Sống đặc sủng Phan sinh trong thời đại kỹ thuật số
Tải xuống
SỐNG ĐẶC SỦNG PHAN SINH TRONG THỜI ĐẠI KỸ THUẬT SỐ
Tác giả: Tu sĩ Lm. Phêrô Nguyễn Văn Dũng, OFM
Dẫn nhập
Trong một thế giới đang biến đổi với tốc độ chưa từng có, đời sống thánh hiến nói chung và đời sống Phan sinh nói riêng đang đứng trước một câu hỏi vừa căn bản vừa cấp bách. Chúng ta được mời gọi sống đặc sủng của mình như thế nào trong thời đại kỹ thuật số? Đây không chỉ là câu hỏi liên quan đến phương tiện truyền thông, mạng xã hội, kỹ thuật hay cách thức hiện diện trực tuyến. Sâu xa hơn, đó là câu hỏi về căn tính. Người Phan sinh là ai, hiện hữu để làm gì, và phải làm chứng thế nào cho Tin Mừng giữa một thế giới bị phân mảnh bởi chủ nghĩa tiêu thụ, não trạng kỹ trị, văn hóa loại bỏ và sự cô lập ngay trong chính những kết nối ảo?
Trong tác phẩm Being a Franciscan in the Digital Age: New Challenges, New Life (tạm dịch: Người Phan sinh trong kỷ nguyên số: Những thách đố mới và một sức sống mới), Martín Carbajo Núñez đã đặt vấn đề một cách sâu sắc. Theo ngài, thời đại kỹ thuật số không chỉ là một bối cảnh mới, nhưng đã trở thành một môi trường sống mới, nơi căn tính, tương quan, kinh tế, sinh thái và đời sống thiêng liêng đều bị thách thức. Tác giả không nhìn kỹ thuật số với thái độ bi quan, nhưng cũng không dễ dãi thần tượng hóa nó. Ngài mời gọi người Phan sinh bước vào thời đại này với một linh đạo có khả năng phân định, lắng nghe, chiêm niệm, đối thoại và quản trị của cải theo luận lý của quà tặng.
Điều đáng chú ý nơi suy tư của Carbajo là ngài không khởi đi từ kỹ thuật, nhưng từ đặc sủng. Điều quan trọng không nằm ở chỗ Dòng Phan sinh có sử dụng công nghệ hay không, mà ở chỗ người Phan sinh có còn sống từ nguồn mạch Tin Mừng và trực giác của thánh Phanxicô Assisi hay không. Nếu công nghệ chỉ được dùng để duy trì hình ảnh, mở rộng ảnh hưởng và gia tăng hiệu quả tổ chức, nhưng không giúp người tu sĩ trở nên nghèo hơn, huynh đệ hơn, khiêm tốn hơn, gần người nghèo hơn và yêu mến công trình tạo dựng hơn, thì kỹ thuật số có thể trở thành một hình thức mới của quyền lực và chiếm hữu.
Bài viết sau đây của tiểu đệ, được gợi hứng từ suy tư của Martín Carbajo Núñez, muốn trình bày một vài định hướng cho việc canh tân đời sống Phan sinh hôm nay. Trước hết, bài viết nhìn lại khủng hoảng và nhu cầu canh tân đời sống thánh hiến. Kế đến, bài viết suy tư về nguy cơ đánh mất động lực nội tại của đặc sủng, về kiểu lãnh đạo khởi đi từ câu hỏi “tại sao”, và về sự phân biệt giữa người lữ hành với khách du lịch. Sau cùng, bài viết khai triển năm thái độ Phan sinh cần thiết trong thời đại kỹ thuật số, đó là lắng nghe, chiêm niệm, phân định, đối thoại và quản trị của cải theo luận lý quà tặng.
Canh tân đời sống thánh hiến,
từ bảo tồn cơ cấu đến tái khám phá đặc sủng
Một trong những nhận định đáng suy nghĩ của Carbajo là đời sống thánh hiến hôm nay đang trải qua một giai đoạn biến đổi sâu sắc. Sự suy giảm ơn gọi, tuổi trung bình ngày càng cao, số lượng tu sĩ giảm sút và sức nặng của các cơ cấu truyền thống khiến nhiều hội dòng đứng trước cám dỗ bảo tồn hơn là canh tân. Theo dữ liệu được tác giả nêu, tại Hoa Kỳ, từ năm 1970 đến 2015, số tu sĩ OFM giảm khoảng 65%, trong khi số tu sĩ OFMCap giảm khoảng 40%.[1] Những con số ấy không chỉ là thống kê nhân sự. Chúng còn là dấu chỉ của một chuyển biến lịch sử đòi hỏi sự phân định thiêng liêng nghiêm túc.
Tuy nhiên, khủng hoảng không nhất thiết là dấu hiệu của sự kết thúc. Trong truyền thống Kinh Thánh, khủng hoảng thường là thời điểm của thanh luyện và tái sinh. Dân Israel phải đi qua sa mạc để học lại sự tín thác. Các môn đệ phải đi qua thập giá để nhận ra Đấng Phục Sinh. Chính thánh Phanxicô cũng đã đi qua những đổ vỡ nội tâm, cuộc gặp gỡ với người phong cùi, kinh nghiệm nghèo khó và sự từ bỏ để nhận ra tiếng gọi của Chúa: “Phanxicô, hãy đi sửa lại nhà Ta.”[2]
Nguy cơ lớn nhất của đời sống thánh hiến không hẳn là giảm số lượng, nhưng là đánh mất lý do hiện hữu. Một hội dòng có thể vẫn còn nhà cửa, trường học, cơ sở mục vụ, tài sản và nhiều hoạt động. Tuy nhiên, nếu những điều ấy không còn phát xuất từ Tin Mừng và đặc sủng, chúng có thể trở thành những hình thức “bảo tàng hóa” đời tu. Carbajo cảnh báo về tình trạng mà ngài gọi là Ars moriendi, nghĩa là “nghệ thuật chết”. Đó là thái độ âm thầm chấp nhận suy tàn bằng cách duy trì các hình thức bên ngoài, trong khi sức sống bên trong đã dần cạn kiệt.[3]
Nhận định này vang vọng lời mời gọi của Công đồng Vatican II trong sắc lệnh Perfectae Caritatis. Theo Công đồng, việc canh tân đời sống thánh hiến phải bao gồm hai chiều kích không thể tách rời. Một mặt, các hội dòng phải trở về nguồn mạch Tin Mừng và tinh thần nguyên thủy của Đấng sáng lập. Mặt khác, họ cần thích nghi với những điều kiện mới của thời đại.[4] Nói cách khác, canh tân không phải là chạy theo thời đại, nhưng cũng không phải là đóng băng quá khứ. Canh tân là trung thành cách sáng tạo. Đó là trung thành với Tin Mừng và đặc sủng, đồng thời sáng tạo trong cách diễn tả đặc sủng ấy giữa những hoàn cảnh mới.
Đối với đời sống Phan sinh, trở về nguồn không có nghĩa là sao chép các hình thức của thế kỷ XIII. Trở về nguồn là tái khám phá trực giác Tin Mừng đã làm nên thánh Phanxicô. Đó là sống theo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô trong nghèo khó, khiêm hạ, huynh đệ, thiểu số và hòa bình. Ngay đầu trong Luật Không Sắc chỉ, thánh Phanxicô viết: “Luật và đời sống của các anh em này là: sống vâng phục, khiết tịnh và không có của riêng, và tuân giữ đạo lý cùng bước theo dấu chân Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.”[5] Đây là căn tính cốt lõi. Nếu người Phan sinh quên điều này, mọi chiến lược canh tân sẽ chỉ còn là kỹ thuật quản trị.
Trong bối cảnh kỹ thuật số, nguy cơ bảo tồn cơ cấu có thể mang một hình thức mới. Người ta không chỉ bảo vệ các tòa nhà, trường học hay cơ sở cũ, mà còn có thể bảo vệ hình ảnh, thương hiệu, số người theo dõi và ảnh hưởng truyền thông. Một tỉnh dòng có thể hiện diện mạnh mẽ trên mạng xã hội mà vẫn nghèo nàn trong đời sống huynh đệ. Có thể truyền thông nhiều về sứ vụ mà vẫn chưa thật sự lắng nghe người nghèo. Có thể quảng bá đặc sủng rất hiệu quả, nhưng lại chưa sống đặc sủng ấy cách thuyết phục. Vì thế, câu hỏi nền tảng của canh tân không chỉ là chúng ta đang làm gì, nhưng là chúng ta đang sống từ nguồn nào.
Hiệu ứng lấn át,
khi động lực bên ngoài thay thế niềm vui đặc sủng [6]
Một đóng góp đáng chú ý của Carbajo là việc sử dụng khái niệm crowding-out effect[7] của Bruno Frey[8] để phân tích đời sống tu trì. Trong kinh tế học và khoa học xã hội, khái niệm này diễn tả hiện tượng động lực nội tại bị suy yếu hoặc bị thay thế bởi các động lực bên ngoài. Khi áp dụng vào đời sống thánh hiến, điều này xảy ra mỗi khi niềm vui ơn gọi, tình yêu đặc sủng, sự tự do Tin Mừng và lòng say mê phục vụ bị thay thế bởi những bận tâm về tài sản, cơ cấu, hiệu quả, thu nhập, vị thế xã hội hay sự an toàn tổ chức.
Đây là một phân tích rất thực tế. Không ít cộng đoàn tu trì khởi đầu từ nhiệt huyết Tin Mừng. Nhưng qua thời gian, khi các công trình phát triển, tài sản gia tăng và cơ cấu trở nên phức tạp, việc quản trị có nguy cơ lấn át đời sống. Điều vốn là phương tiện dần trở thành mục đích. Nhà cửa, trường học, cơ sở mục vụ, chương trình và dự án ban đầu được lập ra để phục vụ sứ mạng. Thế nhưng, đôi khi chính sứ mạng lại bị định hình bởi nhu cầu duy trì các cơ sở ấy.
Trong ngôn ngữ Phan sinh, đây là nguy cơ đánh mất tinh thần sine proprio[9] , tức là sống “không có của riêng”. Nghèo khó Phan sinh không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, nhưng là một hình thức tự do thiêng liêng. Người anh em hèn mọn không được để mình bị sở hữu bởi những gì mình sử dụng. Trong Di chúc, thánh Phanxicô nhắc lại kinh nghiệm nền tảng của mình: “Chính Chúa đã dẫn tôi đến giữa những người phong cùi, và tôi đã tỏ lòng thương xót họ.”[10] Ở đây, đặc sủng Phan sinh không khởi đi từ một dự án tổ chức, nhưng từ một cuộc gặp gỡ làm đảo lộn trái tim. Người phong cùi không chỉ là đối tượng mục vụ. Họ là nơi Thiên Chúa dẫn Phanxicô đến để hoán cải ngài.
Điều này đặt ra một câu hỏi mục vụ và tu đức rất quan trọng. Trong các hoạt động hiện nay, chúng ta còn được người nghèo hoán cải không? Hay người nghèo chỉ còn là đối tượng trong các chương trình bác ái? Chúng ta còn để Tin Mừng chất vấn các cơ cấu của mình không? Hay chúng ta chỉ dùng Tin Mừng để biện minh cho những cơ cấu đã có?
Carbajo gợi ý rằng khủng hoảng đời tu hôm nay không thể được giải quyết bằng cách đơn thuần nhập khẩu ơn gọi từ nơi khác đến để duy trì các cơ sở đang suy tàn. Mượn lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô phát biểu trong Huấn dụ cho ngày ơn gọi đời sống thánh hiến năm 2016,[11] Carbajo gọi đó là một hình thức “thụ tinh nhân tạo” (artificial insemination)[12] trong đời sống tu trì. Nói cách khác, đó là việc đưa nhân sự từ bên ngoài vào để kéo dài sự sống của các cấu trúc, nhưng lại không chữa trị căn bệnh sâu xa là sự suy yếu của đời sống đặc sủng.[13] Đây là một nhận định có thể gây khó chịu, nhưng cần được lắng nghe. Ơn gọi không bao giờ là “nguồn nhân lực” để duy trì một hệ thống. Ơn gọi là hồng ân Thánh Thần ban cho Giáo hội, để Tin Mừng tiếp tục trở nên sống động trong lịch sử.
Vì thế, canh tân đời sống Phan sinh đòi hỏi một cuộc hoán cải khỏi não trạng sở hữu và duy trì. Người Phan sinh cần tự hỏi điều mình đang giữ có thật sự phục vụ Tin Mừng không. Những gì mình đang bảo vệ có giúp mình gần người nghèo hơn không. Cơ cấu hiện có có làm cho đời sống huynh đệ trở nên sống động hơn không. Tài sản đang quản lý có giúp anh em sống như những người hèn mọn không. Nếu câu trả lời là không, thì can đảm buông bỏ có thể là một hành vi trung thành sâu xa với đặc sủng.
Lãnh đạo từ câu hỏi “tại sao”,
trở về với giấc mơ của thánh Phanxicô
Dựa theo Simon Sinek[14], Carbajo phân biệt ba cấp độ lãnh đạo. Có kiểu lãnh đạo khởi đi từ “cái gì”, nghĩa là chú trọng hoạt động, kết quả và hiệu quả. Có kiểu lãnh đạo khởi đi từ “cách nào”, nghĩa là quan tâm đến phương pháp, hình ảnh, kỹ thuật và chiến lược. Nhưng cấp độ sâu nhất là lãnh đạo khởi đi từ câu hỏi “tại sao”, vì câu hỏi ấy chạm đến căn tính, ý nghĩa và lý do hiện hữu.
Áp dụng vào đời sống Phan sinh, điều này có nghĩa là các cộng đoàn không thể chỉ dừng lại ở những câu hỏi về số lượng. Chúng ta có bao nhiêu nhà, bao nhiêu anh em, bao nhiêu sứ vụ, bao nhiêu chương trình, bao nhiêu người tham dự. Những câu hỏi ấy cần thiết, nhưng chưa đủ. Cộng đoàn Phan sinh cần đi xa hơn để tự hỏi vì sao mình sống đời Phan sinh, vì sao hiện diện tại một nơi cụ thể, vì sao phục vụ người nghèo, vì sao truyền thông, vì sao quản lý tài sản, và vì sao tiếp tục dấn thân trong giáo dục, mục vụ hay truyền giáo.
Nếu không trả lời được câu hỏi “tại sao”, người tu sĩ dễ bị cuốn vào chủ nghĩa hoạt động. Hoạt động nhiều không đồng nghĩa với trung thành. Thành công bên ngoài không đồng nghĩa với hoa trái Tin Mừng. Sự nổi tiếng không đồng nghĩa với chứng tá. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu không kêu gọi các môn đệ trước hết để làm nhiều việc, nhưng để “ở với Người” rồi mới được sai đi rao giảng (x. Mc 3, 14). Đời sống thánh hiến chỉ có thể sinh hoa trái khi sứ vụ phát xuất từ sự ở lại trong Đức Kitô.
Thánh Phanxicô đã sống một kiểu lãnh đạo khởi đi từ câu hỏi “tại sao”. Ngài không xây dựng một phong trào bằng kế hoạch chiến lược theo nghĩa hiện đại. Ngài để mình bị Tin Mừng chinh phục. Khi nghe đoạn Tin Mừng nói về việc các môn đệ được sai đi mà không mang vàng bạc, bao bị, giày dép hay gậy gộc, ngài thốt lên: “Đó là điều tôi muốn, đó là điều tôi tìm kiếm, đó là điều tôi hết lòng khao khát thực hiện.”[15] Đây là khoảnh khắc đặc sủng. Một con người nhận ra lý do hiện hữu của mình trong Lời Chúa.
Ngày nay, các cộng đoàn Phan sinh cần trở về với khoảnh khắc ấy. Sự canh tân không bắt đầu từ những bản kế hoạch, nhưng từ việc để Tin Mừng một lần nữa đốt nóng trái tim. Nếu câu hỏi “tại sao” không được đặt ra cách nghiêm túc, chúng ta có thể tiếp tục vận hành các hoạt động Phan sinh mà không còn linh hồn Phan sinh. Chúng ta có thể nói về nghèo khó như một lý tưởng Tin Mừng, nhưng lại vô tình sống theo não trạng an phận thủ thường: không dám bước ra, không dám sáng tạo, và không dám đáp lại những thách đố mới của thời đại. Có thể nói về huynh đệ nhưng thiếu đối thoại trong cộng đoàn. Có thể nói về thiểu số nhưng lại tìm quyền lực. Có thể nói về hòa bình nhưng không dám bước vào những vùng xung đột. Có thể nói về truyền thông nhưng thiếu sự thật và khả năng lắng nghe.
Vì thế, lãnh đạo Phan sinh trong thời đại kỹ thuật số phải là lãnh đạo của ý nghĩa. Người lãnh đạo không chỉ là người quản lý cơ cấu, nhưng còn là người bảo vệ ngọn lửa đặc sủng. Họ giúp anh em nhớ lại lý do mình đã bước theo Đức Kitô trong lối sống Phan sinh. Họ tạo điều kiện để cộng đoàn phân định, đối thoại, buông bỏ và sáng tạo. Họ cũng phải can đảm đặt ra những câu hỏi không dễ chịu. Hoạt động này còn diễn tả đặc sủng không. Cơ cấu này còn phục vụ người nghèo không. Cách truyền thông này có trung thực và mang tinh thần Tin Mừng không. Việc quản lý tài sản này có phù hợp với tinh thần không có của riêng không.
Người lữ hành và khách du lịch,
hai linh đạo trong thời đại kỹ thuật số
Một hình ảnh rất gợi hứng trong suy tư của Carbajo là sự phân biệt giữa người lữ hành và khách du lịch, dựa trên phân tích của Zygmunt Bauman.[16] Trong xã hội tiêu thụ hậu hiện đại, con người dễ trở thành “khách du lịch” của đời sống. Họ di chuyển nhiều nhưng không thật sự lên đường. Họ tiếp xúc nhiều nhưng không gặp gỡ. Họ tiêu thụ nhiều kinh nghiệm nhưng không dấn thân. Họ nhìn thấy nhiều khuôn mặt nhưng không nhận ra tha nhân.
Khách du lịch[17] tìm khoái cảm tức thời, sự tiện nghi và những trải nghiệm mới lạ, nhưng lại tránh những ràng buộc sâu xa. Người ấy muốn đi qua các nơi mà không bị các nơi ấy chất vấn. Muốn gặp người khác mà không để người khác bước vào đời mình. Muốn tiêu thụ thiên nhiên như một sản phẩm mà không nhận ra giá trị nội tại của tạo dựng. Trong không gian kỹ thuật số, hình ảnh “khách du lịch” càng trở nên rõ ràng hơn. Người ta lướt qua vô số thông tin, hình ảnh, ý kiến và biến cố, nhưng ít khi dừng lại đủ lâu để lắng nghe, chiêm niệm và hoán cải.
Ngược lại, người lữ hành[18] có một trung tâm, một định hướng và một niềm hy vọng. Người lữ hành không chỉ di chuyển trong không gian, nhưng bước đi trong ý nghĩa. Người ấy biết rằng hành trình có đích đến, và những người gặp trên đường không phải là vật cản hay công cụ, nhưng là bạn đồng hành. Đời sống Phan sinh, ngay từ khởi đầu, đã mang chiều kích lữ hành này. Thánh Phanxicô và các anh em đầu tiên là những người không bám víu vào nơi chốn, tài sản hay đặc quyền. Họ đi qua thế giới như những người bé mọn, rao giảng bình an bằng đời sống hơn là bằng quyền lực.
Luật có sắc chỉ diễn tả rõ tinh thần ấy khi mời gọi anh em “không chiếm hữu gì cho mình, dù nhà cửa, nơi chốn hay bất cứ vật gì.”[19] Đây không phải là một hình thức lãng mạn hóa sự bấp bênh, nhưng là một chọn lựa thần học. Chỉ khi không bị chiếm hữu bởi của cải, người anh em mới có thể tự do lên đường. Chỉ khi không biến nơi chốn thành pháo đài an toàn, cộng đoàn mới có thể trở thành dấu chỉ của Nước Trời.
Trong thời đại kỹ thuật số, người Phan sinh được mời gọi trở thành người lữ hành của hy vọng. Điều này không có nghĩa là từ chối công nghệ, nhưng là sử dụng công nghệ như người đang trên đường, chứ không như người tiêu thụ. Người lữ hành kỹ thuật số không để mình bị phân mảnh bởi vô số thông báo. Không biến mạng xã hội thành sân khấu trình diễn cái tôi. Không sử dụng truyền thông để khẳng định quyền lực. Trái lại, họ dùng các phương tiện kỹ thuật số để xây dựng gặp gỡ, loan báo Tin Mừng, nâng đỡ người bị bỏ quên, bảo vệ sự thật và làm chứng cho vẻ đẹp của đời sống huynh đệ.
Trong thông điệp Fratelli tutti, Đức Giáo hoàng Phanxicô cung cấp một ánh sáng quan trọng để phân định nền văn hóa kỹ thuật số hôm nay. Ngài cảnh báo rằng “Sự kết nối kỹ thuật số không đủ để xây dựng những nhịp cầu. Nó không có khả năng hiệp nhất nhân loại” (Fratelli tutti, 43). Nói cách khác, thế giới kỹ thuật số có thể tạo ra kết nối mà không nhất thiết kiến tạo tình huynh đệ; có thể gia tăng trao đổi mà không dẫn đến gặp gỡ; và có thể làm bùng nổ vô số ý kiến trong khi đánh mất khả năng lắng nghe. Vì thế, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh rằng “khi sự thinh lặng và việc lắng nghe cẩn trọng biến mất, bị thay thế bởi cơn cuồng nhiệt nhắn tin, thì cấu trúc nền tảng của truyền thông nhân bản khôn ngoan bị đặt vào nguy cơ” (Fratelli tutti, 43).[20] Cho nên, người Phan sinh trong không gian kỹ thuật số phải là người phục hồi chiều sâu của gặp gỡ. Chúng ta không hiện diện trực tuyến chỉ để truyền tải nội dung, nhưng để góp phần xây dựng một nền văn hóa gặp gỡ, nơi phẩm giá của mỗi người được tôn trọng.
Nếu người Phan sinh được mời gọi bước đi như người lữ hành của hy vọng, thì hành trình ấy cần được nâng đỡ bởi những thái độ cụ thể. Carbajo gợi ý năm thái độ nền tảng cho đời sống Phan sinh trong thời đại kỹ thuật số. Thái độ đầu tiên là lắng nghe.
Lắng nghe tiếng kêu của trái đất và người nghèo
Thái độ đầu tiên mà Carbajo đề nghị là lắng nghe.[21] Đây là một lựa chọn rất có ý nghĩa, vì thời đại chúng ta đầy âm thanh nhưng thiếu lắng nghe, đầy thông tin nhưng thiếu khôn ngoan, đầy kết nối nhưng thiếu hiệp thông. Con người hôm nay nghe rất nhiều tin tức, thông báo, video, bình luận, tranh luận và quảng cáo. Nhưng nghe không đồng nghĩa với lắng nghe. Nghe có thể chỉ là tiếp nhận âm thanh. Lắng nghe là mở lòng để tha nhân bước vào đời mình.
Trong truyền thống Kinh Thánh, lắng nghe là thái độ nền tảng của đức tin. “Hỡi Israel, hãy nghe” là lời mở đầu của kinh Shema (Đnl 6, 4)[22]. Đức Maria là mẫu gương của người lắng nghe và ghi nhớ Lời Chúa trong lòng. Thánh Phanxicô cũng là con người của lắng nghe. Ngài lắng nghe Tin Mừng, lắng nghe người phong cùi, lắng nghe Giáo hội, lắng nghe anh em và lắng nghe công trình tạo dựng. Trong Di chúc, ngài nói: “Chúa đã ban cho tôi, tu sĩ Phanxicô, ơn bắt đầu cuộc đời hoán cải như thế này:...”[23] Câu nói ấy cho thấy Phanxicô đọc đời mình như một lịch sử được Thiên Chúa nói và dẫn dắt.
Carbajo nhấn mạnh rằng người Phan sinh hôm nay phải lắng nghe “tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo”[24], một diễn ngữ được Đức Giáo hoàng Phanxicô dùng trong Laudato si’.[25] Hai tiếng kêu này không tách biệt nhau. Khủng hoảng sinh thái luôn liên hệ đến khủng hoảng xã hội. Người nghèo thường là những người chịu tác động nặng nề nhất của ô nhiễm, biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên và bất công kinh tế. Vì thế, không thể nói đến sinh thái Phan sinh nếu không nói đến công lý dành cho người nghèo.
Điểm đặc biệt của linh đạo Phan sinh là người nghèo không chỉ là đối tượng của lòng thương xót, nhưng còn là nơi mặc khải. Người nghèo dạy chúng ta về Thiên Chúa, về sự mong manh, về sự lệ thuộc, về niềm vui đơn sơ và về sự thật của Tin Mừng. Tông huấn Evangelii Gaudium nhấn mạnh rằng người nghèo có nhiều điều để dạy chúng ta, vì họ tham dự vào cảm thức đức tin (sensus fidei) và biết Đức Kitô đau khổ bằng kinh nghiệm của chính mình.[26]
Trong không gian kỹ thuật số, lắng nghe người nghèo có nghĩa là làm cho những tiếng nói bị loại trừ được lắng nghe. Đó là tiếng nói của người lao động di dân, người bị bạo hành, người bản địa, người trẻ mất định hướng, người già cô đơn, người bị mắc kẹt trong nghiện ngập kỹ thuật số, và những người nghèo không có khả năng tiếp cận công nghệ. Một truyền thông Phan sinh không thể chỉ là truyền thông một chiều từ trung tâm đến ngoại biên. Truyền thông ấy còn phải biết để cho ngoại biên chất vấn trung tâm.
Chiêm niệm khuôn mặt Thiên Chúa
trong văn hóa hình ảnh
Thái độ thứ hai là chiêm niệm.[27] Carbajo nói đến một nền “linh đạo chiêm niệm mắt mở trước tha nhân” (a mysticism of open eyes)[28], một cách diễn tả rất phù hợp với truyền thống Phan sinh. Người Phan sinh không chạy trốn thế giới để gặp Thiên Chúa. Họ gặp Thiên Chúa trong thế giới được tạo dựng, trong khuôn mặt người nghèo, trong vẻ đẹp của vũ trụ, trong sự mong manh của thụ tạo và trong mầu nhiệm Nhập Thể.
Thánh Bonaventura, trong “Lộ trình tâm linh” (Itinerarium Mentis in Deum)[29], trình bày hành trình của linh hồn lên cùng Thiên Chúa qua việc chiêm ngắm các dấu vết của Người trong thụ tạo. Đối với ngài, thế giới không phải là vật vô nghĩa. Thế giới là một cuốn sách, một tấm gương và một dấu chỉ dẫn con người đến với Thiên Chúa.[30] Đây là nền tảng thần học sâu xa cho linh đạo sinh thái Phan sinh. Khi thánh Phanxicô gọi mặt trời, mặt trăng, nước, lửa và đất là anh chị em, ngài không thi vị hóa thiên nhiên. Ngài nhìn thế giới bằng ánh mắt đã được Tin Mừng thanh luyện.
Trong văn hóa kỹ thuật số, con người bị bao quanh bởi hình ảnh. Nhưng càng nhiều hình ảnh, khuôn mặt càng có nguy cơ bị biến thành bề mặt. Mạng xã hội có thể khuyến khích chủ nghĩa phô diễn, ám ảnh hình ảnh bản thân, tính ẩn danh và sự đánh mất chiều sâu tương quan. Con người nhìn nhau nhiều hơn nhưng có thể thấy nhau ít hơn. Khuôn mặt bị biến thành hồ sơ, hình đại diện, dữ liệu, đối tượng bình luận hoặc phán xét.
Chiêm niệm Phan sinh mời gọi một cách nhìn khác. Đó là nhìn để nhận ra, chứ không phải nhìn để tiêu thụ. Nhìn người nghèo và thấy Đức Kitô. Nhìn trái đất bị tổn thương và nghe “Chị Mẹ Đất” đang kêu than. Nhìn người khác tôn giáo và nhận ra một người anh em. Nhìn chính mình không như một hình ảnh phải quảng bá, nhưng như một thụ tạo được Thiên Chúa yêu thương.
Con đường cái đẹp, hay via pulchritudinis,[31] cũng giữ một vai trò đặc biệt trong đời sống đức tin và sứ vụ loan báo Tin Mừng. Cái đẹp không chỉ là yếu tố trang trí hay phụ thuộc, nhưng là một con đường thần học dẫn con người đến Chân và Thiện. Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa gọi via pulchritudinis là “con đường ưu tuyển cho việc loan báo Tin Mừng và đối thoại,” bởi cái đẹp có khả năng mở lòng con người trước mầu nhiệm Thiên Chúa.[32] Cũng trong viễn tượng ấy, Đức Phanxicô nhấn mạnh rằng mọi hình thức giáo lý cần lưu tâm đến “con đường của cái đẹp” (via pulchritudinis) như một phương thế giúp con người gặp gỡ Đức Kitô.[33]
Trong truyền thống Phan sinh, vẻ đẹp của tạo dựng đánh thức lòng biết ơn và đưa con người vào lời chúc tụng. Điều này được diễn tả đặc biệt trong Bài Ca Tạo Vật của thánh Phanxicô Assisi, nơi các thụ tạo trở thành anh chị em và cùng con người ca tụng Đấng Tạo Hóa.[34] Thánh Bonaventura tiếp tục trực giác này khi trình bày tạo dựng như dấu vết của Thiên Chúa, qua đó tâm trí con người được dẫn vào hành trình hướng về Người.[35] Tuy nhiên, cái đẹp Kitô giáo không tách rời khỏi mầu nhiệm thập giá. Trong linh đạo Phan sinh, vẻ đẹp của Thiên Chúa được chiêm ngắm nơi sự nghèo khó của máng cỏ Greccio và nơi tình yêu tự hiến của Đấng chịu đóng đinh in Năm Dấu thánh vào Phanxicô trên đỉnh núi La Verna. Cả hai biến cố đều mặc khải một Thiên Chúa tự hạ, nghèo khó và gần gũi với nhân loại.
Phân định trong xã hội siêu tốc,
từ thông tin đến khôn ngoan
Thái độ thứ ba là phân định.[36] Đây có lẽ là một trong những nhu cầu cấp bách nhất của đời sống tu trì hôm nay. Thời đại kỹ thuật số không thiếu thông tin. Điều thiếu là khả năng phân định. Chúng ta biết nhiều nhưng hiểu ít. Phản ứng nhanh nhưng suy tư chậm. Chia sẻ dễ dàng nhưng kiểm chứng hời hợt. Kết luận vội vàng nhưng cầu nguyện ít.
Carbajo cảnh báo về văn hóa zapping[37], tức là thói quen chuyển kênh liên tục và lướt qua mọi sự mà không dừng lại. Văn hóa này không chỉ ảnh hưởng đến giải trí, nhưng còn thấm vào đời sống thiêng liêng. Người tu sĩ có thể đọc Lời Chúa như lướt tin tức, cầu nguyện với tâm trí phân mảnh, sống trong cộng đoàn nhưng luôn bị kéo đi bởi thông báo, tin nhắn và mạng xã hội. Khi đó, đời sống nội tâm dần mất đi chiều sâu.
Phân định là nghệ thuật nhận ra điều gì đến từ Thần Khí và điều gì dẫn ta xa Thiên Chúa. Trong truyền thống Phan sinh, phân định luôn gắn với khiêm hạ và vâng phục. Thánh Phanxicô không tin vào sự tự mãn thiêng liêng. Ngài luôn đặt mình trong lòng Giáo hội, tìm kiếm sự xác nhận của Hội Thánh, lắng nghe Lời Chúa và lắng nghe anh em. Phân định không phải là tự chọn điều mình thích, nhưng là để ý muốn Thiên Chúa thanh luyện ý muốn của mình.
Trong bối cảnh kỹ thuật số, phân định đòi hỏi người Phan sinh phải xét lại cách mình tiếp nhận và sử dụng thông tin. Thông tin này có phục vụ sự thật không. Nội dung này có xây dựng hiệp thông không. Cách truyền thông này có tôn trọng phẩm giá con người không. Việc sử dụng mạng xã hội có giúp tôi sống Tin Mừng hơn không. Tôi đang dùng công nghệ như phương tiện phục vụ hay đang để công nghệ điều khiển mình. Thuật toán đang định hình ước muốn của tôi như thế nào.
Đức Giáo hoàng Phanxicô nhiều lần cảnh báo về não trạng kỹ trị (technocratic paradigm) trong Laudato si’. Não trạng này không chỉ nằm ở máy móc, nhưng ở cách con người nhìn thế giới như đối tượng để kiểm soát, khai thác và tối ưu hóa.[38] Khi não trạng kỹ trị xâm nhập đời tu, người ta dễ đo lường sứ vụ bằng chỉ số hiệu quả, đánh giá đời sống cộng đoàn bằng năng suất, và nhìn anh em như nguồn lực. Phân định Phan sinh giúp chúng ta chống lại điều đó bằng cách đặt lại Thiên Chúa, con người và thụ tạo vào đúng vị trí trung tâm của đời sống.
Đối thoại trong Tinh thần Assisi,
khiêm hạ, hòa bình và gặp gỡ
Thái độ thứ tư là đối thoại.[39] Carbajo đặt đối thoại Phan sinh trong “Tinh thần Assisi”, gợi nhớ cuộc gặp liên tôn cầu nguyện cho hòa bình do thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II khởi xướng tại Assisi năm 1986.[40] Tuy nhiên, chiều sâu lịch sử và linh đạo của tinh thần này đã được chuẩn bị từ rất sớm trong truyền thống Phan sinh, đặc biệt nơi cuộc gặp giữa thánh Phanxicô Assisi và Sultan al-Malik al-Kamil tại Damietta năm 1219, giữa bối cảnh đối đầu gay gắt của các cuộc Thập tự chinh. Trong một thời đại bị chi phối bởi luận lý xung đột tôn giáo và quân sự, cuộc gặp ấy nổi bật như một chứng tá nghịch lý của Tin Mừng: thay vì đối đầu bằng bạo lực, Phanxicô chọn con đường hiện diện trong nghèo khó, khiêm hạ và đối thoại. Chính vì thế, biến cố năm 1219 có thể được xem như một tiền thân quan trọng của “Tinh thần Assisi”, nơi đối thoại không làm suy giảm căn tính Kitô giáo, nhưng biểu lộ căn tính ấy qua hòa bình, huynh đệ và sự tôn trọng phẩm giá của người khác niềm tin.[41]
Cuộc gặp gỡ của thánh Phanxicô năm 1219 có ý nghĩa đặc biệt cho thời đại chúng ta, một thời đại đầy xung đột tôn giáo, ý thức hệ, văn hóa và cả xung đột trên không gian mạng. Trên mạng xã hội, đối thoại thường bị thay thế bằng tranh cãi, kết án, công kích, phe nhóm và hủy hoại danh dự. Người khác không còn là người anh em cần được lắng nghe, nhưng trở thành đối thủ phải bị đánh bại. Thánh Phanxicô cho thấy một cách hiện diện khác. Ngài không đến với Sultan như một kẻ chinh phục, nhưng như một người anh em hèn mọn. Ngài không từ bỏ căn tính Kitô hữu, nhưng cũng không biến căn tính ấy thành vũ khí. Trong Luật không sắc chỉ, thánh Phanxicô khuyên các anh em đi giữa người Hồi giáo và những người ngoài Kitô giáo theo hai cách. Trước hết, anh em không tranh cãi hay cãi cọ, nhưng vì Thiên Chúa mà phục tùng mọi loài người. Sau đó, khi thấy đẹp lòng Chúa, anh em hãy loan báo Lời Chúa.[42] Đây là một trong những văn bản truyền giáo đáng kinh ngạc nhất của thời Trung cổ, vì nó đặt chứng tá khiêm hạ trước mọi tranh luận hiếu thắng.
Đối thoại Phan sinh không phải là tương đối hóa đức tin. Ngược lại, chỉ người có căn tính sâu mới có thể đối thoại thật. Nhưng căn tính Kitô giáo không được diễn tả bằng áp đặt, mà bằng tình yêu, khiêm hạ và sự thật. Đối thoại không phải là che giấu Tin Mừng, nhưng là làm cho Tin Mừng có thể được nghe thấy qua một đời sống đáng tin.
Trong thời đại kỹ thuật số, “Tinh thần Assisi” mời gọi người Phan sinh trở thành người kiến tạo hòa bình trong không gian mạng. Điều này bao gồm việc tránh lan truyền tin giả, không tham gia vào văn hóa thù hận, không biến khác biệt thành chiến tranh, biết xin lỗi khi sai, tôn trọng phẩm giá của người bất đồng, và sử dụng truyền thông để mở ra những nhịp cầu.
Hòa bình Phan sinh cũng bao gồm hòa bình với công trình tạo dựng. Không thể xây dựng hòa bình giữa con người trong khi tiếp tục gây bạo lực cho trái đất. Laudato si’ nhấn mạnh rằng mọi sự đều liên kết với nhau.[43] Vì thế, đối thoại liên tôn, đối thoại xã hội và đối thoại sinh thái phải đi cùng nhau. Người Phan sinh được mời gọi làm chứng rằng hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh, nhưng là sự hòa điệu với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính mình và với toàn thể tạo dựng.
Quản trị của cải theo luận lý quà tặng
Thái độ thứ năm là quản trị của cải theo tinh thần Phan sinh.[44] Đây là một chủ đề rất thực tế, nhưng cũng rất thần học. Đời sống Phan sinh không thể nói về nghèo khó mà không đặt vấn đề về cách sử dụng của cải. Cũng không thể rao giảng tinh thần “không có của riêng” mà lại tổ chức đời sống theo não trạng tích lũy, an toàn và kiểm soát.
Carbajo nhấn mạnh rằng kinh tế Phan sinh phải dựa trên logic of gift, nghĩa là luận lý của quà tặng. Mọi sự chúng ta có đều là hồng ân. Nếu là hồng ân, chúng ta không thể chiếm hữu cách tuyệt đối, nhưng phải biết chia sẻ, hoàn trả và phục vụ công ích. Khái niệm restitution, nghĩa là hoàn trả, rất quan trọng trong truyền thống Phan sinh.[46] Người Phan sinh không xem của cải như tài sản riêng, nhưng như điều được trao phó để hoàn trả cho Thiên Chúa qua người nghèo, huynh đệ đoàn và sứ mạng.
Trong Luật không sắc chỉ, thánh Phanxicô khuyên anh em đừng giữ lại điều gì cho mình, để Đấng đã trao ban chính mình hoàn toàn cho chúng ta có thể đón nhận chúng ta hoàn toàn.[47] Tinh thần ấy chạm đến cốt lõi của nghèo khó Phan sinh. Nghèo khó không chỉ là một lời khấn pháp lý, nhưng là cách tham dự vào sự tự hiến của Đức Kitô. Người Phan sinh sống nghèo không phải để đề cao sự thiếu thốn, nhưng để trở nên tự do hơn cho Thiên Chúa, cho anh em và cho người nghèo.
Tuy nhiên, quản trị theo luận lý quà tặng không có nghĩa là thiếu chuyên nghiệp hoặc tùy tiện. Trái lại, chính vì tài sản là của người nghèo và nhằm phục vụ sứ mạng, nên tài sản ấy càng cần được quản lý cách minh bạch, có trách nhiệm và đạo đức. Một nền kinh tế Phan sinh trưởng thành phải tránh hai thái cực. Một bên là lãng mạn hóa nghèo khó đến mức thiếu trách nhiệm. Bên kia là quản trị theo não trạng doanh nghiệp thuần túy, khiến sứ mạng dần bị lệ thuộc vào lợi nhuận và sự an toàn tài chính.
Carbajo cũng nhấn mạnh nhu cầu trở về với ân sủng lao động.[48] Trong Di chúc, thánh Phanxicô viết: “Tôi đã làm việc bằng đôi tay của mình, và tôi muốn làm việc; tôi cũng muốn tất cả anh em khác làm một công việc lương thiện.”[49] Lao động không chỉ là phương tiện kiếm sống. Lao động còn là cách tham dự vào đời sống của người nghèo, diễn tả trách nhiệm và giúp anh em tránh lệ thuộc vào tài sản thụ động. Trong bối cảnh hiện nay, lao động có thể là lao động tay chân, trí thức, mục vụ, giáo dục, truyền thông, nghiên cứu hoặc phục vụ xã hội. Điều quan trọng là tinh thần. Lao động phải được sống như ân sủng, chứ không như công cụ thống trị. Lao động phải hướng đến phục vụ, chứ không nhằm tích lũy quyền lực.
Một tỉnh dòng muốn sống canh tân cần can đảm rà soát cách quản trị tài sản của mình. Những gì chúng ta đang sở hữu có thật sự phục vụ sứ mạng không. Những tài sản ấy có giúp anh em sống gần người nghèo hơn không. Việc quản trị có minh bạch không. Các nguồn lực hiện có có tạo nên sự lệ thuộc nào không. Chúng ta có đang xa rời đời sống thiểu số vì quá lo bảo vệ sự an toàn của mình không. Các quyết định kinh tế có làm suy yếu đời sống huynh đệ không. Những câu hỏi này không chỉ thuộc lĩnh vực tài chính. Chúng thuộc về phân định thiêng liêng, vì cách chúng ta sử dụng của cải luôn cho thấy chúng ta đang đặt niềm tín thác nơi đâu.
Vì thế, quản trị của cải theo tinh thần Phan sinh không chỉ là vấn đề quản lý. Đó là một hình thức làm chứng. Khi một cộng đoàn biết sống đơn sơ, minh bạch, liên đới và tự do trước của cải, cộng đoàn ấy loan báo Tin Mừng bằng chính cách tổ chức đời sống của mình. Trong một thế giới nơi mọi sự dễ bị biến thành hàng hóa, người Phan sinh được mời gọi nhắc lại rằng sự sống là quà tặng, trái đất là quà tặng, ơn gọi là quà tặng, và chính chúng ta cũng là quà tặng được trao ban cho nhau.
Hướng đến một đời sống Phan sinh mới
trong thời đại kỹ thuật số
Từ những suy tư trên, có thể nói rằng thời đại kỹ thuật số không hủy bỏ đặc sủng Phan sinh. Trái lại, nó làm cho đặc sủng ấy trở nên cấp thiết hơn. Trong một thế giới bị chia rẽ, Phan sinh làm chứng cho huynh đệ. Trong một thế giới bị ám ảnh bởi sở hữu, Phan sinh làm chứng cho tinh thần không có của riêng. Trong một thế giới ồn ào, Phan sinh làm chứng cho khả năng lắng nghe. Trong một thế giới đầy hình ảnh, Phan sinh làm chứng cho cái nhìn chiêm niệm. Trong một thế giới siêu tốc, Phan sinh làm chứng cho sự phân định. Trong một thế giới xung đột, Phan sinh làm chứng cho đối thoại. Trong một thế giới tiêu thụ, Phan sinh làm chứng cho luận lý quà tặng.
Nhưng để làm được điều đó, chúng ta cần một cuộc hoán cải cộng đoàn. Không ai sống đặc sủng một mình. Đặc sủng Phan sinh được trao cho một huynh đệ đoàn, được gìn giữ trong huynh đệ đoàn và được sai đi từ huynh đệ đoàn. Vì thế, canh tân không thể chỉ là nỗ lực cá nhân. Canh tân phải là một hành trình chung, trong đó anh em cùng cầu nguyện, cùng phân định, cùng lắng nghe người nghèo, cùng xem lại các cơ cấu, và cùng học cách hiện diện trong thế giới kỹ thuật số như những anh em hèn mọn.
Điều này cũng đòi hỏi một nỗ lực đào tạo mới. Đào tạo Phan sinh hôm nay không thể chỉ dừng lại ở lịch sử Dòng, thần học, mục vụ hay kỷ luật tu trì. Những yếu tố ấy vẫn rất cần thiết, nhưng cần được bổ túc bằng việc đào tạo về văn hóa kỹ thuật số, truyền thông có đạo đức, sinh thái toàn diện, kinh tế Phan sinh, đối thoại liên văn hóa, khả năng lắng nghe và nghệ thuật phân định. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy phải được đặt trên nền tảng đời sống cầu nguyện, Lời Chúa, Thánh Thể, huynh đệ và phục vụ người nghèo. Nếu thiếu nền tảng này, việc đào tạo kỹ năng có thể tạo ra những người làm việc hiệu quả, nhưng chưa chắc tạo nên những người anh em hèn mọn theo tinh thần thánh Phanxicô.
Một câu hỏi nên được đặt ra thường xuyên trong các cộng đoàn là nếu thánh Phanxicô sống hôm nay, ngài sẽ hiện diện thế nào trong thế giới kỹ thuật số? Có lẽ ngài sẽ không bị cuốn vào việc xây dựng hình ảnh cá nhân. Ngài cũng sẽ không xem truyền thông như sân khấu để khẳng định mình. Ngài sẽ tìm những “người phong cùi” của thời đại số, những người bị loại khỏi kết nối, những người bị tổn thương bởi bạo lực mạng, những người trẻ cô đơn, những nạn nhân của thông tin sai lệch, những người bị biến thành dữ liệu và những tiếng nói không được ai nghe. Ngài sẽ hát Bài ca Anh Mặt Trời như một lời mời gọi bảo vệ Chị Mẹ Đất. Ngài sẽ đối thoại với những người khác niềm tin trong khi vẫn say mê Đức Kitô. Ngài sẽ nhắc chúng ta rằng thế giới không cần những tu sĩ nổi tiếng hơn, nhưng cần những anh em hèn mọn hơn.
Do đó, hiện diện Phan sinh trong thời đại kỹ thuật số không chỉ là có thêm trang web, tài khoản mạng xã hội hay các sản phẩm truyền thông. Những phương tiện ấy cần thiết, nhưng chưa đủ. Hiện diện Phan sinh là làm cho tinh thần Tin Mừng trở nên hữu hình trong cách chúng ta truyền thông, quản trị, đối thoại, học hỏi, phục vụ và sống với nhau. Người ta không chỉ cần nghe chúng ta nói về thánh Phanxicô. Họ cần gặp nơi chúng ta một chút gì đó của sự đơn sơ, niềm vui, lòng thương xót, sự tự do và tình huynh đệ đã làm cho thánh Phanxicô trở thành một chứng nhân Tin Mừng cho mọi thời đại.
Kết luận
“Người Phan sinh trong kỷ nguyên số: Những thách đố mới và một sức sống mới” là một lời mời gọi can đảm dành cho gia đình Phan sinh. Chúng ta đừng sợ thời đại kỹ thuật số, nhưng cũng đừng để mình bị nó đồng hóa. Điều cần thiết không phải là phủ nhận công nghệ, nhưng là sống đặc sủng cách sâu xa đến mức chính công nghệ cũng được hoán cải thành phương tiện phục vụ Tin Mừng, huynh đệ, người nghèo và công trình tạo dựng.
Canh tân đời sống Phan sinh hôm nay không bắt đầu bằng việc hỏi chúng ta còn bao nhiêu cơ sở, bao nhiêu nhân sự, bao nhiêu hoạt động hay bao nhiêu ảnh hưởng truyền thông. Canh tân bắt đầu khi chúng ta dám trở về với câu hỏi nền tảng. Tại sao chúng ta hiện hữu? Câu trả lời chỉ có thể được tìm thấy trong Đức Kitô nghèo khó và chịu đóng đinh, Đấng đã quyến rũ trái tim thánh Phanxicô và vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta sống Tin Mừng trong tinh thần không có của riêng, trong huynh đệ, thiểu số, hòa bình và niềm vui.
Nếu người Phan sinh hôm nay biết lắng nghe tiếng kêu của trái đất và người nghèo, chiêm ngắm khuôn mặt Thiên Chúa trong mọi thụ tạo, phân định giữa thông tin và khôn ngoan, đối thoại trong Tinh thần Assisi, và quản trị của cải theo luận lý quà tặng, thì đặc sủng Phan sinh sẽ không chỉ là một di sản đáng kính của quá khứ. Đặc sủng ấy sẽ trở thành một lời tiên tri cho tương lai.
Trong thời đại kỹ thuật số, người Phan sinh được mời gọi không trở thành “khách du lịch” của nền văn hóa tiêu thụ, nhưng trở nên người lữ hành của hy vọng. Họ bước đi nhẹ nhàng vì không sở hữu. Bước đi tự do vì không bị ràng buộc bởi quyền lực. Bước đi huynh đệ vì nhận ra mọi người là anh chị em. Bước đi chiêm niệm vì thấy mọi thụ tạo phản chiếu Đấng Tạo Hóa. Bước đi vui tươi vì biết rằng, giữa những khủng hoảng của lịch sử, Thiên Chúa vẫn đang phán: “Này đây, Ta đổi mới mọi sự”. (Kh 21, 5)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Armstrong, Regis J., J. A. Wayne Hellmann, and William J. Short, eds. Francis of Assisi: Early Documents. Vol. 1, The Saint. New York: New City Press, 1999.
Bauman, Zygmunt. Il disagio della postmodernità. Milan: Mondadori, 2002.
———. La globalización: consecuencias humanas. Madrid: Fondo de Cultura Económica, 2017.
———. La società dell’incertezza. Bologna: Il Mulino, 1999.
Benedict XVI. “Address to Artists.” Sistine Chapel, Vatican City, November 21, 2009. https://www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/speeches/2009/november/documents/hf_ben-xvi_spe_20091121_artisti.html.
Bonaventure. The Journey of the Mind into God. In The Soul’s Journey into God, The Tree of Life, The Life of St. Francis. Translated by Ewert Cousins. Classics of Western Spirituality. New York: Paulist Press, 1978.
Carbajo Núñez, Martín. Being a Franciscan in the Digital Age: New Challenges, New Life. Phoenix, AZ: Tau Publishing, 2020.
———. Everything Is Connected: Integral Ecology in the Digital Age. Delhi: Media House, 2020.
Công đồng Vaticanô II. Perfectae Caritatis. Ngày 28 tháng 10 năm 1965. https://www.vatican.va/archive/hist_councils/ii_vatican_council/documents/vat-ii_decree_19651028_perfectae-caritatis_en.html.
Etchegaray, Roger. “The Spirit of Assisi.” Jubilee 2000 Magazine, June–September 1996. https://www.vatican.va/jubilee_2000/magazine/documents/ju_mag_june-sept-1996_etchegaray-assisi_en.html.
Francis. “Address to Participants in the Jubilee of Consecrated Life.” Vatican City, February 1, 2016. https://www.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2016/february/documents/papa-francesco_20160201_giubileo-vita-consacrata.html.
———. Tông huấn Evangelii Gaudium. Ngày 24 tháng 11 năm 2013. https://www.vatican.va/content/francesco/en/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium.html.
———. Tông huấn Gaudete et Exsultate. Ngày 19 tháng 3 năm 2018. https://www.vatican.va/content/francesco/en/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20180319_gaudete-et-exsultate.html.
———. Thông điệp Fratelli tutti. Ngày 3 tháng 10 năm 2020. https://www.vatican.va/content/francesco/en/encyclicals/documents/papa-francesco_20201003_enciclica-fratelli-tutti.html.
———. Thông điệp Laudato si’. Ngày 24 tháng 5 năm 2015. https://www.vatican.va/content/francesco/en/encyclicals/documents/papa-francesco_20150524_enciclica-laudato-si.html.
Frey, Bruno S. Not Just for the Money: An Economic Theory of Personal Motivation. Cheltenham: Edward Elgar, 1997.
John Paul II. “Address to the Representatives of the Christian Churches and Ecclesial Communities and of the World Religions.” Assisi, October 27, 1986. https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/speeches/1986/october/documents/hf_jp-ii_spe_19861027_prayer-peace-assisi.html.
Mankiw, N. Gregory. Principles of Economics. 8th ed. Boston: Cengage Learning, 2018.
Metz, Johann Baptist. A Passion for God: The Mystical-Political Dimension of Christianity. Translated by J. Matthew Ashley. New York: Paulist Press, 1998.
Moses, Paul. The Saint and the Sultan: The Crusades, Islam, and Francis of Assisi’s Mission of Peace. New York: Doubleday, 2009.
Nguyễn Văn Dũng. “Sine proprio: trong linh đạo Phan sinh.” Truy cập tại https://ofmvn.org/bai-viet/nam-thanh-phanxico/sine-proprio-trong-linh-dao-phan-sinh.
Pontifical Council for Culture. “The Via Pulchritudinis, Privileged Pathway for Evangelisation and Dialogue.” Plenary Assembly, 2006. https://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/cultr/documents/rc_pc_cultr_doc_20060327_plenary-assembly_final-document_en.html.
Sinek, Simon. Start with Why: How Great Leaders Inspire Everyone to Take Action. New York: Portfolio, 2009.
Thomas of Celano. The Life of Saint Francis. In Francis of Assisi: Early Documents. Vol. 1, The Saint, edited by Regis J. Armstrong, J. A. Wayne Hellmann, and William J. Short. New York: New City Press, 1999.
Tỉnh Dòng Thánh Phanxicô Việt Nam. Tác phẩm của Thánh Phanxicô Assisi. Bản dịch mới dựa theo ấn bản truy nguyên của Carlo Paolazzi, OFM. Văn Phòng Tỉnh Dòng, 2015.
Tolan, John V. Saint Francis and the Sultan: The Curious History of a Christian-Muslim Encounter. Oxford: Oxford University Press, 2009.
“Thánh Bonaventure, Itinerarium Mentis in Deum: Lộ trình tâm linh.” Truy cập tại https://ofmvn.org/bai-viet/chia-se-linh-dao/thanh-bonaventure-itinerarium-mentis-in-deum-lo-trinh-tam-linh.
[1] Martín Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age: New Challenges, New Life (Phoenix, AZ: Tau Publishing: 2020), 19.
[2] Tỉnh Dòng Thánh Phanxicô Việt Nam, Tác phẩm của Thánh Phanxicô Assisi, Bản dịch mới dựa theo ấn bản truy nguyên của Carlo Paolazzi, OFM (Văn Phòng Tỉnh Dòng: 2015), 30.
[3] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 21-22.
[4] Công đồng Vaticanô II, Perfectae Caritatis, 28 tháng 10 năm 1965, số 2, https://www.vatican.va/archive/hist_councils/ii_vatican_council/documents/vat-ii_decree_19651028_perfectae-caritatis_en.html.
[5] Francis of Assisi, The Earlier Rule, I, 1, trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1: The Saint, tác giả biên tập Regis J.
Armstrong, J. A. Wayne Hellmann, and William J. Short, (New York: New City Press, 1999), 63-64.
[6] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 23-24.
[7] “Crowding‑out effect” - hiệu ứng lấn át - là thuật ngữ kinh tế mô tả hiện tượng chi tiêu hoặc vay nợ của chính phủ tăng lên làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân. Khi chính phủ vay nhiều, lãi suất trên thị trường có xu hướng tăng, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn hơn và thu hẹp hoạt động đầu tư. Về khái niệm này, xem N. Gregory Mankiw, Principles of Economics, 8th ed. (Boston: Cengage Learning, 2018), 729–731.
[8] Xem thêm: Bruno S. Frey, Not Just for the Money: An Economic Theory of Personal Motivation (Cheltenham: Edward Elgar, 1997).
[9] Đọc thêm bài viết “Sine proprio: trong linh đạo Phan sinh” của tác giả Tu sĩ Lm. Phêrô Nguyễn Văn Dũng, OFM, truy cập tại: https://ofmvn.org/bai-viet/nam-thanh-phanxico/sine-proprio-trong-linh-dao-phan-sinh.
[10] Francis of Assisi, The Testament, 1-3, trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, 124.
[11] Francis, “Address to Participants in the Jubilee of Consecrated Life,” Vatican City, February 1, 2016, https://www.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2016/february/documents/papa-francesco_20160201_giubileo-vita-consacrata.html
[12] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 22.
[13] Sđd, 22-23.
[14] Xem thêm: Simon Sinek, Start with Why: How Great Leaders Inspire Everyone to Take Action (New York: Portfolio, 2009).
[15] Thomas of Celano, The Life of Saint Francis, 22, trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, 201-202.
[16] Xem thêm các tác phẩm của Zygmunt Bauman do Carbajo trích dẫn: Zygmunt Bauman, La globalización: consecuencias humanas (Madrid: Fondo de Cultura Económica, 2017); Zygmunt Bauman, La società dell’incertezza (Bologna: Il Mulino, 1999), 35; Zygmunt Bauman, Il disagio della postmodernità (Milan: Mondadori, 2002), 97–105.
[17] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 61-65.
[18] Sđd, 56-60; 65-66.
[19] Francis of Assisi, The Later Rule, VI, 1, trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, 103.
[20] Francis, Thông điệp Fratelli tutti, ngày 3 tháng 10 năm 2020, các số 42-50, https://www.vatican.va/content/francesco/en/encyclicals/documents/papa-francesco_20201003_enciclica-fratelli-tutti.html.
[21] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 125-141.
[22] “Hỡi Ítraen, hãy nghe đây!” Trong tiếng Hípri, câu này là shema yisra’el שְׁמַ֖ע יִשְׂרָאֵ֑ל (Deu 6:4 WTT). Do đó, đoạn văn từ câu 4 đến câu 9, vốn chứa đựng giới răn trọng nhất, được gọi là Shema. Trong truyền thống Do Thái hậu kỳ, Đnl 11,13–21 và Ds 15,37–41 được thêm vào để hình thành một kinh nguyện được đọc vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. “Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, chỉ một mình Đức Chúa.”
[23] Francis of Assisi, The Testament, 1, trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, 124.
[24] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 125-141.
[25] Francis, Thông điệp Laudato si’, ngày 24 tháng 5 năm 2015, số 49, https://www.vatican.va/content/francesco/en/encyclicals/documents/papa-francesco_20150524_enciclica-laudato-si.html.
[26] Francis, Tông huấn Evangelii Gaudium, ngày 24 tháng 11 năm 2013, số 198, https://www.vatican.va/content/francesco/en/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium.html.
[27] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 143-158.
[28] Diễn ngữ này gần với tư tưởng thần học của Johann Baptist Metz, đặc biệt trong việc nhấn mạnh một linh đạo không khép kín trong nội tâm thuần túy, nhưng mở mắt trước đau khổ của tha nhân, bất công xã hội và tiếng kêu của người nghèo. Xem Johann Baptist Metz, A Passion for God: The Mystical-Political Dimension of Christianity, trans. J. Matthew Ashley (New York: Paulist Press, 1998).
[29] Xin xem thêm bài viết “Thánh Bonaventure, Itinerarium Mentis in Deum: Lộ trình tâm linh,” truy cập tại: https://ofmvn.org/bai-viet/chia-se-linh-dao/thanh-bonaventure-itinerarium-mentis-in-deum-lo-trinh-tam-linh.
[30] Đọc thêm: Bonaventure, The Journey of the Mind into God, I-II, trong Bonaventure, The Soul’s Journey into God, The Tree of Life, The Life of St. Francis, trans. Ewert Cousins, Classics of Western Spirituality (New York: Paulist Press, 1978).
[31] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 50, 148-149.
[32] Pontifical Council for Culture, “The Via Pulchritudinis, Privileged Pathway for Evangelisation and Dialogue,” Plenary Assembly, 2006, https://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/cultr/documents/rc_pc_cultr_doc_20060327_plenary-assembly_final-document_en.html.
[33] Benedict XVI, “Address to Artists,” Sistine Chapel, Vatican City, 21 November 2009, https://www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/speeches/2009/november/documents/hf_ben-xvi_spe_20091121_artisti.html; Francis, Tông huấn Evangelii Gaudium, 24 November 2013, số 167, https://www.vatican.va/content/francesco/en/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium.html.
[34] Francis of Assisi, “The Canticle of the Creatures,” trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, 113–114.
[35] Đọc thêm: Bonaventure, The Journey of the Mind into God.
[36] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 159-171.
[37] Sđd, 159; xem thêm Francis, Tông huấn Gaudete et Exsultate, March 19, 2018, số 167, https://www.vatican.va/content/francesco/en/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20180319_gaudete-et-exsultate.html.
[38] Francis, Thông điệp Laudato si’, các số 101-114.
[39] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 173-192.
[40] Đọc thêm: John Paul II, “Address to the Representatives of the Christian Churches and Ecclesial Communities and of the World Religions,” Assisi, 27 October 1986,
https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/speeches/1986/october/documents/hf_jp-ii_spe_19861027_prayer-peace-assisi.html;
Roger Etchegaray, “The Spirit of Assisi,” Jubilee 2000 Magazine, June–September 1996, https://www.vatican.va/jubilee_2000/magazine/documents/ju_mag_june-sept-1996_etchegaray-assisi_en.html.
[41] Đọc thêm: Paul Moses, The Saint and the Sultan: The Crusades, Islam, and Francis of Assisi’s Mission of Peace (New York: Doubleday, 2009); John V. Tolan, Saint Francis and the Sultan: The Curious History of a Christian-Muslim Encounter (Oxford: Oxford
University Press, 2009).
[42] Francis of Assisi, The Earlier Rule, XVI, 5-7, trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, 74-75.
[43] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 14; Martín Carbajo Núñez, Everything is Connected. Integral ecology my in the Digital Age, Media House, Delhi 2020; Francis, thông điệp Laudato si’, số 92.
[44] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 193-210.
[45] Sđd, 196, 200-201.
[46] Sđd, 202, 207-208.
[47] Francis of Assisi, A Letter to the Entire Order, 29, trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, 118.
[48] Carbajo Núñez, Being a Franciscan in the Digital Age, 200.
[49] Francis of Assisi, The Testament, 20-22, trong Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, 125-126.
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.