở rộng đồng đều sang hai bên. Nhưng đoạn đường đi qua, đất chúng tôi ở phía cao, chỉ cần cho xe gạt đất đi là xong, phía bên kia thấp hơn, đòi hỏi vừa phải bồi thêm đất vừa phải lu nén công phu tốn kém. Họ chọn phương án lấn sang phía chúng tôi khoảng hai mét. Đoạn đường chạy dọc theo vườn chúng tôi dài cả trăm mét. Như vậy, số diện tích chúng tôi phải hy sinh khá lớn. Họ hứa sẽ bồi thường, nếu có giấy tờ chủ quyền.

Nói đến giấy tờ chủ quyền, Tu viện chúng tôi chưa được cấp. Bao lần đi học tập với dân về luật đất đai, có đợt học ba ngày liên tiếp. Đến khi ra khai đất, dân chúng được khai đầy đủ, tới phiên tôi, cán bộ hỏi:

- Anh ở đâu?

- Tôi ở Tu viện Phanxicô.

Nói đến Tu viện, anh cán bộ ngắt ngay:

- Khỏi! Tu viện không phải khai. Đất tôn giáo Nhà Nước bảo hộ. Chỉ dân khai thôi.

Tôi ra về, an tâm về chuyện giấy tờ đất đai... Nay cán bộ đòi hỏi giấy tờ, tôi nói:

- Chúng tôi chưa được cấp giấy gì cả. Nếu đòi hỏi giấy tờ, phải chờ chúng tôi có giấy tờ đã.

Anh cán bộ nhanh miệng trấn an:

- Như vậy thì chậm tiến độ thi công. Không sao, đất sử dụng lâu năm, không có tranh chấp thì cũng được đền bù. Giấy tờ là chỉ để cho mấy ông quản lý Nhà Nước nắm rõ đất đai của dân thôi. Chủ quyền chính là mình đang ở trên mảnh đất này đây.

Tôi đặt vấn đề số cây bạch đàn chúng tôi trồng dọc bờ rào trên 30 năm nay thì sao. Anh kỹ sư trẻ trả lời:

- Chúng tôi sẽ cho người đến cưa khúc như thế này (Anh giang hai tay làm hiệu khoảng một thước) và xếp vào bên lề đường. Các tu sĩ chỉ cần cho người ra khiêng về làm củi.

Được những lời ngọt ngào hứa hẹn như thế, tôi an tâm đặt bút ký chấp nhận cho tiến hành.

Chúng tôi cho anh em ra tháo bờ rào thép gai lùi vào trong hai mét. Hai hàng bạch đàn bấy giờ nằm ra ngoài đường, không còn thuộc về đất chúng tôi.

Đường thi công xong. Chúng tôi nhận được giấy mời đi nhận tiền đền bù. Trên giấy có những hàng chữ sau: “Đất không có giấy chứng nhận chủ quyền, không được đền bù”. Họ trả công di dời hàng rào số tiền 1.600.000VNĐ (một triệu sáu). Số đất trị giá vài trăm triệu không nói đến. Tôi thấy bị lừa gạt (cán bộ đi lừa dân!), tôi không đi nhận tiền đền bù láo lếu kia. Không biết bây giờ nó nằm ở đâu?

Tôi hỏi về số cây bạch đàn thì sao? Các anh đã hứa cho người cưa rồi mà? Anh cán bộ trả lời:

- Cái đó phải làm đơn lên Ban quản lý cây xanh Thành phố.

Lại thêm một cú lừa. Tôi vẫn làm đơn, mang lên nộp Ban Quản lý cây xanh. Mấy ngày sau, cán bộ cây xanh đến Tu viện xác minh. Anh ta nói:

- Ai trồng thì trồng, bây giờ nó như thế, nó thuộc cây xanh Thành phố. Chỉ có Chủ tịch Ủy Ban nhân dân Thành phố mới có quyền ký cho chặt mà thôi.

Cán bộ ra về, có lẽ họ đã trình đơn của tôi lên Ông Chủ tịch Ủy Ban? Một thời gian sau, cán bộ quản lý cây xanh trả lời:

- Cho phép chặt, nhưng phải chừa 10 mét từ dưới gốc lên.

Mỗi cây chừa từ gốc lên 10 mét, chúng tôi cũng chỉ được mấy cái ngọn đầy lá thôi. Thấy không bõ công, chúng tôi hy sinh để lại hàng cây vì lợi ích của toàn dân!

Tranh đấu vì dân

Giáo xứ Du Sinh sở hữu mấy mảng đồi tổng cộng trên 24.000m2: một mảng quanh khu vực Hồ Hy Vọng, ngay từ đầu cha Bửu Dưỡng không cho ai canh tác, vì sợ ô nhiễm hồ nước sinh hoạt của Giáo xứ. Những mảng khác giữ lại để sau này cấp tiếp cho những hộ mới trong hàng con cháu giáo dân sinh ra. Đất đồi dốc và không được tốt lắm, nên không được khai thác nhiều. Hơn nữa, đa số phụ nữ và con cái Du Sinh hưởng lương trợ cấp của chồng, cha, khi những người này là công chức hoặc quân nhân, một số bà chăn nuôi heo thu nhập cao. Thỉnh thoảng mới có một ít người ra đào bới vài khoảng đất nhỏ để trồng khoai lang, bắp, chè...

Sau 1975, vì nhu cầu cứu đói và nhất là từ khi Nhà Nước phát động phong trào đi kinh tế mới mang tính bắt buộc, ai không đủ đất làm nông nghiệp thì không được ở lại Thành phố, bà con giáo dân vội vàng chia nhau khai thác các mảng đất ấy. Khi đó, trồng khoai chuối lấy bột làm miến cho kết quả cao hơn cả. Du Sinh bấy giờ nhà nhà trồng khoai chuối, nhà nhà làm miến. Anh em Tu viện Phanxicô chúng tôi cũng đã từng đóng cối xay bột, nhiều phên phơi, sản xuất miến cung cấp cho thị trường.

Năm 1984-1985, cha Quản xứ Nguyễn Ngọc Hiếu thu hồi lại đất của Giáo xứ, kêu gọi giáo dân làm công tác. Cha cho trồng cây cà phê trên số đất đã thu hồi, hy vọng kết quả sẽ đóng góp cho ngân quỹ của Giáo xứ. Cà phê Giáo xứ chưa kịp thu hoạch thì cà phê rớt giá! Những nơi trồng cà phê chuyên nghiệp như Bảo Lộc, Buônmathuột cũng điêu đứng, nhiều người đốn bỏ cà phê trồng cây khác! Nhà nước vẽ Dự án quy hoạch Đồi Antôn ngốn trọn diện tích đất cà phê của Giáo xứ. Tình trạng tối sáng chưa ngã ngũ, vườn cà phê không được chăm sóc nên xuống cấp! Dù sao, Giáo xứ đã bảo vệ được một số đất như thế làm tài sản chung của Giáo xứ. Nếu không phải đất Giáo xứ, dân chúng đã xâm chiếm hết từ lâu!

Ban đầu, các cán bộ đo đạc cắm mốc nửa vườn phía sau Nhà xứ. Họ nói: “Phần phía trên sẽ làm sổ giao cho Nhà thờ. Một thời gian sau, họ về cắm mốc lên sát đường đi. Tôi hỏi: “Lần trước cắm cọc ở giữa vườn, sao bây giờ lại cắm tuốt trên này?” Một anh trả lời: “Quy hoạch lại, quy hoạch này mới là quy hoạch chính thức”. Như thế, chúng ta đủ biết các nhà quy hoạch của chúng ta làm rất tùy tiện, vẽ theo hứng, nhằm lấy được càng nhiều đất của dân càng tốt.

Trong Dự án Đồi Antôn, ngoài đất Giáo xứ, còn nhà và đất của 23 hộ dân khác, giáo dân cũng như lương dân. Mỗi lần cán bộ về đo đạc, vẽ bản đồ địa chính, họ đều mời Hội đồng Giáo xứ đi theo để xác minh phần đất của mình. Họ cho chúng tôi một bản phôtô trên đó ghi “Nhà thờ” hẳn hoi. Thế mà, khi giấy báo được gửi về, Giáo xứ không được nhắc đến và không được đền bù đồng nào, chưa hề có một sự thỏa thuận nào với Giáo xứ. Chúng tôi gửi đơn khiếu nại lên các cấp Chính quyền. Một Ban Thanh tra Tỉnh được thiết lập. Chúng tôi được mời lên làm việc. Họ đòi giấy chủ quyền, chúng tôi trình bày: “Khi lập Trại định cư Du Sinh, không biết Chính quyền Sài Gòn lúc đó có cấp giấy tờ gì không. Nếu có, những giấy tờ ấy cũng đã bị cháy trong biến cố Mậu Thân. Hai bên giao tranh ngay trên ngọn Đồi Du Sinh, ai nấy chạy thoát mạng. Khi trở về, Nhà xứ và 97 nhà dân cháy rụi! Sau 1975, chúng tôi đã kê khai nhiều lần, nhưng chưa được cấp Sổ chủ quyền!” Không chịu cấp Sổ, nhưng khi muốn lấy đất lại đòi Sổ, thật vô lý. Chúng tôi đã làm chủ số đất trên nhiều chục năm, không hề có ai tranh chấp. Chúng tôi đem trình một tờ phác thảo nói trên do các cán bộ đo đạc cấp trên đó có ghi “Nhà thờ”. Bản đó chưa có chữ ký chính thức.

Một thời gian sau, chúng tôi nhận được một tờ giấy báo: Đất không đủ điều kiện để được bồi thường, nhưng được hỗ trợ 30% giá đất nông nghiệp. Lúc đó đất nông nghiệp đã có giá mới, nhưng Ban đền bù áp giá cũ cho chúng tôi. Như vậy chúng tôi được ban chưa đến 10.000VNĐ một mét vuông trong khi giá đất theo thị trường thực tế giá từ 1.000.000VNĐ đến 2.500.000VNĐ một mét vuông. Chúng tôi không chấp nhận và dứt khoát không đi nhận số tiền đền bù tượng trưng đó. Các cán bộ liên tục đe dọa: “Không nhận đền bù, tiền sẽ nộp vào công quỹ!”, “Không nhận, hai tuần nữa, chúng tôi cũng cho xe về thi công!”... Nhưng chúng tôi thà bị tước đoạt bằng sức mạnh chứ không ký giao đất dễ dàng như thế.

Trong các buổi tiếp xúc cử tri, tôi đã tranh đấu mạnh mẽ để bảo vệ đất của Giáo xứ, đồng thời tôi cũng bênh vực cho cả số 23 hộ dân bị quy hoạch kia nữa. Họ rất mừng vì tôi nói thay cho họ. Họ hứa luôn đứng sau lưng tôi. Nhiều đại biểu Hội đồng nhân dân nhất trí với tôi. Họ nói: “Phải bồi thường cho Nhà thờ, vì nếu không có Nhà thờ làm bờ rào bảo vệ, dân chúng đã chiếm hết rồi. Bây giờ các ông làm quy hoạch, các ông cũng phải đền bù cho họ vậy”. Tại Hội trường Phường 5 Thành phố Đà Lạt, hôm đó có đầy đủ Đại biểu Hội đồng nhân dân của các cấp Tỉnh, Thành phố, Phường, các Ban ngành và đông đảo các thành phần dân chúng, tôi thay mặt bà con trong khu Quy hoạch Đồi Antôn đọc một bài phát biểu gây tiếng vang lớn và tác động mạnh lên những người hiện diện hôm đó.

Tôi tố giác những sai trái của các cán bộ làm quy hoạch và Ban đền bù. Tôi yêu cầu các Đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ đạo cho các Ban ngành để họ khỏi làm mất lòng dân. Các cán bộ bất chấp những quy định của một Dự án quy hoạch: Nào là đền bù hơn hoặc bằng, nào là hỗ trợ di dời, nào là tìm công ăn việc làm, nào là giúp học nghề... để ổn định cuộc sống nơi ở mới. Các hộ liên hệ trong Dự án quy hoạch Đồi Antôn đất nông nghiệp được đền bù 36.000VNĐ mỗi mét vuông, được mua lại một lô đất cũng trong khu Quy hoạch đó với giá 800.000VNĐ một mét vuông. Sau khi đã giao hết nhà, hết vườn, hết đất, khi mua lại một lô đất trống, chẳng những hai bàn tay trắng, mỗi hộ còn phải nợ Ngân hàng thêm từ 200.000.000VNĐ đến 300.000.000VNĐ. Liên quan đến đất Giáo xứ, tôi tuyên bố: “Cấp Sổ hay không, đó là việc của Nhà Nước, chúng tôi không tự cấp giấy cho mình được. Nếu chưa có sự thỏa thuận mà cứ ngang nhiên về thi công, tôi không chịu trách nhiệm về những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra. Lúc đó, nếu các ông chạy đến nhờ tôi can thiệp, tôi dứt khoát đứng ngoài cuộc để dân chúng thi hành quyền dân chủ và bảo vệ quyền lợi của họ. Để bảo đảm tôi đã nói công khai tại Hội trường này hôm nay, tôi xin gửi lại cho các ông tờ phát biểu”. Ông Chủ tịch Mặt Trận Phường mau mắn chạy tới nhận Bài phát biểu của tôi đưa lên Bàn Chủ tọa. Tôi nhìn thấy một hàng dài các vị Đại biểu trên Bàn Chủ tọa nhìn nhau, vẻ lúng túng. Đại diện các vị trả lời chất vấn không thuyết phục và cố ý tránh né vấn đề.

Ngày hôm sau, ông Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân Tỉnh (Ông Dũng) cùng Phó Chủ tịch Ủy Ban đoàn kết Công giáo Tỉnh (Ông Căn) đi xe con đến Nhà xứ gặp tôi để tìm hiểu thêm vấn đề. Ông Dũng nói: “Xin linh mục cho biết rõ hơn, bởi vì ở Hội trường có thể nghe chưa rõ hoặc Thư ký ghi không đủ”. Tôi trình bày cho các ông đầu đuôi và tôi cho họ thấy lập trường cương quyết của tôi. Ra nhìn vườn cà phê của Giáo xứ, ông Dũng nói: “Đất nông nghiệp giá 76.000VNĐ/m2 thì Trung ương đã ký rồi. Nhưng đất nông nghiệp ở đâu vùng sâu vùng xa kia, còn đất trong Thành phố này thì có thể tính theo khung giá khác”. Tôi nói: “Nhưng ông Hòa Chủ tịch Tỉnh đã ký rồi!” Ông Dũng trấn an tôi: “Ký thì ký lại mấy hồi”. Cách hiểu như ông Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân Tỉnh như thế kể cũng chấp nhận được.

Thế nhưng, các cán bộ Ban đền bù vẫn tiếp tục tính toán theo kiểu cố hữu của mình! Họ tính lại theo giá mới đất nông nghiệp, giá đền bù có được nhích lên, nhưng Giáo xứ cũng chỉ được hỗ trợ  chưa đến 20.000VNĐ một mét vuông. Giá như thế vẫn còn quá xa với giá thực tế, chúng tôi không nhận tiền. Dự án cù cưa kiểu bán cá ấy treo hết năm này qua năm khác. Dân chúng kêu, các cán bộ giải thích: “Dự án chậm thi công chứ không phải treo”. Một cách giải thích ngụy biện! Tôi được thuyên chuyển, đất Giáo xứ vẫn còn đó, trách nhiệm bây giờ thuộc cha Quản xứ mới và Hội đồng Giáo xứ. Tôi chỉ cố vấn khi được hỏi đến. Tôi nói và hầu như họ đã nhất trí: “Không một linh mục Quản xứ nào, không một Hội đồng Giáo xứ nào muốn suốt đời mang tiếng “dâng đất”, “hiến đất”, “giao đất”, tài sản chung của Giáo xứ trị giá cả chục tỷ để lấy mấy trăm triệu”.

Linh hướng Nữ tu

Anh em trong Dòng, nếu qua một nhiệm kỳ mà không thuyên chuyển đến một Tu viện khác, công tác thường được cộng thêm chứ không bớt. Khi tôi nhận làm Quản xứ Du Sinh, tôi vẫn tiếp tục đảm nhận các trách nhiệm đã được giao phó từ khóa trước. Đáp ứng lời mời gọi của Đức cha Giáo phận, tôi nhận thêm sứ mạng làm linh hướng cho Nhà tập Dòng Mến Thánh giá Đà Lạt. Tiếp đó, cha Tổng Đại diện kiêm Quản hạt Đà Lạt nhờ tôi làm linh hướng Hội các Bà mẹ Công giáo Giáo hạt Đà Lạt.

Ban đầu ý Đức cha chỉ nhờ tôi lo cho lớp Tiền tập thôi, khoảng trên 24 cô. Nhưng khi bắt tay vào việc không lâu sau, xơ Tập sư xin tôi lo cho các Tập sinh nữa, vì theo xơ Tập sư, Nhà tập cần linh hướng hơn. Tôi cho Đức cha biết chuyện, ngài không ngăn cản gì. Có lẽ ngài âm thầm theo dõi, nếu có gì nguy hiểm cho các Tập sinh thánh thiện của ngài, ngài sẽ can thiệp. Nhưng ngài im lặng để tôi làm suốt tám năm.

Mỗi tháng tôi dành hai ngày cho công tác mới này. Công việc đều đặn: Sáng thứ hai sau Chúa nhật thứ hai trong tháng, tôi xuống Bảo Lộc, ghé Lộc An dâng lễ trưa cho Cộng đoàn Lộc An (cũng là MTG Đà Lạt)- Ăn trưa- Mượn xe các xơ chạy vào Nhà chính Tân Thanh, Cộng đoàn Trung ương nơi đóng đô của Xơ Tổng Phụ trách của Hội Dòng, cũng là nơi huấn luyện Tập sinh- Nghỉ trưa- Gặp cá nhân các Tiền tập và các Tập sinh- Tham dự các Giờ Kinh- Cơm tối- Gặp chung các Tiền tập và Tập sinh- Nghỉ đêm- Dâng lễ sáng cho cả Cộng đoàn- Tiếp tục gặp cá nhân- Ăn trưa- Nghỉ trưa- Đi giúp một Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Tại Thế- Khoảng 17 giờ: Về Lộc An trả xe và đón xe về lại Đà Lạt, mang theo một bao sầu riêng do các xơ biếu nếu gặp mùa thu hoạch.

Cộng đoàn Trung ương (Nhà mẹ) của Dòng Mến Thánh giá Đà Lạt khá rộng, vì xưa đó là Chủng viện Thanh Hóa di cư. Trước kia, các xơ cũng là Mến Thánh giá Thanh Hóa, chuyển thành Mến Thánh giá Đà Lạt thời Đức cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm với sự thỏa thuận của Đức cha Giáo phận Thanh Hóa (Đc Phêrô Phạm Tần). Trong khuôn viên Nhà mẹ còn có Nhà Đệ tử (khoảng 130 nữ sinh), các đệ tử ngày ngày sắp hàng đi học ở các Trường Phổ thông chung quanh, lớp đi lớp về nhộn nhịp. Nhà mẹ có lúc 250 miệng ăn. Các bà khéo nuôi, có lẽ cũng dễ nuôi? Nữ tu thực thua miêu.

Thời gian đầu, các Đệ tử tham dự Thánh lễ chung với các xơ, về sau Đệ tử có Nhà nguyện riêng, tiện lợi cho sinh hoạt đặc thù của tuổi trẻ và nhất là dễ sắp xếp phù hợp với giờ giấc đi học Trường ngoài. Dự lễ chung, gặp hôm cha say sưa giảng dài một chút, các em nhịn ăn sáng vội vàng để đi học cho kịp giờ. Cũng may, nhân viên gác cổng Trường cũng biết thông cảm, em nào đến Trường trễ giờ mà xưng là Đệ tử Nhà Dòng, họ cũng mở cổng cho vào. Đi tu cũng có lợi. Xét cho cùng, cũng không phải do lỗi các em.

Linh hướng đúng nghĩa là hướng dẫn linh hồn, hướng dẫn đường thiêng liêng. Nhưng thực tế, linh hướng các Tiền tập và Tập sinh, công việc đòi hỏi nhiều hơn chuyện linh hồn. Cha linh hướng phải biết hướng dẫn cả về tâm lý, giáo lý, nhân bản. Cha linh hướng đóng vai trò một nhà tư vấn và có khi phải chia sẻ kinh nghiệm tu trì của mình. Số Tiền tập và Tập sinh Dòng Mến Thánh giá Đà Lạt tại Tân Thanh xê xích giữa 68 đến 78 xơ con, tùy theo năm. Thật đáng mừng cho các Dòng tu nam nữ ở Việt Nam, ơn gọi luôn dồi dào trong khi nhiều nước trên thế giới đang khát ơn gọi! Mỗi lần xuống, tôi chỉ gặp riêng cá nhân được một lớp, khoảng 24 xơ. Nếu một vài xơ lớp khác cần gặp riêng, tôi có thể đón tiếp sau khi đã gặp hết lớp theo phiên của ngày hôm đó, hoặc nếu hết giờ, tôi gặp họ sau nghỉ trưa.

Có những tâm hồn đơn sơ thấy rõ. Sự trong sáng và sự thánh thiện chân thật tỏa chiếu ra trên khuôn mặt, trong lời ăn tiếng nói, trong cách chia sẻ đời sống. Cũng có những tâm hồn có nhiều vấn đề. Các khó khăn của tu sĩ thường xoay quanh đời sống cầu nguyện và đời sống cộng đoàn. Các nữ tu khó khăn hơn nam tu trong lãnh vực tình cảm, mối tương giao trong đời sống chung. Chỉ một xung khắc cá nhân, kể cả một ác cảm tự nhiên, cũng có thể dẫn đến thảm họa nếu không khắc phục được! Tính tự ái cũng dễ gây cản trở cho việc hòa giải nếu không tìm kiếm những giá trị siêu nhiên. Có trường hợp xảy ra bất đồng, hai bên đều cảm thấy nặng nề, hai bên đều muốn giải hòa với nhau, nhưng bước tới giải hòa lại là một bước khó khăn xét về tâm lý. Tinh thần sợ hãi cũng làm suy giảm tính hồn nhiên của con người thánh hiến. Sợ Bề Trên, sợ Giám tập, sợ các xơ lớn... sợ những thứ chẳng có gì đáng sợ dẫn đưa người tu sĩ đến chỗ nhút nhát, tránh né, đề phòng! Hồn nhiên, vui tươi, cởi mở, tốt lành, siêu thoát... là những yếu tố góp phần xây dựng một Cộng đoàn tu trì và đem lại sự bình an cho các tâm hồn muốn hiến mình cho Nước Trời.

Tám năm làm linh hướng, tôi chưa nói được nhiều niềm vui trên Thiên đàng. Đọc tiểu sử cuộc nói chuyện giữa thánh Biển đức và thánh Scôlastica, tôi cảm phục hai anh em thánh thiện: Hai anh em ruột ở hai Tu viện gần nhau bên Núi Cassinô, họ chỉ gặp nhau mỗi năm một lần trước Mùa Chay. Lần gặp nhau cuối cùng, họ đã trải qua một ngày để ngợi khen Thiên Chúa và cầu xin hạnh phúc trên trời. Đêm mưa lớn như thác lũ cuồng phong, không ai rút về lại Tu viện được, họ tiếp tục nói chuyện về hạnh phúc trên trời cho đến sáng. Ba ngày sau, thánh Scôlastica qua đời. Một tháng sau, thánh Biển Đức qua đời. Hay thật! Say mê Thiên đàng và rủ nhau đi lên đó trong vòng một tháng quả đúng là những vị thánh. Linh hướng cho các linh hồn là hướng dẫn các linh hồn về trời chắc chắn như thánh Biển đức, quả thật tôi chưa làm được.

Tám năm làm linh hướng, tôi đã chu toàn sứ mạng bất đắc dĩ khi phải từ giã Đà Lạt về Thành phố Sài Gòn nhận công tác mới. Linh hồn là giống thiêng liêng, nhưng kinh nghiệm đã cho tôi thấy được nhiều sự thiêng liêng nơi các Nữ tu Mến Thánh giá Đà Lạt. Đức cha Đà Lạt có vẻ đã tin tưởng tôi, ngài nhờ một cha Phanxicô khác tiếp tục vai trò linh hướng thay chỗ tôi.

Tôi cho khởi công xây dựng lại ngôi Nhà thờ Du Sinh trong giai đoạn này. Nhưng trước khi kể lại công cuộc xây dựng trên, tôi nhớ lại những sự cố bệnh tật đã trải qua.

Không bệnh hay không thể bệnh?

Thời trai trẻ, ngoài những tiếng ho thông thường theo thời tiết, tôi không phải nằm bệnh viện hay uống thuốc. Nhưng lớn lên, thời gian học Thần học, khi chơi bóng rổ, trong lúc tôi không để ý, anh bạn đồng đội ném banh cho tôi, tôi chưa kịp đưa tay ra đón banh thì trái banh nặng đã thúc vào đầu ngón tay trỏ của tôi, thấy không đau lắm, tôi chỉ bóp chút rượu thuốc sơ sơ. Một đốt ngón tay bị cong. Gần hai chục năm sau, khi đánh máy chữ (thời chưa có vi tính), ngón tay trỏ của tôi hơi bị đau. Sẵn dịp ghé Bệnh viện chỉnh hình, tôi sắp hàng vào khám thử. Bác sĩ quyết định mổ, vì bác sĩ nói ngón tay tôi bị đứt gân. Hai phương án để chọn, mổ theo phiên hoặc mổ ngoài giờ. Mổ theo phiên thì không biết đến bao giờ, cứ việc về nhà chờ khi nhận được tin báo thì lên. Mổ ngoài giờ thì được hẹn ngày mổ ngay. Tôi chấp nhận mổ ngoài giờ, giá cao hơn nhưng nhanh hơn.

Sau khi chụp hình hết tim, phổi, lấy nước tiểu... theo đúng trình tự khoa học, tôi sẵn sàng vào phòng mổ. Tôi cứ nghĩ, mổ một chút đầu ngón tay thì không có gì quan trọng, chỉ cần ngồi tại bàn, bác sĩ cho chút thuốc tê rồi mổ. Thế nhưng, ca mổ của tôi long trọng hơn nhiều. Vào phòng chờ, thay y phục, nằm trên băng ca có bốn bánh xe, chuyên viên bệnh viện đẩy vào phòng mổ. Chuyển qua bàn mổ, hai tay duỗi thẳng ra hai bên bàn mổ. Một y sĩ chích nơi cổ tôi một mũi thuốc tê. Tôi xin được mổ sống, không cần gây tê. Cô y sĩ không chịu. Cô nói: “Đâu có được, bác sĩ bắt phải chích!” Một lát sau, cô hỏi tôi có thấy tay tê chưa. Tôi chẳng thấy cảm giác gì khác thường. Cô dặn tôi để ý có thấy thuốc chạy dần dần dọc theo cánh tay không. Tôi trả lời không. Cô nhích người tôi lên, lay động người tôi mấy cái. Lúc đó, tôi để ý thấy cảm giác thuốc bắt đầu chạy dần ra đầu ngón tay thật. Trước đó, tôi giang hai cánh tay ra ngoài giường mổ khá lâu không sao, nhưng từ khi thuốc tê thấm vào, tôi cảm thấy hai cánh tay nặng trĩu và mỏi. Tôi hỏi: “Không có cái gì kê tay cả sao? Cô trấn an: “Có chứ! Một lát sẽ có”. Có lẽ cảm giác nặng tay là dấu hiệu để bắt đầu được? Một ê kíp bác sĩ tiến ra: Bác sĩ Mỹ, Trưởng khoa, mổ chính, hai bác sĩ khác phụ trong đó có cô bác sĩ Bảo Trâm, người đã hướng dẫn tôi làm thủ tục, hai cô lo đưa dụng cụ mổ, một anh trực bên hông tôi, cô y sĩ chích thuốc tê luôn túc trực phía trên đầu tôi. Người ta kéo màn che chắn không cho tôi nhìn thấy họ mổ, tôi xin đừng che màn để tôi có thể nhìn xem mổ như thế nào, họ không chịu. Có lẽ họ sợ tôi thấy sẽ xỉu. Theo y khoa, khi đang mổ mà bệnh nhân xỉu, dù tình trạng họ trước đó cũng đã hôn mê rồi, mọi sự phải dừng lại để cấp cứu bệnh nhân đã rồi mới mổ tiếp.

Bác sĩ chà đi chà lại khá lâu hết cả cánh tay tôi để sát trùng, một lớp thuốc màu vàng, hình như có nghệ. Sau này lớp thuốc đó bong ra, da ngoài cánh tay tôi cũng bong theo. Bác sĩ Mỹ nắm đầu ngón tay tôi, rạch một đường khá ngọt, họ thấm máu. Bác sĩ Mỹ chỉ vào gân ngón tay và nói với các đồng nghiệp: “Thấy chưa? Gân đứt đây nè!”. Rạch như thế thì gân chưa đứt cũng phải đứt. Ông dùng kẹp kéo dây gân phía trong ra, gân tuột rút lại. Ông kéo đến lần thứ ba mới được. Tôi có cảm tưởng nó giống như một sợi dây thun. Không biết họ nối ra sao, thắt hai đầu lại với nhau hay dùng chỉ cột chúng lại. Có lẽ cũng có chỉ, vì sau này, nơi nối ấy luôn có chút gì đó màu xanh xanh ở phía trong da. Ông dí một cây inox vào và dùng búa nhỏ đóng. Cảm giác đau chỉ có khi đụng phần thịt, còn đầu cây inox đã xuyên vào xương rồi, đóng vào sâu mấy cũng không đau. Cô y sĩ chuyên gây mê hỏi tôi: “Có đau không?” Tôi trả lời: “Hơi đau!” Cô gợi ý cô chích thêm thuốc tê. Tôi cản: “Thôi! Khỏi chích. Tôi chịu được”... Bác sĩ bó băng ngón tay tôi và quấn băng nguyên cả bàn tay trái tôi. Tôi được đẩy về phòng hậu phẫu. Một lát sau, bác sĩ đến thăm, thấy tôi khỏe mạnh bình thường, ông cho tôi trở về phòng bệnh. Tôi nằm lại bệnh viện ba ngày rồi trở về nhà Đakao. Không biết Bệnh viện có lầm không? Kinh phí cho ca mổ của tôi ngang với ca mổ và bó bột xương đùi bị gãy của một bệnh nhân khác tên Hòa.

Tôi được cấp một số thuốc Ampicilines để uống theo toa bác sĩ. Không biết do thuốc hay do không kiêng cữ (thịt bò, tôm cua), người tôi bị sưng phù lên. Sáng sớm kia, trong nhà chưa ai thức dậy, tôi ra bàn rửa mặt. Tôi lấy một thau nước, cảm thấy choáng váng nhẹ, nghĩ là không sao... Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm dài trên nền xi măng. Thau nước úp trên bụng. Tôi ngất và té lúc nào không biết, chắc rất nhẹ nhàng vì không để lại dấu vết gì cả. Có lẽ nhờ được dội nước mát lên người nên mau tỉnh? Tôi lên bệnh viện báo lại bác sĩ Bảo Trâm về hiện tượng sưng phù của tôi, bác sĩ nói da tôi có vấn đề. Cô khuyên tôi đi khám da liễu. Chạy qua phòng khám da liễu, nhìn thấy một phòng người chờ đông đúc, không biết chờ có nổi không, tôi bỏ về. Hôm sau tôi lên bệnh viện gặp một xơ Mến Thánh giá Chợ Quán. Xơ làm việc ở phòng chi dưới (chân cẳng). Xơ giới thiệu tôi cho một bác sĩ quen tại Tầng chữa chi dưới. Bác sĩ chích cho một mũi và cho tôi mấy viên thuốc. Mọi sự đều qua tốt đẹp. Tôi hết sưng mau chóng.

Nhưng bệnh tăng dần theo tuổi tác, không bệnh này thì bệnh khác. Sau 1975, đầu bếp Tu viện dọn lên bàn ăn món thịt thỏ không lột da. Không biết thịt nấu chưa chín hay sao mà dai như đỉa. Tôi ỷ bao tử tốt, nhai không nhỏ thì nuốt. Hôm đó tôi nuốt thay cho nhiều anh em. Ngày hôm sau, bụng tôi hành hạ tôi khốc liệt. Thay vì uống thuốc xổ cho nó ổn ngay, tôi áp dụng lời khuyên của bác sĩ Alexis de Carrel, một nhà bác học được giải thưởng Nobel về Y học. Ông chủ trương chỉ dùng thuốc khi nào cơ thể không còn sức kháng cự nữa. Theo ông, cơ thể chúng ta Thiên Chúa dựng nên rất kỳ diệu, các cơ quan trong con người có một hệ thống liên lạc với nhau rất hoàn hảo. Bao tử gặp thức ăn khó tiêu, nó điện lên não, não điện về gan, gan cho mật tiết chất tiêu hóa gửi về bao tử... Các thứ bệnh thông thường, cơ thể tự điều chỉnh lấy, không cần uống thuốc. Tôi cứ để bao tử tự điều chỉnh. Bụng tôi đau quặn suốt ba ngày. Cuối cùng, cơ thể tôi cũng tự chữa được. Nhưng hậu quả thì tai hại hơn: Cứ khoảng một tháng hay tháng rưỡi, cơn đau lặp lại như một kỷ niệm. Mỗi lần đau, tôi quằn quại, không ăn uống gì được trừ một ít nước đường. Sau năm hoặc sáu ngày, ngưng đau, cân giảm tối thiểu bốn ký. Số ký mất này sau một thời gian cũng được phục hồi lại đầy đủ. Nhưng rồi chẳng được bao lâu, cơn đau khác lại đến. Tôi quyết định xin đưa đi bệnh viện Tỉnh Lâm Đồng và sẵn sàng cho mổ, vì nếu cứ thế này, không làm ăn gì được, dù lúc bấy giờ, những trường hợp mổ thường nhiễm trùng hoặc tử vong. Các bác sĩ ở rừng ra hầu hết qua thực hành hơn là qua đào tạo, trong rừng cứ xát nước muối rồi mổ, khỏi cần thuốc mê hay thuốc tê, mổ chết bỏ! Nhiều trường hợp, khi ra làm ở bệnh viện, các ông mổ, kéo ruột bệnh nhân ra, sau đó không biết làm sao nhét vào lại, các ông phải chạy đi tìm sự giúp đỡ của các bác sĩ chế độ cũ mà các ông đã sa thải.

May cho tôi, lần đó, sau khi chích thẳng vào bụng tôi một mũi thuốc (có lẽ thuốc giảm đau?), họ hỏi tôi: “Có thấy bớt đau không?” Tôi trả lời: “Đỡ đau hơn”. Thế là họ không cho mổ. Thiên hạ đồn tôi sắp chết, lên Nhà thương, bác sĩ chê, đã cho về! Một bà giáo dân Du Sinh chạy tìm cho tôi cô y sĩ tên Tư mà bà quen biết. Cô Tư là médecin do Pháp đào tạo, là người Việt Nam đầu tiên được nhận vào Tổ chức Unicef quốc tế. Cô nghe tin tôi bị bác sĩ chê, cho về nhà, cô tự nghĩ tại sao lại bỏ người ta như thế? Cô rất tự tin ở tay nghề của mình. Cô vào khám và cho tôi thuốc. Tôi vẫn không hết bệnh. Bất cứ ai bày cho uống thuốc gì, Tây hay ta, tôi đều uống: Bột sò Chánh Điền, Nghệ mật ong, nước cải ngọt, lá vú sữa trắng nấu uống thay nước trà, trứng gà rửa sạch cho vào ly, nặn nước chanh cho ngập trứng. Sau 24 tiếng, vỏ trứng tan ra chìm xuống đáy ly, khuấy đều cả trứng cả nước chanh và uống (chỉ bỏ vỏ lụa dai thôi). Bồ công anh mọc trong các vườn rau rất nhiều, tôi hái luộc ăn hết rổ này đến rổ khác. Bao tử tôi lành, khó biết nhờ thuốc nào mà lành.

Về sau, chính tôi lại được nhờ đi giúp cô Tư. Cô theo Tây học, không tin chuyện ma quái, nhưng sự cố cô gặp có thực. Nếu lộ ra ngoài, công việc làm ăn của cô sẽ bị ảnh hưởng. Cô ở với hai người con, con gái đã lớn, con trai còn là thiếu niên. Cô thường bị “hồn” nhập. Mỗi lần bị nhập, cô nói tiếng của một người đàn ông nào khác, cô quăng kính (kính cô bể nhiều lần). Cô gái lớn khi đưa nước mời tôi đã xác nhận: “Bộ ly này 12 cái, mẹ con nhai và nuốt chỉ còn lại mấy cái này. Mẹ con ăn thủy tinh mà không sao cả”. Tôi nhìn thấy còn trên bàn ba cái ly. Tôi mặc áo các phép làm phép nhà cho cô. Lúc gần xong, bỗng nhiên cô lên cơn. Cô con gái như đã quen cảnh này, cô đỡ mẹ nằm lên giường. Hai chân cô xoắn vào nhau như cái bánh dây thừng. Bình thường, chân người chỉ gác lên nhau chứ không thể xoắn vòng với nhau được như vậy. Cô giật kính của cô định vất đi, cô con gái giữ lại được. Cô đòi nước, tôi đưa ly nước thánh còn lại cho cô uống. Uống hết nước, cô giơ cao cái ly và hỏi: “Con ăn cái ly này được không?” Tôi không dám để cô ăn. Thấy hiện tượng hơi bất ngờ, tôi bán tín bán nghi. Tôi không tin chuyện hồn nhập. Nếu có, chỉ là chước quỉ mà thôi. Tôi đối thoại với tên quỉ nào đó một lát. Nó nói nhiều điểm sai Giáo lý Công giáo, chẳng hạn, nó nói: “Ta không phải là thánh, cũng không phải là quỉ. Ta là hồn...” Tôi hỏi: “Bây giờ ngươi ở đâu? Nó trả lời: “Ta đi lang thang đây đó” trong lúc đôi mắt cô Tư nhìn lên trên (như muốn nói nó lang thang trên không khí). Tôi nhớ câu Giáo lý về bốn sự sau, tôi hỏi: “Ngươi có biết bốn sự sau là gì không?” Nó lắc đầu. Nó nói như tiên báo một điều quan trọng tôi không thể tin, vì chuyện đó không thể xảy ra. Có thể cô có một ám ảnh nào đó và nói ra trong khi mất tự chủ?...

Ở Đà Lạt, cánh tay trái tôi đau, đau ít rồi đau nhiều đến nỗi mỗi lần thay áo rất khó khăn. Tôi nghĩ là bong gân hay sái cơ gì đó, vì tôi nhớ lại trước kia có lần chiếc xe Viva nặng nề của tôi đổ, tôi cố níu lại và nghe một tiếng “phựt” nhẹ nơi cánh tay. Không thấy đau đớn gì nên không cần thoa bóp. Phải chăng mấy năm sau cái đau ấy hồi sinh? Tôi thoa bóp đủ loại thuốc vẫn không hết. Tôi chạy Viva qua bệnh viện dân tộc khám xem sao. Hy vọng nếu sái cơ, họ thoa bóp cho sẽ khỏi. Đo huyết áp xong, cô bác sĩ cho tôi tờ giấy và dặn: “Anh qua chụp nội soi”. Chụp nội soi xong (hình như đo điện tâm đồ?), tôi cầm phim quay lại phòng khám ban đầu. Xem phim xong, bác sĩ nói: “Anh lên Bệnh viện Tỉnh, bệnh này anh đừng làm khổ y học dân tộc làm gì, ở đây không chữa được bệnh này”. Tôi hỏi bệnh gì, cô cho biết: “Bệnh cao huyết áp”. Tôi lấy xe chạy tiếp ngay lên Bệnh viện Tỉnh Lâm Đồng kịp trước khi hết giờ làm việc. Đo huyết áp tôi xong, bác sĩ trực nói: “Bây giờ bác nhập viện”. Hôm đó là chiều thứ bảy, tôi còn phải lo lễ cho ngày Chúa nhật hôm sau, tôi xin bác sĩ cho tôi về, có nằm bệnh viện thì thứ hai tôi sẽ lên lại. Bác sĩ trả lời: “Nếu vậy, bác cầm mấy viên thuốc này, bác ra chỗ có bình nước ngoài kia, bác uống thuốc và ngồi chờ một lát, bác sĩ sẽ khám lại và cho bác về”. Tôi làm theo chỉ dẫn của bác sĩ. Khi quay vào, cô y sĩ đo huyết áp tôi lần nữa, cô nói: “Bây giờ bác ký giấy xin xuất viện, bác sĩ cho bác về”. Tôi chỉ vào xin khám thử, chưa nhập viện mà phải xin giấy xuất viện. Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng thôi, cứ theo lời bác sĩ mà làm. Tôi hỏi huyết áp tôi bao nhiêu. Cô y sĩ cho biết: “Lúc nãy mới vào, áp huyết 19, bây giờ xuống 16 rồi, bác về được, thứ hai lên lại”. Bác sĩ cũng kê cho tôi toa thuốc mang về uống và báo: “Bệnh này phải uống thuốc suốt đời rồi đây!” Đúng thế, từ ngày hôm ấy, tôi ý thức mình không phải là người khỏe nhất thiên hạ, đành khiêm tốn uống thuốc suốt đời vậy! Mỗi ngày tôi nuốt một trái tim (lodipin).

Ngày kia, một mình sửa sang lặt vặt trong Phòng áo Nhà thờ, tôi đứng trên đầu chiếc thang xếp nhôm. Bỗng nhiên, chiếc thang duỗi chân ra và lung lay, tôi biết chuyện không ổn nhưng không biết bám vào đâu. Không một chỗ nào có thể tựa vào được. Chiếc thang đỗ xuống, mông tôi ngồi ngay trên thành tựa lưng của chiếc ghế phía dưới. Mông ê ẩm và sau đó đau nhức. Thường xương cụt bể hoặc cong sẽ gây đau nhức lâu dài và khó chữa, nhất là khi trở trời. Tốt nhất nên đi bệnh viện khám và chữa sớm. Rất may, chụp hình xong, bác sĩ cho biết, xương cụt, xương sống không sao. Nhưng bác sĩ phát giác ra thứ bệnh khác: Tôi đã bị gai ba đốt cột sống, đang chuyển sang đốt thứ tư! Lại uống một toa thuốc khác. Uống hết toa thuốc, thấy cũng hết đau. Không biết tình trạng sẽ ra sao? Gai xương sống đã gãy hết chưa? Tương lai sẽ cho biết.

Cũng ngày kia, gió mạnh lật bay một tấm tôn trên nóc phòng giáo lý của Giáo xứ Du Sinh. Phòng này ở trên gác. Đến giờ học, nắng chiếu xuống các em thiếu nhi. Tôi mang búa mang đinh lên đóng tấm tôn lại. Đang đi ở mái dưới, chẩn bị bước lên mái trên, bỗng nhiên mái tôn dưới chân tôi phát một tiếng nổ “ầm!”, mọi người chung quanh đều nghe. Mái nhà sập xuống, tôi cứ đứng yên để mình ngoan ngoãn rơi theo. Tôi rơi đứng thẳng người xuống, ba tấm tôn cũng rơi thẳng xuống quanh tôi. Mái nhà dừng lại lưng chừng. Cây đòn tay gãy ngay chỗ nối, khi nó cong gập lại dưới chân tôi, đầu trên đòn tay tuột ra khỏi bờ tường xây... Dưới đất, nhiều cuốc cào và sắt cũ được cất giữ ở đó. Nếu tay tôi bám vào tôn hay vào đâu đó, có lẽ tôi đã bị cưa đứt... Tay tôi giữ thẳng theo người nên kể như an toàn. Chân không đạp vào cuốc cào phía dưới. Chỉ một vết cắt nơi bàn tay… Có lẽ tôn cắt. Nó chọn nơi nhiều thịt ở cuối ngón tay cái để cứa. Thấy vết thương lớn và há miệng như miệng cá chép, tôi biết không xong! Bình thường, tôi tự chữa được, nhưng vết thương này, tôi phải nhờ bệnh viện. Tôi giữ miệng vết thương khép lại, nhưng máu vẫn chảy ra lai láng. Có lẽ tôi uống Aspirin đề phòng máu đông nên loãng máu.

Nghe tiếng nổ, giáo dân tụ lại, nhiều người thấy máu chảy nhiều nên hốt hoảng. Họ tìm băng và bó chặt vết thương, rửa sạch máu quanh vết thương. Một đàng mừng vì tai họa đã qua, đàng khác, tôi biết vết thương này không đến nỗi chết, tôi không tỏ vẻ lo lắng gì, vẫn nói đùa và bình thản. Tôi nhờ người chở lên bệnh viện. Các y sĩ tháo băng cũ, rửa vết thương, khâu cho tôi năm mũi chỉ. Tôi nhận thuốc về uống (Y sĩ khâu cho tôi là anh Phước, một giáo dân Du Sinh). Mỗi ngày, chị em cô Loan y sĩ đến chăm sóc vết thương và thay băng cho đến khi tay tôi lành hẳn. Chứng kiến cảnh tượng, có người (một bà mẹ trẻ) thốt lên: “Cha hay thật! Máu ra nhiều như thế mà vẫn tươi rói, còn nói đùa. Phải chi con được một đứa con như thế!”. Té ra, có những bà mẹ mong được một ông cha tuổi gấp đôi làm con mình?

Có lẽ cơn bệnh đặc biệt khác cũng đáng nói: Đêm cuối cùng cuộc Đại hội Giới trẻ thế giới năm 2008 được tổ chức tại Sydney, nước Úc, chúng tôi ngủ ngoài trời. Đêm đó trời lạnh sáu độ. Đang đêm thức dậy, mặt tôi không đắp chăn nên lạnh buốt, tôi cảm thấy ớn ớn, tôi dậy đi dạo quanh. Sau ngày bế mạc do Đức Thánh Cha Bênêđitô chủ sự, tôi đi Melbourne, cách Sydney 950 km. Xe nhà chạy hết chín tiếng đồng hồ. Các cháu bên Úc thấy tôi thỉnh thoảng ho đôi tiếng, chúng nói tôi bị cảm rồi, chúng đưa thuốc cho tôi uống. Tôi không ảnh hưởng gì về sức khỏe, ăn uống vẫn bình thường, mỗi ngày ăn một nhà bà con khác nhau. Ăn tối nhà nào thì ngủ lại nhà đó. Tôi trở về Sydney bằng máy bay. Tôi chỉ mang theo tờ passport phôtô, chưa có dấu xác nhận. Nghe nói đi máy bay phải trình passport, tôi không biết tính thế nào. Thà đi xe từ sớm, còn ra sân bay theo giờ cô em họ tôi đã đặt cọc trước (cất cánh 9 giờ), nếu không lên được máy bay, khi đó mới quay về đi xe thì quá muộn. Người ta chỉ cho tôi nhờ cha xứ ký xác nhận bản phôtô của tôi. Ở Úc, giấy tờ cha xứ ký được Nhà Nước công nhận, không cần công chứng. Luật sư cũng có thể ký thị thực như thế. Hôm đó tôi ăn cơm tại nhà anh Trần Đức Danh, bạn học với tôi ngày ở Chủng viện và bây giờ là cháu rể tôi, cùng với Đức Cha Ngân và mấy cha Lạng Sơn, thêm  mấy xơ Mân Côi. Anh Danh là một luật sư, thế là anh ký giấy cho tôi, dù khi ấy cũng có cha xứ hiện diện trong bữa ăn. Mọi sự tốt đẹp. Chuyến bay từ Melbourne về Sydney suôn sẻ.

Trở về Việt Nam, tôi ho nhiều. Ra tiệm mua thuốc, được hỏi: “Ho có đàm không?” Tôi trả lời “Có”. Cô bán thuốc cho biết: “Ho có đàm thì phải uống kháng sinh”. Tôi không nhớ trước kia đã bị một lần sưng phù vì uống kháng sinh để lưu ý cô bán thuốc. Nhưng uống bốn ngày đầu vẫn không sao. Một bà đạo đức mang thêm cho tôi mấy loại thuốc khác, bà bảo tôi uống, thuốc hay lắm. Có lẽ cũng là kháng sinh? Uống thuốc mới này sang ngày thứ hai, người tôi bắt đầu sưng phù. Ăn mất ngon, tôi chỉ ăn một ít rau và trái cây. Một sáng thứ hai, tôi làm lễ tại Nhà thờ Giáo xứ Đakao. Cuối lễ, tôi thấy người hơi chóng mặt một chút, nhưng tôi tự trấn an, chỉ còn mấy phút nữa là xong, tôi tiếp tục đứng tráng chén bình thường. Tay làm việc, nhưng hình như tôi đã mất ý thức. Khi ý thức trở lại, tôi thấy ông Khíu đỡ bên trái tôi, chú giúp lễ xoa sau lưng. Tôi quay mặt ra sau, chú giúp lễ nói: “Cha mệt!” Có lẽ giáo dân phía dưới nhận ra tôi sao đó, họ ra hiệu cho ông Khíu, người dọn Phòng thánh và chú giúp lễ lên đỡ tôi. Kết lễ, tôi xuống bái bàn thờ, tự nhiên mồ hôi trán tôi chảy ra nhiều. Nhưng tôi vẫn có thể tự đi vào Phòng áo cách bình tĩnh.

Tôi vẫn cứ cầm cự như thế ngày này qua ngày khác, có xông cho mồ hôi ra một lần, uống nước nhiều cho nó thải chất độc ra ngoài. Sáng thứ bảy sau đó, tôi làm lễ an táng trước Phòng tưởng nhớ, chiếc quan tài nằm ngay trước mặt. Cuối lễ, tôi cũng cảm thấy choáng đôi chút. Bước ra phía trước bàn thờ cúi chào, bỗng mồ hôi trán tôi chảy xuống ròng ròng. Chưa bao giờ tôi gặp hiện tượng lạ lùng ấy! Từ đó, người tôi sưng to dần, da bắt đầu chuyển sang màu tím khắp người. Trời nóng, tôi vẫn phải mặc áo ấm! Cuối cùng, cha Nguyễn Thanh Minh, Phụ trách Tu viện Đakao kêu Taxi đưa tôi đi bệnh viện Hoàn Mỹ. Ban sáng, tôi nghe nói chiều bác sĩ sẽ cho tôi về. Chiều đến, bác sĩ nói tôi bị nhiễm trùng máu, phải nằm lại bệnh viện ít ngày. Người tím hết từ trên xuống dưới (nghe nói đó là dấu hiệu vi trùng đã vào gan?), tôi vẫn tự đi lại khỏe mạnh. Khi đưa xe lăn tới cho tôi ngồi để nhân viên đẩy lên phòng bệnh, tôi xin để tôi tự đi, nhưng cô nhân viên nói: “Bác sĩ không cho đi, phải ngồi xe!”. Những ngày ở bệnh viện, tôi được truyền mấy chai nước biển, hai ba chai nước màu vàng (nghe nói là kháng sinh). Da tôi đỏ lại dần dần. Tôi ăn bắt đầu thấy ngon miệng, thèm ăn rau. Ăn ở căn tin trong bệnh viện, chẳng có rau, chỉ có mấy lá hành! Các cháu tôi thay phiên nhau đưa cơm tiếp tế, chúng kiếm nhiều rau như tôi mong ước. Trên tờ giấy xuất viện, bác sĩ ghi nhiễm trùng máu, nhưng chua thêm chữ tiếng Pháp trong ngoặc (épidermie, nghĩa là bệnh ngoài da hay nhiễm trùng da?). Nhiễm trùng gì cũng được, miễn là khỏi bệnh. Tôi trở về nhà khỏe mạnh, ăn không thấy no, bù lại những ngày nhịn ăn? Bệnh chưa đến nỗi chết! Tạ ơn Chúa. 

Xây dựng nhà thờ mới

Trước tình trạng xuống cấp trầm trọng của ngôi Nhà thờ Giáo xứ, qua nhiều cuộc họp bàn, góp ý sửa chữa hay làm lại. Cha xứ và giáo dân nhất trí làm lại chứ không chỉ sửa chữa. Công việc bắt đầu được tiến hành.

Mọi sự đều mới lạ. Biết trước những khó khăn trước mắt, những tin töôûng vào Chúa và lòng mong đợi của tất cả bà con giáo dân Du Sinh, ai nấy nhất trí đánh liều một phen.

Những khó khăn trong thời gian chuẩn bị

Nhờ có sự nhất trí cao của toàn thể giáo dân, nhiều ý kiến đóng góp tích cực, trong đó có người đề nghị mỗi người đóng 500.000VNĐ, còn ai có thể ủng hộ nhiều hơn càng tốt, các cuộc họp đều kết thúc tốt đẹp trong bầu khí phấn khởi. Không có quyết định nào dứt khoát, nhưng hầu như mọi người sau này căn cứ trên con số đề nghị đó để đóng góp. Tuy nhiên, không hề có một sự ép buộc cụ thể nào. Sự đóng góp hoàn toàn tự nguyện, vì ai cũng cho rằng Nhà thờ là của chính mình, nên mình phải đóng góp. Nhiều người vẫn nghĩ: “ Tiền bỏ vào Nhà thờ không sợ mất đi đâu cả, bỏ vào Nhà thờ như bỏ vào Ngân hàng vậy”.

Các Trưởng Giáo khu đi thu từng nhà. Nhiều người đóng ngay. Một số xin khất khi nào có sẽ đóng. Số người còn lại ấy tùy nghi đưa đến đóng cho Cha Quản xứ hoặc cho Trưởng Giáo khu…Người thì sau khi đặt Viên Đá đầu tiên, người thì khi đã xây dựng gần xong, người thì mãi nhiều tháng sau ngày Cung Hiến mới đóng, thậm chí ai không đóng được cũng chẳng sao! Tuy tinh thần cao, nhưng khả năng kinh tế hạn chế, số tiền giáo dân Giáo xứ Du Sinh chỉ trả được 1/5 kinh phí(khoảng 750.000.000VNĐ).Đó là số tiền tổng kết sau khi hoàn thành Nhà thờ. Còn lúc khởi sự mức đóng góp cũng như số tiền hy vọng nơi các ân nhân ở xa vẫn còn rất khiêm tốn.  

Ngay trong số giáo dân, khi nghe trình bày hình phác họa Nhà thờ tương lai, có người hoài nghi về sự thành công. Những câu nói thành tâm được thốt lên: “Nhà thờ đẹp đấy nhưng tiền đâu mà làm?; “Cha Hoa mà làm được Nhà thờ ấy tôi đi đầu xuống đất”; Biết khó khăn nhiều về tài chánh, nhưng chúng tôi, Quản xứ và Hội đồng Giáo xứ vẫn quyết tâm làm, đặt tin tưởng vào Chúa (Nhà của Chúa mà), và chuẩn bị tinh thần kiên nhẫn để chịu đựng một công trình dự tính sẽ kéo dài từ bốn đến năm năm. Thế là chúng tôi tiến hành các thủ tục xây dựng.

Bắt tay vào việc mới thấy thủ tục xây dựng còn khó khăn và nhiêu khê hơn nhiều so với khó khăn về tài chánh! Khó khăn đến từ cả phía Giáo quyền lẫn phía Chính quyền dân sự.

1. Phía Giáo quyền: Hồi năm 2000, khi trình bày với Đức Giám mục Giáo phận, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, về việc đại tu ngọn Tháp Nhà thờ, Đức cha cũng rất do dự: “Đối với những Nhà thờ khác, tôi có thể ký ngay, nhưng đối với nhà thờ Du Sinh, tôi phải tham khảo ý kiến Ban Tư vấn”. Sự dè dặt của Đức cha cũng là chính đáng. Nhà thờ Du Sinh có lối kiến trúc đặc biệt và đã nổi tiếng khắp nơi rồi. Hễ làm hỏng công trình đó đi, thiên hạ sẽ trách móc Đức cha. Cuối cùng, Ngọn Tháp cũng đã hoàn thành, không tìm ra gỗ tốt để bảo đảm dàn mái bền vững lâu dài, chúng tôi gia cố thêm bảy khối bê tông cốt sắt những nơi yếu và cho đúc toàn bộ các mái. Ngói nung cũ mục nát đã được thay thế bằng ngói men xanh, có người gọi đó là ngói vĩnh cửu. Kinh phí lên đến 76.000.000 VNĐ. Năm 2000, đó là một số tiền khá lớn, vượt xa dự kiến ban đầu.

Nay trình bày với Đức cha về việc làm lại hoàn toàn ngôi Nhà thờ Du Sinh, Đức cha càng lo lắng hơn nữa. Ngài lo lắng vì thấy Du Sinh là một Giáo xứ nghèo, khó có thể làm lại được ngôi Nhà thờ mới theo như bản vẽ. Ngài lo lắng vì nếu phá Nhà thờ cũ đi rồi mà để bê ra đó, ngài phải chịu trách nhiệm trước những lời chỉ trích? Ngài lo lắng vì phá ngôi Nhà thờ cũ đi mà làm lại không được như cũ, ngài cũng phải mang tiếng. Trong ý nghĩ, Đức cha chỉ hình dung ra một sự sửa chữa những chỗ hư hỏng thôi.

Sau khi trình bày để ngài hình dung ra ngôi Nhà thờ mới, kèm theo bản chú thích những đề nghị sửa đổi trong kiến trúc gồm 14 điểm (Bỏ cột phía trong, nới rộng bề ngang, thêm hành lang chung quanh, thêm hai ngọn Tháp phụ cho cân đối, thêm phòng trệt, tách Nhà thờ ra khỏi Tháp, thay các cột gỗ bọc xi măng bằng cột bê tông cốt thép, giữ lại nét kiến trúc cũ vv…), Đức cha cho cha Gioan Phan Công Chuyển, Trưởng Ban Xây Dựng Nhà thờ của Giáo phận Đà Lạt, đến tận nơi để kiểm tra lại tình trạng của ngôi Nhà thờ cũ. Cha Chuyển kiểm tra xong, đã phê: “Tình trạng Nhà thờ xuống cấp trầm trọng đúng như Cha xứ trình bày. Nhưng kinh phí chưa đủ 1/5 công trình, e sẽ kéo dài và giáo dân không có chỗ cử hành việc thờ phượng!”

Và Đức cha ra điều kiện: “Phải có trước một nửa kinh phí mới được bắt đầu” (nghĩa là được phá ngôi Nhà thờ cũ). Một đàng với tư cách Quản xứ, tôi viết Thư ngỏ gửi đi khắp nơi để vận động thêm tài chánh, đàng khác tôi cho tiến hành thủ tục bên Chính quyền.

2. Phía Chính quyền: Khâu thủ tục hành chánh còn phức tạp gấp bội, đến mức có lúc tôi cảm thấy muốn bỏ cuộc. Giấy phép lúc bấy giờ bắt đầu từ cấp Mặt Trận Phường lên cấp Thành phố và cuối cùng đến cấp Tỉnh. Chữ ký của Chủ tịch Ủy Ban nhân dân Tỉnh là chữ ký quyết định. Nhưng để giấy tờ lên đến Chủ tịch Tỉnh, các đơn từ, giấy tờ, bản vẽ, bản thiết kế… phải nhân ra thật nhiều và phải đi qua nhiều Phòng, Ban khác nhau: Ban Tôn giáo Thành phố, Ban Tôn giáo Tỉnh, Ủy Ban Mặt Trận các cấp, Phòng Chống cháy chữa cháy, Ủy Ban Môi Trường, Phòng Xây Dựng Thành phố rồi Phòng Xây Dựng Tỉnh, nơi nào cũng lưu lại một Bộ Bản Vẽ Thiết Kế Xây Dựng gồm 12 tờ khổ lớn 1, 2 m. Thậm chí có nơi xin giữ lại hai Bộ. Khi nhận được chồng Bản Vẽ với lời thôi thúc của ông Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ: “Cha ký ngay cho để chiều nay chúng con đi nộp cho kịp”, tôi phải bỏ ngủ trưa để ký và ghi tên đầy đủ trên 100 lần. Từ kinh nghiệm đó, tôi phải đi khắc mộc tên của mình để sau này gặp trường hợp như thế, đóng mộc tên cho nhanh.

Điều kiện làm lại Nhà thờ đòi hỏi phải có Sổ chủ quyền đất. Do trước đây chưa cha Quản xứ nào ở Du Sinh làm Sổ chủ quyền đất Nhà thờ, mọi sự đều phải đi lại từ đầu. Để có được Sổ chủ quyền này. Chúng tôi phải làm việc lâu dài và vất vả với đủ các Ban Ngành (Liên Ngành) và chờ đợi tới hai năm. Trong vấn đề khó khăn này, Anh Tài Bà Hòe và các Ông trong Hội đồng Giáo xứ (Ông Phêrô Trần Hữu Cảnh Chủ tịch, Ông Giuse Đỗ Huy Cường Phó Chủ tịch kiêm Thư ký...) có công rất lớn. Giáo xứ làm được bốn Sổ đỏ chứng nhận chủ quyền: Sổ Nhà thờ và Sổ Nhà xứ đất nối liền nhau tổng cộng trên 17.000 m2; Sổ Nhà nguyện Mân côi trên 800 m2 và Sổ miếng đất 1.300 m2 Nhà Dục Anh cũ.

Theo suy nghĩ đơn sơ lúc đầu, chúng tôi nghĩ đơn xin chỉ mất một vài tháng là được trả lời. Thế nhưng, bắt đầu nộp đơn năm 2004 và nhận được Giấy phép xây dựng năm 2006. Sự kéo dài như thế không chỉ làm tinh thần hăng hái lúc đầu của tôi cũng như của giáo dân sút giảm, nhưng còn gây thiệt hại về tài chánh rất nhiều. Vật giá không ổn định, vật liệu xây dựng liên tục đi lên. Như thế, chi phí để xây dựng cùng một ngôi Nhà thờ ở hai thời điểm cách nhau hai năm đương nhiên khác nhau xa! Ném lao phải theo lao vậy.

Trong tất cả mọi tình huống, tôi cố giữ sự bình tĩnh như không có gì xẩy ra. Ý thức là người chủ chốt điều hành và thực hiện công trình, nếu tôi tỏ thái độ nản chí, các cộng tác viên của tôi sẽ mất tinh thần, và giáo dân cũng thất vọng. Trong trường hợp xấu ấy, việc vận động tài chánh sẽ gặp khó khăn. Có lẽ không ai nhận ra tôi có tâm trạng thế nào khi trải qua một giai đoạn nhiêu khê như thế, dù đã có những người quen chạy việc giúp đỡ. Khi được mời lên Phường nhận Sổ chứng nhận chủ quyền, hôm đó tôi thấy ở Phường các nhân viên đông và bố trí Phòng làm việc khác thường. Các dãy bàn được sắp xếp theo hình chữ U, các nhân viên ngồi theo vị trí rất nghiêm túc và trật tự. Tôi có cảm tưởng có một cuộc cải tổ về hành chánh ở Phường, theo kiểu một cửa một dấu chăng. Sau khi đã trao các Sổ đỏ cho tôi, Anh cán bộ nhà đất đồng thời đưa cho tôi một quyển sổ khác và nói: “Xin linh mục cho biết cảm tưởng”. Tôi đã trả lời ngay: “Tôi xin đã hai năm nay mới được, cảm tưởng gì bây giờ?”. Thấy tôi chần chừ không muốn viết, Anh nói: “ Thôi linh mục không viết, để chúng tôi viết cho linh mục ký”. Sau khi họ viết xong, Anh cán bộ trao cho tôi ký. Tôi ký ngay mà không biết họ viết những gì trong đó, hình như họ tự khen mình thì phải. Dù sao ký nhận lời mèo khen mèo dài đuôi cũng không mất mát gì, trái lại còn làm mát lòng nhiều người nữa!

Từ khi được cấp Sổ đỏ chứng nhận chủ quyền đất, công việc tiến hành nhanh hơn xét về thời gian. Chính quyền Tỉnh Lâm Đồng và Thành phố Đà Lạt cũng đánh giá cao tính văn hóa và nghệ thuật của Nhà thờ Du Sinh nên cũng nhiều đắn đo. Có lẽ họ thấy rõ tình trạng xuống cấp của ngôi Nhà thờ cũ, và cũng may, Bản phác họa ngôi Nhà thờ mới do một kiến trúc sư đáng tin cậy và quen thuộc của họ, kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng (lúc tôi nhờ vẽ, Ông là Quyền Trưởng Phòng Giao thông công chánh, sau lên làm Chánh Văn Phòng của Thành phố). Bản vẽ phác của Ông Hùng dùng kèo sắt và lợp tôn. Từ ngày nhậm chức Chánh văn phòng, Ông bận rộn công việc nên không thể tiếp tục vẽ thiết kế. Chúng tôi nhờ Chị Phạm Thị Oanh thiết kế. Cuối cùng, tất cả đều nhất trí phê duyệt dự án của chúng tôi.

Những may mắn trong xây dựng Nhà thờ Du Sinh

Nhà thờ Du sinh là một trong những kiến trúc độc đáo của Thành phố du lịch Đà Lạt, đã được báo chí trong và ngoài nước nói đến nhiều, được đưa vào danh sách các điểm tham quan trong sách hướng dẫn du lịch tiếng Anh và tiếng Pháp, được giới thiệu trong tập san “Tiếp Thị Gia Đình” và cuốn “Hai Trăm Nhà Thờ Công Giáo Việt Nam”… Do đó, nói đến sửa chữa hoặc làm lại thì ai cũng ái ngại.

Năm 2004, dù Nhà thờ có kiến trúc lạ mắt, nhưng chất liệu xây dựng không bảo đảm lâu dài: Nhà thờ dài 44m, rộng 10m, trong lòng có hai hàng cột gỗ vuông, các cột gỗ thông dọc theo hai bên tường mối mọt ăn rỗng hết, nhưng không cách nào ngăn chặn được vì có lớp xi măng bọc bên ngoài. Nhận thấy không thể kéo dài lâu hơn nữa, giáo dân cùng với tôi họp lại và quyết định tiến hành xây dựng mới ngôi Nhà thờ. Trước hết phải làm bản phác họa ngôi Nhà thờ mới. Tôi đề ra một số gợi ý về ngôi Nhà thờ tương lai, vừa duy trì những nét độc đáo của ngôi Nhà thờ cũ, vừa thêm những cái mới, kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng phác họa bản thứ nhất, đưa về cho giáo dân góp ý chỉnh sửa, kiến trúc sư vẽ lại bản thứ hai. Sau khi giáo xứ họp lại lần nữa, tôi giải thích cho mọi người hiểu từng chi tiết một của ngôi Nhà thờ mới theo bản vẽ và ai nấy đều có thể hình dung trong trí hình ảnh ngôi Nhà thờ tương lai của Giáo xứ, tất cả đều nhất trí với bản vẽ.

Đức cha Phêrô lo lắng nhiều về việc xây dựng lại Nhà thờ Du Sinh này. Ngài đòi điều kiện phải có đủ một nửa kinh phí mới được phá ngôi Nhà thờ cũ! Để nhẹ tiền, dự kiến ban đầu, chúng tôi cứ cho xây phần bên dưới có hệ thống chịu lực để thay bằng mái ngói sau này, nhưng hiện tại chỉ tạm làm kèo sắt và lợp tôn. Sau một thời gian vận động cùng với số tiền tôi tích lũy từ trước, số tiền bấy giờ đã được 500.000.000 VNĐ. Với số tiền đó, cộng thêm số tiền dựa trên lời hứa của một số ân nhân khác, theo bản chiết tính, kinh phí sẽ là 3.200.000.000 VNĐ, nhưng vẫn phải coi như chỉ xây gọn lại hết 1.500.000.000 VNĐ thôi. Thế là chúng tôi được phép coi như gần đủ một nửa kinh phí.

Cuối cùng, nguyện vọng của chúng tôi cũng đã được toại nguyện. Vấn đề còn lại là tìm thêm kinh phí. Nhiều cuộc họp góp ý đã diễn ra. Khó khăn nhất trong lúc này là tìm kinh phí: kinh phí tại chỗ và kinh phí vận động ở xa, xa tít bên kia nửa trái đất…

Tài chánh

Các Thư ngỏ đã được gửi đi, nhiều đợt Thư ngỏ khác nhau tùy theo nội dung thông tin theo nhịp tiến độ thi công. Nhiều ân nhân ở xa hài lòng khi được thông tin đầy đủ giúp họ có thể theo dõi tiến độ của công trình. Giàu óc tưởng tượng, họ có thể hình dung ra ngôi Nhà thờ như thế nào vào từng thời điểm. Ở đây chỉ ghi lại lời kêu gọi đầu tiên:

 

Giáo phận Đà Lạt

Giáo hạt Đà Lạt

Giáo xứ Du Sinh

Xin Chúa chúc lành và gìn giữ anh chị em,

Xin Người ban cho anh chị em được bình an

 

LỜI KÊU GỌI HỖ TRỢ LÀM LẠI NHÀ THỜ DU SINH

 

Kính thưa quý vị ân nhân,

Nhà thờ Du Sinh, Đà Lạt, do Cha Thiên Phong Bửu Dưỡng xây dựng tạm năm 1955 cho một số anh chị em giáo dân thuộc nhiều họ đạo, nhiều Giáo phận khác nhau từ miền Bắc di cư vào.

Cha Thiên Phong Bửu Dưỡng là con cháu các vua triều Nguyễn. Sau thời gian tu chùa và đạt đến chức Sư Ông trong Phật giáo, cha gia nhập đạo Công giáo, vào Dòng Đa Minh và trở thành linh mục. Cha mơ ước xây dựng tại Du Sinh một ngôi Nhà thờ theo kiến trúc Á Đông, nhưng các Bề Trên thuyên chuyển, cha vâng lời đi nhận công tác mới quá sớm, giấc mơ của cha chưa thành. Ngôi Nhà thờ vẫn còn đó cho tới nay. Sau gần 50 năm, ngôi Nhà thờ này đã xuống cấp trầm trọng: Các cột gỗ mối mọt, tường nứt, móng hổng chân, mái tôn rỉ sét!!! Được sự nhất trí của Đức Giám Mục Giáo phận, chúng tôi tiến hành làm lại toàn diện.

Công trình vượt quá khả năng của anh chị em giáo dân Du Sinh.

Vậy xin quý ân nhân rộng tay trợ giúp.

Xin Chúa trả công bội hậu cho quý vị.

 

Đà Lạt, ngày 19 tháng 03 năm 2005

Ký tên

 

Lm Phaolô Đinh Huỳnh Hoa

Quản xứ


Các Thư sau thường để thông tin về tình hình hiện tại trong từng giai đoạn xây dựng, báo cáo kinh phí đã chi và kinh phí đang thiếu… Thư ngỏ được tung đi khắp nơi: các cha xứ và các Giáo xứ trong Giáo phận Đà Lạt, các Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh tại thế, các thân nhân và bạn hữu của cha xứ. Một số anh chị em Giáo dân xin Thư ngỏ để họ gửi cho bà con của mình. Tin tức về sự đón nhận lời kêu gọi rất lạc quan. Một số ân nhân ở Sài Gòn nói: “Nhà thờ này hay hay!”. Hay hay vì kiến trúc mái cong; hay hay vì do một linh mục xuất thân từ nhà Sư? Linh mục này lại là con cháu các vua chúa từng bách hại Đạo Công giáo! Và cứ thế người ta truyền tin cho nhau. Một số bà Phan Sinh Tại Thế ở Bảo Lộc trách: “Cha gửi Thư ngỏ ít quá, con phải phôtô thêm để phát cho người ta, con gửi cho Ông A, rồi Bà B, họ có lòng lắm, Nhà thờ nào họ cũng đóng góp rộng tay lắm! Khi nào họ điện cho cha, cha cứ nhận là cha gửi thư cho họ”. Và tôi đã theo lời chỉ dẫn của các bà, đành phải trả lời dối trá khi ai đó báo tin đã nhận được Thư ngỏ tôi gửi. Quả thật, những người nằm vùng mới biết ai là những người tốt bụng trong vùng mà chọn giùm cho tôi.

Giá được khởi công sớm hơn vài năm như dự kiến, công việc sẽ thuận lợi hơn, vì lúc ấy, ít Nhà thờ được xây dựng, mỗi khi nghe tin một Nhà thờ được phép xây dựng, bà con giáo dân trong Giáo phận cảm thấy phấn khởi hẳn lên. Do thủ tục kéo dài mất hai năm như đã trình bày trên đây, khi Nhà thờ Du Sinh được giấy phép xây dựng lại, trong Giáo phận Đà Lạt cũng có bốn Nhà thờ khác đã hoặc vừa được giấy phép xây dựng. Như vậy, năm Nhà thờ cùng lúc được thi công xây dựng trong cùng một Giáo phận, tình trạng bão hòa, sự ủng hộ của giáo dân phân tán, sự hưởng ứng không được nhiệt tình lắm. Các Giáo xứ tuy chúc mừng và sẵn sàng chia sẻ khó khăn với Giáo xứ Du Sinh, nhưng cũng chỉ đáp ứng trong giới hạn. Ngày Đặt Viên Đá đầu tiên, ngày 18 tháng 03 năm 2006, số người tham dự không đông lắm, đến nỗi có cha sau đó nghĩ rằng: “Chắc Nhà thờ Du Sinh oác rồi!”, nghĩa là thất bại to! Lý do vì cha thấy đặt Viên Đá xong, mọi sự lại im lìm, không thấy khởi công gì cả. Quả thật, sự chậm trễ khởi công khiến nhiều người ngạc nhiên. Chính Đức cha Phêrô trong một buổi tĩnh tâm Giáo hạt Đà Lạt đã lưu ý: “Không Nhà thờ nào tổ chức Đặt Viên Đá đầu tiên xong, lại để đó chờ kiếm tiền!”. Các ông trong Hội Đồng Giáo xứ trước những lời hỏi han trách móc của dân chúng cũng tỏ ra nóng ruột, đến thúc đẩy tôi cho khởi công để bà con khỏi thắc mắc. Rồi ngày ấy cũng đến, đó là ngày 15 tháng 04 năm 2006, gần một tháng sau ngày Đặt Viên Đá đầu tiên. Trong thời gian đó cuộc vận động vẫn được tiếp tục.

Hai bà cao tuổi gây ấn tượng nhiều cho tôi hơn cả: một bà xin giấu tên ủng hộ 10.000.000VNĐ và nói: “Điều này con mơ ước đã lâu, đây là số tiền con đã dành dụm được”. Bà thứ hai là bà Nỉ, một giáo dân Du Sinh, bà có con cái nhưng thích sống riêng một mình, ngày ngày ôm bó chổi đi bán dạo quanh các đường phố Đà Lạt. Một ngày kia, bà mang đến Nhà xứ, mở gói tiền ra, đếm rất kỹ từng tờ một trước mặt tôi và nói: “Đây con ủng hộ Nhà thờ mười triệu (10.000.000VNĐ). Con đếm đủ cả rồi đấy. Con đã tích trữ năm năm nay. Cha đếm lại coi có đủ chưa?”. Những gương quảng đại ấy tôi cũng đã sử dụng khi cần vận động thêm tiền. Hành vi của những người nghèo quảng đại ấy đánh động nhiều người.

Ân nhân lớn nhất cụ thể về vật chất trong việc xây dựng Nhà thờ Du Sinh mà Giáo xứ Du Sinh luôn nhớ ơn, đó là ông bà Quyền Chúc, Việt kiều Mỹ gốc Du Sinh. Ông bà ủng hộ tổng cộng 30.000USD (Ba chục ngàn đô), gửi làm ba đợt, có đợt do các Xơ Nữ Vương Hòa Bình Buônmathuột mang đến, có đợt các Xơ nhắn, tôi về Sài Gòn nhận và ôm trở về Đà Lạt ngay trong ngày.

Theo tôi biết, Ông Bà Quyền Chúc còn giúp nhiều nơi khác nữa. Ít lâu sau ngày hoàn thành Nhà thờ, ông bà về thăm và tỏ ra rất hài lòng khi nhìn thấy ngôi Nhà thờ mà ông bà đã góp phần xây dựng nên. Ông nói: “Chúng con đóng góp bao nhiêu đâu, phần nhỏ thôi. Thế mà cha làm ngôi Nhà thờ đẹp quá! Nếu ở bên Mỹ, cha xây ngôi Nhà thờ như thế này phải hết 6.000.000USD (Sáu triệu đô). Bên đó có cha mới xây một ngôi Nhà thờ nhỏ hơn Nhà thờ này mà hết 4.500.000USD” (Bốn triệu rưởi đô). Cùng một số tiền, xây ở Mỹ chỉ được một Nhà thờ, nhưng nếu xây ở Việt Nam được gần 20 Nhà thờ. Bà Chúc tâm sự: “Chúng con không có tiền, chúng con cũng chỉ gom góp lại thôi. Chúng con không tiêu xài mua sắm, không đi du lịch. Chúng con thích làm những việc như thế này đây”. Những việc ủng hộ tài chánh cho các công trình xây dựng Nhà thờ, nhà Dòng, nhà nuôi giữ trẻ mồ côi, khuyết tật… là niềm vui của hai ông bà.

Ân nhân lớn thứ hai, đó là Tổ chức “Trung tâm truyền giáo trung ương của các Tỉnh Dòng Phan Sinh Đức” qua giới thiệu của Cha Phi Khanh Vương Đình Khởi lúc đang là Giám Tỉnh Dòng Phan Sinh Việt Nam. Nhà thờ Du Sinh được họ cho 20.000USD (Hai chục ngàn đô), đúng như đơn xin, chia làm hai đợt. Số tiền này gửi qua Ngân Hàng Ngoại Thương, nên phải khấu trừ chi phí dịch vụ. Các cơ quan làm việc nghiêm túc và khoa học, và họ theo dõi sát công trình mà họ đóng góp tài trợ. Hồ sơ thủ tục họ đòi hỏi rất nhiều và rất chi tiết. Tôi phải đáp ứng, gửi qua gửi lại nhiều giấy tờ đúng như họ đòi hỏi. Sau khi hoàn thành công trình, phải báo cáo lại cho họ đầy đủ mọi thứ, và hồ sơ họ đòi hỏi phải lưu giữ hết 10 năm, đề phòng Chính phủ Đức kiểm tra đánh thuế! Vất vả và kiên nhẫn, nhưng cuối cùng vì lợi ích Giáo xứ và vì nhu cầu cấp bách, mọi sự rồi cũng qua, tuy không được thoải mái lắm so với việc đón nhận tiền dâng cúng của các cá thể!

Số tiền lớn thứ ba đến từ miếng đất sau khi đã giải tỏa được đống đá. Miếng đất này nằm sau nhà ông Vượng và ông Trung. Đó là một đống đá ngổn ngang, một bãi đổ rác bỏ hoang suốt mấy chục năm nay, cây ngũ sắc mọc um tùm. Nghe nói xưa cha Bửu Dưỡng có đặt một bức tượng Thương Khó ở đó. Bức tượng đã được cất đi hồi nào và hiện nay ở đâu không ai biết. Nhưng ai ai cũng nói đó là đất của Giáo xứ. Trong thời gian chuẩn bị xây dựng, chúng tôi đã cho người đến chẻ các khối đá ấy. Lượng đá chẻ ra khoảng 50.000 viên, kinh phí công thợ chẻ 70.000.000VNĐ. Số đá này xe chuyển về chất đống trên bãi đất trống trong khuôn viên Nhà thờ, dự kiến sẽ dùng để xây các bức tường chung quanh phòng trệt của ngôi Nhà thờ mới. Sau khi di dời hết đá, miếng đất mới xuất hiện, sạch sẽ và khá rộng, khoảng 250m2. Như thế, nó có thể là mặt bằng cho một ngôi nhà mới. Quả thế, nhu cầu đất đai và nhà cửa ở Du Sinh khá cao. Nhiều gia đình chưa có đất làm nhà. Nhiều người nhắm miếng đất trên và thăm dò, nhưng hầu hết không đủ khả năng để mua. Người cuối cùng mua được đó là cô Hồng Bà Hinh. Với giá 300.000.000VNĐ, chúng tôi đều nhất trí trao đổi. Từ một bãi rác hoang, số tiền thu lại cũng là một nguồn tài chánh khá lớn cho Nhà thờ.

Gặp Thánh Giuse, tôi nói: “Ngôi Nhà thờ này mang danh Ngài đấy, Ngài lo lấy”. Gặp Đức Mẹ, tôi đã thưa: “Ngôi Nhà thờ dâng kính Thánh Giuse, chồng Mẹ đấy. Mẹ hãy lo cho chồng Mẹ đi!”. Và, tuy không rõ rệt hiển nhiên, nhưng cuối cùng, chuyện xảy ra như một phép lạ. Các ân nhân từ khắp nơi gửi về, khi một vài ngàn đô la, khi vài ba chục triệu đồng Việt Nam. Chúng ta tưởng nhớ hai vị cao tuổi đáng kính của Giáo xứ đã lìa bỏ thế gian trong giai đoạn này. Hai vị khi còn sống rất tha thiết với việc xây lại Nhà thờ. Thời gian đầu mới thi công, hai vị vẫn thường xuyên chống gậy lên đi lại vòng quanh Nhà thờ nhìn ngắm công trình và động viên anh em. Cụ Đaminh Phạm Văn Ngọc là người đã từng làm Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ Du Sinh nhiều khóa liên tiếp (khoảng 20 năm thời cha Phaolô Hồ làm Quản xứ). Cụ thúc giục con cái cháu chắt cố gắng đóng góp vào Nhà thờ. Vị thứ hai, đó là Ông Cố Phêrô Nguyễn Sinh, người luôn sẵn sàng dùng khả năng thợ mộc, thợ xây của mình để giúp Giáo xứ khi cần. Khi Ông Cố qua đời, gia đình đã dâng vào Nhà thờ tất cả số tiền phúng điếu trong đám tang Ông Cố (24.000.000VNĐ). Ngoài ra, ông Cảnh nhiều lần trực tiếp bỏ tiền riêng thanh toán một số tiền hàng cho Nhà thờ mà không cho biết để ghi sổ.

Tất cả tiền ân nhân gửi về tôi nắm giữ, thỉnh thoảng gửi qua Thủ quĩ của Giáo xứ một số để mua sắm và chi tiêu bất thường, hoặc khi tôi đi vắng. Có khi tôi có trong nhà vài trăm triệu đồng, có ngày chỉ còn mấy chục triệu. Có đó rồi lại hết đó. Nay có nhưng mai đã không còn. Vì thế, các ông trong Hội đồng Giáo xứ cũng không biết hiện tôi có bao nhiêu tiền. Tôi chỉ cho biết là còn hay hết, còn ít hay còn khá. Sở dĩ thế, không phải vì muốn giấu giếm gì, nhưng vì để bảo đảm công trình tiến hành theo thứ tự ưu tiên. Do không có sẵn tiền nên không dám làm trọn gói một lần.

Có đến đâu làm đến đó, nên phải tính toán sao cho phần trụ cột và mái được bảo đảm đã, các phần khác như tường, gạch nền, từ từ làm sau cũng không sao. Không biết tôi còn bao nhiêu tiền, không ai dám quyết định mua vật liệu với một số tiền lớn, và khi cần mua, họ sẽ đến hỏi ý kiến tôi, tôi có thể quyết định chi hay không chi trong từng thời điểm đó. Tiền ra, tiền vào đều được ghi đầy đủ vào sổ để sau này bàn giao minh bạch. Những ân nhân muốn giấu tên, tôi ghi trong sổ là Vô danh và số tiền ủng hộ. Các khoản chi lớn đến dồn dập cũng đủ để chủ đầu tư phải lo lắng. Ngói về, kêu thêm sắt, thiếu 300 bao xi măng… là những tiếng báo đều đều trong thời gian xây dựng.

Nhiều người khác luôn sẵn sàng khi Nhà thờ cần đến. Dù bận lo kinh tế gia đình, khi được gọi, họ lên Nhà thờ đáp ứng ngay: Các anh Hòa, anh Hải lo tất cả những gì liên quan đến dây điện và ánh sáng. Cần nước, có ông Thảo và ông Trung. Khi thiếu ống nước hay trục trặc máy bơm, anh Tráng mau mắn ra tay đáp cứu. Khi cần xe chở hàng, anh Sinh và anh Tài đưa xe nhà lên. Anh Sinh còn thỉnh thoảng cung cấp miễn phí gà vịt bồi dưỡng (Anh Sinh vừa là Chủ Trại gà lớn, vừa là nhà thu gom gà vịt khắp nơi để cung cấp cho những nơi cần). Khi có công tác cấp bách, không điều động giáo dân kịp, các Thầy trong Dòng Phanxicô lên hỗ trợ. Xe kéo của Thầy Hồ Tùng Mậu cũng giúp được nhiều việc.

Điều lạ, mỗi lần Đại lý vật liệu xây dựng đến đòi thanh toán, tôi luôn thanh toán đủ. Mỗi lần chủ thầu xin tiền trả cho thợ, tôi luôn đáp ứng đủ, khi vài trăm triệu, khi khác bảy tám chục triệu. Cứ gom góp lần hồi như thế, số tiền chi cho toàn bộ công trình vẫn đủ 3.700.000.000VNĐ (ba tỷ, bảy trăm triệu), kể cả sửa lại Cổng Tam Quan, làm thêm Đài Thánh Tâm, xây các talus chống lở đất, lát đá rộng 4m quanh Nhà thờ, và thuê trồng 7.500m2 cỏ trong khuôn viên Nhà thờ, giá hữu nghị (70.000.000VNĐ).

Thực tế, chi phí chắc chắn sẽ cao hơn, nếu mọi thứ đều làm đúng bài bản, từ bản vẽ đến các chuyên viên như giám sát công trình, chuyên viên kỹ thuật hoặc mướn Công ty. Ông Thanh, chủ đầu tư xây dựng là giáo dân trong Giáo xứ. Ông cùng vợ nhất trí không lấy lời Nhà thờ, chỉ lấy đủ tiền trả cho công nhân mà thôi. Ông đã hết tình và tận dụng mọi phương tiện để hoàn tất công trình, tránh được tiếng ra tiếng vào, vì gia đình còn sống lâu dài trong Giáo xứ, con cái đang học Giáo lý trong Giáo xứ. Ông muốn tránh mọi nguyên do dẫn đến tình trạng không hay, trái lại ông cố gắng tạo được uy tín và lòng mộ mến của bà con giáo dân Du Sinh. Điều này, ông đã đạt được, và cũng nhờ đó, chi phí Nhà thờ cũng nhẹ đi một phần khá lớn so với giá cả khi cho Công ty thầu. Hình như từ sau khi xây dựng và khánh thành Nhà thờ Du Sinh, số người chạy đến với ông nhiều hẳn lên. Các công trình ông thầu làm không kịp?

Trước khi cho thi công, tôi và Hội đồng Giáo xứ đã đi thăm dò, khảo sát nhiều Nhà thờ đang xây dựng: Nhà thờ Minh giáo, Nhà thờ Thiện Lâm, Nhà thờ Tùng Lâm, Nhà thờ Chi Lăng, Nhà thờ Liên Khương, Nhà thờ Kim Phát, một số Nhà thờ ở Phan Thiết… Chúng tôi quyết định không cho Công ty thầu xây dựng, với lý do không bảo đảm kinh phí để Công ty có thể thi công liên tục, thực tế vì tốn kém hơn và các công trình Công ty thi công thường không đạt yêu cầu, qua nhận xét và đánh giá của chúng tôi. Đối với ông Thanh, chúng tôi cũng dự kiến trước: có thể phải thi công bốn hoặc năm giai đoạn. Hết tiền thì nghỉ; khi có thêm tiền sẽ khởi công lại. Thời gian có thể kéo dài bốn hoặc năm năm. Ông Thanh đồng ý: “Khi nào cần nghỉ, cha cứ báo, con cho thợ nghỉ; khi nào cha kêu, chúng con lại tới”.

Nhờ ơn Chúa, Đức Mẹ và thánh cả Giuse, công trình được thực hiện liên tục trong một giai đoạn duy nhất và chỉ kéo dài trong một năm. Sau khi đặt tiền cọc xi măng và sắt chưa được một tuần, giá sắt đã nhảy lên một giá, và còn tiếp tục nhảy giá thêm nhiều đợt khác nữa! Nhà thờ càng biểu lộ rõ hình dạng, tinh thần ủng hộ càng phấn chấn. Mỗi lần có người lạ mặt thăm dò: “Làm Nhà thờ tốn kém như thế, số tiền đóng góp nhiều như thế! Ông bà thấy thế nào?”. Mọi người đều trả lời giống nhau: “Nhà thờ là nhà chung, mỗi người đều phải đóng góp, đó là bổn phận đương nhiên. Đóng góp tự nguyện chứ không ai bắt buộc cả”. Nghe nói thế, không ai còn thắc mắc.

Cũng nhờ các ân nhân ủng hộ tài chánh kịp thời, hình dạng mái Nhà thờ được điều chỉnh lại. Theo nguyện vọng của Giáo quyền cũng như Chính quyền Thành phố du lịch, chúng tôi quyết định chấp nhận tốn kém hơn để thay giàn kèo sắt bằng kèo đúc, và thay tôn bằng mái ngói Đồng Tâm(công nghệ Italia). Tôi cũng chiều theo ý của dư luận dân chúng, cho lợp mái Nhà thờ màu đỏ thay vì màu xanh như ngói Tháp chuông. Bốn dãy bàn quỳ trong Nhà thờ và bộ cửa đều được làm mới (gỗ sao, chi hết 260.000.000VNĐ). Riêng cánh cửa lớn cuối Nhà thờ gỗ căm xe (13.500.000VNĐ). Đá lát Cung thánh, nền Nhà thờ, hành lang và Phòng trệt đều thuộc loại chất lượng cao. Hệ thống chống sét, theo giới thiệu, hàng nhập của Pháp, loại tốt nhất ở Việt Nam hiện nay, giá 32.000.000VNĐ (Ba mươi hai triệu đồng). Kết cuộc, ai cũng nhìn nhận: Nhà thờ vừa chắc, vừa đẹp, vừa nhanh! Quả vậy, nếu khởi công chậm thêm ít tháng nữa, với đà nhảy vọt liên tục của giá vật liệu xây dựng, không biết Nhà thờ Du Sinh sẽ phải gác lại đến lúc nào? Chỉ sau một năm, giá vật liệu xây dựng đã nhảy vọt lên gần gấp đôi!

Tảng đá may mắn

Ngày bắt đầu hạ Nhà thờ cũ thật hồ hởi. Bà con giáo dân tập trung đông đúc. Các ông các anh thanh niên leo lên mái dỡ tôn, tháo dây điện, các loa âm thanh và bóng đèn. Các bà phía dưới chuyển tôn ra ngoài hoặc khiêng về vị trí trên sân Nhà xứ, nơi được nhắm làm ngôi Nhà thờ tạm để cử hành Phụmg vụ trong thời gian chờ có Nhà thờ mới. Khi đã tháo dỡ tất cả những gì có thể tháo được, xe cơ giới bắt đầu hạ các bức tường gạch quanh Nhà thờ. Các cột gỗ mục đổ xuống phần lớn văng tung tóe hoặc gãy khúc, các bức tường không có chút sắt nào nâng đỡ nên cũng nằm xuống nhẹ nhàng. Trong một buổi sáng, không còn viên gạch nào chồng trên viên gạch nào. Một số bà con tháo dỡ các kèo gỗ, những đoạn còn dùng được cho tập trung về một chỗ, khúc nào hư hỏng, bà con chuyển ra đống củi. Số đông còn lại chỉ cần đứng ngắm nhìn xe cơ giới làm việc, chứng kiến cảnh tường và cột đổ xuống rào rào dễ dàng không ngờ như thế, nhiều người xít xoa: “Nhà thờ như vậy mà may nó không đổ nhỉ?” Buổi chiều, công việc hoàn toàn phó thác cho xe múc và xe tải chuyển xà bần ra khỏi khu vực. Như vậy, vỏn vẹn trong một ngày đầu tiên, ngôi Nhà thờ cũ đã biến mất, không còn vết tích nào!

Số đá chẻ 50.000 viên tôi thuê đục và cho chuyển về bãi đất trống trong khuôn viên Nhà thờ, dự kiến sẽ được dùng để xây lớp tường ngoài phòng trệt. Phòng này là phần chính của giáo dân trong ngôi Nhà thờ cũ, nhưng bị rút ngắn hơn do Nhà thờ mới tách ra khỏi Tháp chuông, chứ không để dính liền Tháp như trước nữa. Tận dụng địa thế để có thêm phòng sinh hoạt rộng rãi này, phòng trệt rộng gần 500m2. Giải pháp cho phòng trệt âm sâu xuống được ưu điểm, đó là hai Tháp phụ và nóc Nhà thờ mới cũng hạ thấp theo, như thế chúng sẽ không vượt cao hơn ngọn Tháp chính, ngọn Tháp cũ cố định chưa có kế hoạch nâng lên. Giải pháp này bị bác bỏ, lý do lấy đất sâu xuống nữa vừa tốn kém, vừa có nguy cơ sau này, phòng sẽ bị ẩm ướt. Giải pháp được chọn, đó là gạt bớt nền Nhà thờ cũ để nền phòng trệt ngang với mặt bằng đất bên ngoài, đổ mê bê tông phần trên phòng trệt, mê này được nối với phần đất chắc còn lại (Cung thánh cũ) làm nên phần dành cho giáo dân trong ngôi Nhà thờ mới. Múc thêm đất talus về phía sân Nhà xứ để làm cung thánh…Với chọn lựa này, đành phải chấp nhận hai Tháp phụ vươn cao hơn Tháp chính. Mái Nhà thờ cũ chỉ cao ngang mái thứ hai Tháp chính, bây giờ mái mới cao ngang ngọn cây thánh giá trên đỉnh Tháp. Để cân đối, một ngày nào đó, nếu đủ điều kiện, Giáo xứ sẽ cho nâng Tháp chính cao lên thêm ba hoặc bốn mét nữa.

Ông Đỗ Huy Cường được cử làm Giám sát công trình, chủ yếu là đại diện Giáo xứ coi ngó và đốc thúc công việc. Ông cũng quen biết ít nhiều về xây dựng, nhất là có sự cố vấn của hai cậu ấm là kiến trúc sư và kỹ sư trong nhà, ông có thể đóng góp thêm nhiều ý kiến. Số đá chẻ tích lũy thuộc loại đá da hổ, nhiều hạt lớn lồi lõm, cứng chắc nhưng xấu. Ông Cường không bằng lòng cho dùng đá này để xây tường. Ông đề nghị tôi bán số đá ấy đi, mua loại đá đẹp về xây. Với số tiền hạn hẹp, nếu thay đá đẹp hơn ắt sẽ tốn kém hơn, tôi quyết định cứ xây bằng số đá hiện có. Ông Cường tỏ vẻ không hài lòng! Khi xe múc nền Nhà thờ cũ đi, một khối đá khổng lồ nhô lên, khối đá này là một tảng duy nhất chạy dài và nằm ngay trên vị trí ba cây cột của Nhà thờ mới. Ai nấy lo lắng, coi đó như một khối đá cản đường xây dựng! Phải dùng đến mìn mới phá được khối đá ấy, nhưng trong thành phố, không ai cho phép nổ mìn.

Gọi thợ đá đến phá thử, suốt gần một buổi sáng, mọi người ngong ngóng chờ đợi. Tới gần trưa, một hàng dài nêm sắt đã được đặt vào hàng lỗ thợ đá đã gò trong buổi sáng. Những nhát búa tạ vung lên, hạ xuống. Cuối cùng, một mảng đã được tách ra. Thợ đá reo lên: “Chẻ được, chẻ được!” Mọi người vui mừng. Ngày hôm sau, khoảng mười thợ đục đá được huy động tới. Họ phải mất hai tuần mới giải quyết xong khối đá, chẻ ra từng khối cỡ bằng cái bàn, chẻ được khối nào, xe cẩu múc lên xe tải chuyển ra ngoài ngay khối đó. Đá chuyển ra chất thành hai đống như hai ngọn núi, một đống bên hang đá Lộ Đức, một đống bên phía Đài Thánh Tâm. Về sau, những khối đá này được đục ra thành những viên đá đôi (đá chẻ kích thước 40x20), tổng cộng trên 16.000 viên, đủ để xây lớp ngoài phòng trệt, lát chung quanh Nhà thờ rộng 4m. Khối đá này thuộc loại đá đẹp, đá da lươn, mặt trơn hơn so với đá da hổ. Không chỉ ông Cường, mà mọi người Du Sinh đều hài lòng, coi đó như của Cha Bửu Dưỡng để lại. Có lần kia, một bà giáo dân Du Sinh kể lại rằng: “Bà đi sau hai anh Công an khu vực đang đi trên địa bàn Du Sinh, một anh nói với anh kia: ‘Ông cha này có lộc, ổng cần đá làm Nhà thờ, bươi đất lên là có sẵn đống đá ở đó.’”

Những cơn mưa đúng lúc

Thành phố Đà Lạt có những thời điểm thiếu nước sinh hoạt, nhất là những mùa khách lên đông. Riêng đồi Du Sinh, đỉnh cao nhất trong Thành phố, cao hơn hồ nước chứa ở Tùng Lâm. Nước Thành phố chỉ lên được những hộ ở lưng chừng đồi. Khi các hộ trên đỉnh đồi xin cho đưa nước Thành phố về, nhà máy nước cho biết họ là một tổ chức kinh doanh, không có vấn đề hỗ trợ, đóng đủ tiền họ sẽ cho nước về. Bà con chung sức đóng góp đủ 60.000.000VNĐ theo yêu cầu. Nhân viên cho dẫn nước về tới lưng chừng đồi, bà con xây bể chứa, đặt môtơ, thường sáng và chiều môtơ vợi nước lên bể Nhà xứ, rồi từ đó nước đổ về các hộ dân. Bà con vui mừng khi được hưởng nước sạch của Thành phố, vì suốt từ năm 1955 đến nay, họ phải sử dụng nước ô nhiễm từ hồ Hy Vọng bơm lên. Hồ này ở dưới chân đồi, nước tù đọng, chung quanh bà con làm vườn, thả bò, mỗi khi mưa, nước mưa trên đường tràn xuống… Thậm chí, có cô nàng nơi khác về làm dâu Du Sinh, mỗi lần đụng đến nước ấy đều ói mửa, bắt chồng phải đi kiếm từng bình nước sạch chở về cho cô uống... Tuy nhiên, nước mới không phải lúc nào cũng có, khi không có nước bà con kêu, lý do luôn là nước yếu không lên đến nơi. Ở cao cũng có khi khổ!

Đầu mùa mưa cho thi công là tốt hơn cả. Đầu mùa, mưa cơn chứ không mưa tầm tã kéo dài ngày này qua ngày khác. Thợ vẫn có thể làm việc bình thường. Mùa mưa, nhà xứ có bể chứa lớn, tích trữ nhiều nước, đủ sử dụng cho nhiều ngày liền, không lệ thuộc nguồn nước của Thành phố.

Ngày Đặt Viên Đá đầu tiên là một ngày đẹp trời, trời nắng đến nỗi dãy nhà mái che chỉ phần chính giữa nâng mái cao, khách có thể ngồi lại được; còn hai cánh che bạt thấp quá, ngồi trong đó chịu không nổi, bà con chạy ra núp bóng các lùm cây bên ngoài để tham dự các nghi thức, một đám đông tụ dưới tán cây bạch đàn, một đám khác núp bóng mấy cây thông. Mặt bằng hoàn toàn trống, chỉ có đất và đất. Viên Đá đầu tiên được đặt xuống giữa bãi đất trống ấy, ở phần đất làm Cung thánh sau này. Viên Đá đầu tiên hiện được đặt nằm dưới nền Cung thánh, ngay phía trước Bàn thờ.

Không mấy Nhà thờ, thậm chí chưa có Nhà thờ nào cho đặt Viên Đá đầu tiên như Du Sinh, thường các Nhà thờ khác đã xây xong phần móng, nhiều Nhà thờ còn vừa xong phần móng vừa đúc đủ các hàng cột cao lên tới mái, khi ấy họ mới tổ chức đặt Viên Đá đầu tiên, Viên Đá gọi là đầu tiên ấy được đặt sau hàng chục ngàn viên đá khác. Về sau, Đức cha Phêrô đã có lần nói: “Chỉ có một Nhà thờ đặt Viên Đá đầu tiên đúng nghĩa!” Chắc chắn, đó là Nhà thờ Du Sinh.

Khoảng một tháng sau khi Viên Đá đầu tiên được đặt xuống, công việc được tiến hành ráo riết. Các cột sắt được dựng lên, bê tông được đổ đầy. Nơi khối đá khổng lồ đã được bứng đi, hố để lại quá sâu, ba cột bê tông ở đó nằm sâu hơn các cột khác vài ba mét. Chân cột nằm gọn trong khối bê tông kiên cố, các cột được kết nối giằng với nhau ngang cũng như dọc. Mê đầu tiên, đó là trần của phòng trệt, đồng thời mặt trên là một nửa của phần dành cho giáo dân trong ngôi Nhà thờ mới. Mê này đòi hỏi trên 60 khối bê tông. Sáng kiến của các ông bà trong Hội đồng Giáo xứ, đó là trải một lớp bạt ni lông dưới lớp thép. Lúc đầu tôi thấy như thế là lãng phí và thêm tốn kém, nhưng tôi vẫn chấp thuận. Về sau, tôi mới biết sự tốn kém vì số bạt ấy không đáng kể so với ích lợi của chúng: nhờ lớp ni lông ấy, không chút xi măng nào theo nước lọt xuống đất qua các kẽ hở của lớp ván và tôn chống đỡ phía dưới.

Lúc bấy giờ ở Đà Lạt có những nhóm đổ bê tông khác nhau. Họ thường là những thanh niên khỏe mạnh từ phía Bắc vào. Họ chuyên đổ bê tông mà thôi. Nhà nào cần đổ bê tông, họ sẵn sàng đáp ứng. Nhóm đổ bê tông cho Nhà thờ Du Sinh là nhóm những người Thái, gốc Nghệ An. Các cối trộn bê tông quay liên tục, mỗi cối hai người đổ đá, hai người đổ cát, một người đổ nước, một số khác đẩy xe chuyển đến vị trí đổ. Có anh đẩy xe lớn, chứa trọn cả một khối bê tông. So với xe bồn bê tông trộn sẵn, cách làm này còn mang tính thủ công. Nhưng do địa thế, do công việc nhất định, đó cũng là cách có nhiều ưu thế, bảo đảm chất lượng, dễ kiểm tra tại chỗ, và phù hợp để tiến độ nhịp nhàng ăn khớp với các nhóm công nhân khác, thợ sắt, thợ gõ, thọc cây hay cho máy sục rung bê tông. Bê tông làm kỹ, không khuyết chỗ nào, bảo đảm chất lượng…

Việc đổ bê tông là việc nặng nhất và mệt nhất, không cho phép ngưng nghỉ. Các công nhân làm việc khẩn trương và liên tục từ sáng sớm đến tối, mê đầu tiên của Nhà thờ Du Sinh đã hoàn tất. Hôm ấy trời tốt, sáng hơi nắng, chiều trời mát, chỉ phải tưới nhẹ vùng bê tông đổ ban sáng. Theo nguyên tắc, bê tông phải tưới liên tục để giữ ướt suốt ba tuần lễ mới tốt. Xét thấy hoàn cảnh Du Sinh, tình trạng nước nôi trên đỉnh đồi cao, Chúa và Đức Mẹ bắt đầu ra tay. Sáng hôm sau, một cơn mưa bão đổ xuống, bê tông luôn ngập nước cho đến ba tuần lễ sau mưa mới ngưng. Mặt trên luôn ngập nước như thế, nhưng phía dưới không giọt nước nào lọt xuống, nguyên do như đã nói trên, nhờ trải ni lông, một lớp xi măng mỏng tụ lại dưới lớp bê tông, trám kín các kẽ hở của sàn bê tông. Ai nấy vui mừng, bê tông không bị hốc, không tốn nước, không tốn công tưới. Thời gian mưa, công nhân tranh thủ làm sắt dưới mái che.

Các cột được nối lên dần. Mê thứ hai đến lượt. Mê này là Tầng đàn và Ca đoàn, Tầng trên của Phòng thánh, Tầng trần của hành lang chạy quanh Nhà thờ, dưới các mái phụ (Nhà thờ hai mái)… đòi hỏi trên 90 khối bê tông. Thợ chính đổ bê tông vẫn là nhóm người Thái, lần này được tăng cường đông hơn. Công việc được bắt đầu sớm hơn, và hoàn tất cũng muộn hơn. Tất cả đều diễn ra hài hòa như đợt đổ bê tông trước, khoảng chiều tối mưa lất phất, tám giờ tối đổ xong, phần bê tông cuối cùng mới đổ chưa ráo nước phải che bạt! Và từ đó, sự may mắn diễn lại. Sáng hôm sau, mưa lại đổ xuống liên tục và tầm tã, lần này trận mưa cũng kéo dài đúng ba tuần. Đó là thời gian bắt buộc phải tưới liên tục để bảo đảm chất lượng của bê tông.

Những trùng hợp như thế xưa nay hiếm, nhất là những trùng hợp đầy may mắn liên tục nhiều lần trong suốt một năm thi công. Tin đồn được truyền đi, Nhà thờ Du Sinh có nhiều phép lạ! Thế là nhiều người chú ý đến Nhà thờ Du Sinh hơn. Mưa nắng là việc của trời đất, của thiên nhiên. Tứ thời bát tiết hoặc ít thời ít tiết hơn tùy khu vực. Nhưng đối với những người có đức tin, đặc biệt những giáo dân Du Sinh là những chứng nhân trực tiếp về các hiện tượng thiên nhiên ấy, họ cảm nhận được ân phúc dành cho họ, họ cảm nhận một điều: thiên nhiên không phải là hiện tượng khách quan, mù quáng, may rủi. Đàng sau thiên nhiên và trên thiên nhiên, Thiên Chúa vẫn là Chủ. Người là Đấng Tạo Hóa, Người là Chủ Tể trời đất, Người là Đấng Quan Phòng, Người tốt lành, Người quan tâm đến chúng ta là con cái. Người điều khiển vận hành của vũ trụ.

Sau những cảm nghiệm về tình yêu thương Chúa dành cho Du Sinh qua những ưu đãi của thiên nhiên, qua các ân nhân, giáo dân Du Sinh thêm lòng tin tưởng. Giáo dân Du Sinh luôn ghi nhớ với tâm tình biết ơn đối với Chúa và ân nhân, trong đời sống cầu nguyện, trong mối quan tâm nhiều hơn đối với những Giáo xứ nghèo chưa có nơi thờ phượng xứng đáng.

Ngày Cung Hiến vui tươi

cunghien_gxdusinh_16052007_01Ngày 16-05-2007 đã được chọn để tổ chức lễ Cung Hiến Nhà thờ Du Sinh. Đức cha Phêrô đã nhất trí, Thiệp mời đã được gửi đến các cha xứ và các Giáo xứ trong Giáo phận, các ân nhân trong và ngoài Giáo phận. Nhiều người ngạc nhiên: Nhà thờ mới đặt Viên Đá sao nhanh thế? Có người bà con tôi ở Bình Giả, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu còn nghĩ: “Cha bôi hay sao đấy chứ, làm gì mới có một năm mà đã xong!” Có cha hoài nghi nên đến tận nơi quan sát. Chỉ còn hai tuần nữa cung hiến, công việc còn nhiều, địa bàn còn ngổn ngang! Khó mà kịp! Nhưng chỉ trong hai tuần ấy, bà con Du Sinh dốc toàn lực để hoàn tất công trình và để tổ chức lễ đúng ngày như dự kiến. Số người tình nguyện đi làm công tác đông đảo hơn hẳn. Họ nhiệt tình hăng hái cho việc chung, việc của Giáo xứ. Ai cũng có chung một ý nghĩ rất chính xác rằng: “Bỏ vào Nhà thờ, làm cho Chúa không có mất. Bỏ công bỏ của vào Nhà thờ giống như gửi tiền vào Ngân hàng vậy”. Sau ngày Cung Hiến, vị cha xứ nói trên phải công nhận: “Hai tuần trước tôi đến thấy tình trạng như thế làm sao kịp để tổ chức Lễ Cung Hiến? Vậy mà, cuối cùng mọi sự đâu vào đấy!”

  Về tổ chức, nếu được chỉ đạo tốt, bà con giáo dân Du Sinh rất có thiện chí và lòng hy sinh. Tuy không đồng đều, nhưng số người có ý thức cộng đồng và có tài năng không thiếu. Nhờ đó, các cuộc tổ chức lễ lớn tại Nhà thờ Du Sinh thường kết quả tốt và gây nhiều ấn tượng đối với khách ngoài.

Mưa liên tục đêm ngày, ngày này qua ngày khác. Bầu trời Đà Lạt mây đen nghịt. Một tuần trước Lễ Cung Hiến, tin áp thấp nhiệt đới vẫn không có gì sáng sủa. Công tác chuẩn bị khó khăn, nhưng điều đáng lo lắng hơn cả, đó là nếu trời mưa, cuộc lễ mất vui, khách sẽ không đến hoặc đến ít. Chung quanh Nhà thờ nước tràn lan, đất lầy lội, bùn dơ dáy! Bà con Du Sinh nhìn nhau ngơ ngác. Họ hỏi nhau: “Trời cứ mưa thế này làm sao đây? Hay là hoãn ngày lại?” Thiệp mời đã được tung đi khắp nơi rồi, không cách gì thu hồi lại được. Không thể nào hoãn Ngày Cung Hiến được. Nhất định phải tiến hành đúng dự kiến. Chỉ còn cách thứ hai, đó là cầu nguyện. Và chắc chắn Cha xứ và bà con giáo dân Du Sinh đã cầu nguyện nhiều trong những ngày hồi hộp ấy. Hai ngày trước lễ, trời vẫn mưa, vẫn tối âm u!

Bỗng nhiên, ngày áp lễ, trời bừng sáng, rồi nắng lên. Một ngày tuyệt vời, trời đất thay đổi. Chung quanh Nhà thờ ráo nước, các con đường đã đủ khô. Ngày 16-05-2007, NGÀY LỄ CUNG HIẾN NHÀ THỜ DU SINH, khách các nơi ùn ùn kéo đến, từng đoàn từng đoàn người xuống xe, Kinh cũng như Thượng, khuôn mặt hân hoan. Họ đến từ các Giáo xứ gần hoặc xa trong Tỉnh Lâm Đồng, Giáo phận Đà Lạt. Họ đến từ các Tỉnh xa xôi khác như Khánh Hòa, Sài Gòn, Bà Rịa-Vũng Tàu… Lạ hay quen, tất cả đều hòa nhập vào niềm vui chung của Ngày Cung Hiến Nhà Chúa, không phải chỉ là Nhà thờ của Giáo xứ Du Sinh mà họ đến chia sẻ niềm vui và tâm tình cảm tạ. Đối với họ, một ngôi Nhà thờ mới, một nơi thờ phượng mới, đó là một hồng ân quí báu cho Giáo Hội, cho chính họ. Họ lần lượt thực hiện những cuộc dạo quanh quan sát, ngắm nghía, vào phòng trệt, lên Nhà thờ, ngắm nghía các hàng cột cây trúc, các ảnh tượng mới do Thầy Quang Vinh, Dòng Phan Sinh và và bốn bạn khác của Trường Đại học Mỹ thuật Sài Gòn thực hiện. Ông Bà Trợ ủng hộ ba tượng lớn trên Cung Thánh, mỗi tượng cao 2,5m (24.000.000VNĐ). Ông Bà Cường Huệ ủng hộ bộ Chặng đàng Thánh giá (35.000.000VNĐ). Gia đình Bà Hinh ủng hộ Bàn Thờ cẩm thạch trắng từ Thanh Hóa chuyển vào (24.000.000VNĐ). Công tác chuyển thủ công Bàn thờ này từ xe vào vị trí quả là một kỳ công. Khi vận động 50 người trẻ lên Nhà thờ làm công tác, ai cũng thắc mắc: “Bàn thờ gì mà phải dùng tới 50 người khiêng?” Ấy thế mà khi vào việc, ai cũng nhận thấy đúng như dự kiến. Đòn ngang, đòn dọc, người đứng san sát nhau quanh Bàn thờ, khiêng tay một đoạn đường vài chục mét, bước đi cẩn thận tối đa, thời gian cũng phải hết trên 30 phút. Đặt xong Bàn thờ vào vị trí, mọi người thở phào nhẹ nhõm, không ngờ Bàn thờ nặng như thế. Đá hoa cương tím Mông Cổ, đá đỏ Ấn Độ, đá vàng Bình Định, đá ép lát nền, bàn ghế trong Nhà thờ… giáo dân Du Sinh đăng ký ủng hộ số lượng theo lòng hảo tâm và tùy điều kiện kinh tế gia đình.

Dân chúng dần dần ổn định vào vị trí. Nụ cười và tiếng cười rạng rỡ trên khuôn mặt mọi người, nơi quan khách cũng như nơi bà con giáo dân Du Sinh, một niềm vui thánh thiện và nâng cao. Các nhóm tiếp tân được dịp để khuôn mặt thư giãn thoải mái, quên đi tất cả mọi nỗi nhọc nhằn của cuộc sống.

Chẳng bao lâu, các dãy ghế mới trong Nhà thờ đã đầy, các nữ tu đông đảo chưa từng thấy trong các cuộc lễ Cung hiến những Nhà thờ khác, phần đông là các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, kể cả khối Tập sinh và Tiền tập. Hành lang chung quanh Nhà thờ đã hết chỗ, các mái che hai bên hông Nhà thờ cũng kín người. Phòng trệt ưu tiên dành cho giáo dân Du Sinh cũng đông đúc. Trong phòng trệt, họ tham dự Thánh lễ qua ba màn ảnh lớn đặt dọc theo gian phòng. Rất may, hôm ấy mát trời, nghĩa là không nắng không mưa, những người còn lại có thể chọn đứng bất cứ nơi đâu họ muốn để tham dự. Khuôn viên Nhà thờ Du Sinh đủ chỗ cho mọi người.

Thánh lễ đồng tế hôm ấy long trọng, sốt sắng và vui tươi. Đức cha Phêrô, đông đảo các cha đồng tế, khách xa gần, bà con giáo dân Du Sinh, ai nấy thi nhau vui cười rất hồn nhiên. Thật là một ngày thánh thiêng. Về sau, có người kể lại phản ứng của một vị khách từ Bình Giả, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu như sau: “Trước đến nay tôi chưa đi dự Lễ Cung Hiến Nhà thờ nào, nay lên Đà Lạt dự lễ này lần đầu, vui thật. Lần sau có lễ tôi đi nữa!”

Với một chút táo bạo và liều lĩnh xét về mặt con người, nhưng theo đức tin, đó là tin tưởng và phó thác, ý thức đây là việc làm cho Chúa, vì Chúa và vì nhu cầu cũng như niềm mơ ước của nhiều người, nhất là của tuyệt đại đa số bà con giáo dân Du Sinh, công trình xây dựng này chứng minh đúng câu: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”.

Lời cám ơn của cha Quản xứ

(Bài này được đọc cuối Lễ Cung Hiến)

 

Trọng kính Đức cha,

Cha Tổng Đại diện,

Cha Giám Tỉnh Dòng Đa Minh,

Đại diện cha Giám Tỉnh Dòng Phan Sinh,

Các cha,

Các Xơ Tổng Đại diện và Giám Tỉnh các Hội Dòng nữ,

Các tu sĩ nam nữ, anh chị em giáo dân,

Các thân nhân, ân nhân và quý khách…

Kính thưa tất cả quý vị,

Nhiều phép lạ nhỏ cộng lại thành một phép lạ lớn, thế là Nhà thờ Du Sinh đã hoàn thành. Đức cha đã nói ngày Đặt Viên Đá đầu tiên: “Không có Nhà thờ nào có bắt đầu mà không có kết thúc”. Chúng con thấy chúng khác nhau ở chỗ kết thúc sớm hay kết thúc muộn. Chúng con dự kiến công trình này có thể kéo dài bốn hoặc năm năm, nhưng nay mới một năm, nhìn thấy Nhà thờ đã ra như thế này, đành phải cho nó một kết thúc sớm vậy. Như thế sẽ có nhiều người hơn chứng nghiệm rằng Đức cha Đà Lạt có ơn tiên tri, và thỉnh thoảng có ơn bất khả ngộ nữa.

Chúng con cảm nghiệm rằng: Đây là việc Chúa, Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse làm, nhờ lời cầu nguyện của Đức cha và quý thân nhân, ân nhân xa gần. Giáo dân Du Sinh chúng con suốt một năm qua đã chung sức chung lòng hợp tác với nhau thực hiện công trình này. Nhu cầu Du Sinh chỉ cần một mái nhà tranh cho trên một ngàn trái tim vàng. Nhưng nghe Đức cha nói trong ngày Đặt Viên Đá: “Ngôi Nhà thờ không phải là của một cha xứ, cũng không phải là của một Giáo xứ, nhưng là của Giáo Hội, của Giáo phận”, nên chúng con làm vì Giáo phận, vì Giáo Hội. Đức cha cứ việc đưa giáo dân các nơi về đây đọc kinh cầu nguyện ngày đêm cũng được.

Chúng con chân thành cám ơn Đức cha hôm nay đến Cung Hiến ngôi Thánh đường dâng kính Thánh Giuse này. Chúng con cám ơn các cha đã vận động giáo dân của các cha hỗ trợ chúng con và hôm nay đến đồng tế trong thánh lễ đặc biệt này.

Các Hội Dòng cũng đã rất tích cực cầu nguyện và giúp đỡ vật chất cho chúng tôi trong thời gian qua, và nay đến hiệp thông với chúng tôi trong tâm tình tạ ơn ngày trọng đại này. Chúng tôi xin cám ơn.

Chúng tôi cám ơn kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng, kiến trúc sư Đỗ Bình Sơn, kỹ sư Đỗ Anh Huy Vũ, chị Phạm Thị Oanh và các kỹ sư giúp chúng tôi trong phần kiến trúc và kỹ thuật. Chúng tôi cám ơn Ông Huỳnh Văn Thanh và các công nhân trực tiếp thi công thực hiện công trình này. Chúng tôi cám ơn ông Đỗ Huy Cường giám sát chặt chẽ, nhờ đó độ chính xác của ngôi Nhà thờ Du Sinh tương đối là tuyệt đối. Chúng tôi cám ơn các ân nhân xa gần, Anh chị em Phan Sinh Tại Thế, Hội Bảo Trợ Ơn Gọi Phan Sinh, Tỉnh Dòng Phan Sinh, các Giáo xứ… Chúng tôi đặc biệt cám ơn ông bà Bùi Quyền, cha Đỗ Phinh, cha Nguyễn Văn Thái và gia đình, ông bà Chân Đức, anh chị Khoa Phương, và tất cả các ân nhân mà chúng tôi không thể nêu danh hết. Chúng tôi cám ơn Đại lý Thanh Trà cung cấp vật liệu xây dựng cho chúng tôi liên tục suốt năm qua. Chúng tôi cám ơn Đại lý Kim Hậu cung cấp gạch đá lát nền với phép rộng: “Cha cần cứ lấy về làm, khi nào có thì trả”. Hy vọng kiếp sau sẽ có? Chúng tôi cám ơn Chính quyền các cấp cho chúng tôi tổ chức thánh lễ hôm nay.

Nguyện xin Chúa trả công bội hậu và chúc lành cho Đức cha, quý cha, quý tu sĩ nam nữ, toàn thể quý vị có mặt và vắng mặt. Và sau thánh lễ này, xin mời Đức cha và tất cả quý vị ở lại cùng chung vui với chúng tôi trong Bữa Cơm thân mật. Xin cám ơn.

cunghien_gxdusinh_16052007_02

Mọi người đều vỗ tay tán đồng!

 cunghien_gxdusinh_16052007_04

Cung thánh tràn ngập ánh sáng

 

cunghien_gxdusinh_16052007_05

Các nữ tu nghiêm trang và sốt sắng, nhưng cũng...

cunghien_gxdusinh_16052007_10

cunghien_gxdusinh_16052007_06

 Ca đoàn du dương trong tiếng hát lời ca.

  

cunghien_gxdusinh_16052007_07

Giữ chìa khóa nhưng luôn mở ra cho mọi người

  

cunghien_gxdusinh_16052007_08

Bà con giáo dân Du Sinh dưới phòng trệt dự Thánh lễ Cung Hiến Nhà thờ qua màn hình