Các sứ vụ Phan Sinh dành cho người di dân và các nhà truyền giáo di dân tại Marseille
Trên nền đá lát của Cảng Cổ Marseille, nước Pháp, có một phiến đá tưởng niệm việc những người Hy Lạp từ Phocaea, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, đã đặt chân đến đây khoảng năm 600 trước Công nguyên. Những người đi biển ấy đã cập bến tại vịnh cổ Lacydon, nơi khi đó có các dân tộc Liguria gốc Celt sinh sống.
Ngay từ những khởi đầu của mình, Marseille đã là một thành phố được hình thành bởi những cuộc gặp gỡ giữa các dân tộc, ngôn ngữ và nền văn hóa khác nhau.
Qua nhiều thế kỷ, hải cảng này đã đón nhận các thương nhân, người tị nạn, thủy thủ và người di dân từ khắp vùng Địa Trung Hải cũng như nhiều nơi khác. Trong thập niên 1980 và 1990, tính đa văn hóa của Marseille càng trở nên rõ nét hơn trong các cuộc tranh luận công cộng, cùng với những bàn luận về nhập cư, bất bình đẳng xã hội và tính thế tục. Ngày nay, thành phố này thường được xem như biểu tượng của sự chung sống, dù đồng thời vẫn mang trong mình những căng thẳng, thách đố xã hội và các vấn đề liên quan đến sự hội nhập.
Trong bối cảnh đa dạng ấy, nhiều sáng kiến đối thoại liên tôn cũng được hình thành giữa các cộng đồng Hồi giáo, Do Thái giáo và Kitô giáo. Những cuộc gặp gỡ thường ngày, các tương quan láng giềng và các hoạt động bác ái đã góp phần xây dựng sự tôn trọng lẫn nhau và hòa bình xã hội.
Người ta cho rằng các Anh Em Hèn Mọn đầu tiên đã đến Marseille từ những năm 1220. Ngày nay, tại giáo xứ La Sainte-Trinité (Chúa Ba Ngôi), gần Cảng Cổ, có một huynh đệ đoàn quốc tế gồm năm tu sĩ, trong độ tuổi từ 35 đến 76. Phụ trách cộng đoàn, anh Jean-Damascène Kuma, đến Pháp từ Togo cách đây bảy năm; cha sở giáo xứ, anh Joseph Phạm Đình Phụng, là một nhà truyền giáo trẻ đến từ Việt Nam; anh Patrick Sham, thành viên của nhóm phục vụ đối thoại của giáo phận, đến từ Mauritius. Hai thành viên còn lại của cộng đoàn, anh Florent Nibel và anh Alain Paget, là người Pháp nhưng lần lượt đến từ Alsace và Burgundy.
Huynh đệ đoàn sống đơn sơ trong một khu phố đa số là người Hồi giáo, chia sẻ đời sống với người dân địa phương và phục vụ trong tinh thần huynh đệ sâu sắc. Các tu sĩ cũng thay phiên nhau chuẩn bị bữa ăn: luôn có bánh mì baguette vào bữa sáng, cơm trên bàn ăn mỗi ngày với các loại nước sốt cay dùng kèm, và phô mai Pháp ngon vào cuối mỗi bữa ăn. Đó là một dấu chỉ đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa của một tình huynh đệ biết đón nhận những nền văn hóa khác nhau mà không xóa bỏ bản sắc của chúng.
Các sứ vụ của các tu sĩ bao gồm mục vụ giáo xứ và bác ái, chăm sóc cộng đồng người Gypsy, mở lớp tiếng Pháp cho người di dân, đối thoại liên tôn và đồng hành với Gia đình Phan Sinh, bao gồm các nữ đan sĩ Clara Nghèo và Huynh đoàn Phan Sinh Tại Thế của miền, kể cả đảo Corsica.
Đan viện Thánh Clara cũng làm chứng cho chiều kích quốc tế này. Được thành lập năm 1254 bởi chân phước Beatrice thành Assisi, em gái của thánh Clara, đan viện hiện có mười lăm nữ tu: bốn chị người Pháp, một chị người Ấn Độ và mười chị người Việt Nam, đến trong nhiều đợt kể từ năm 2006 nhờ sự cộng tác với đan viện Thủ Đức tại Việt Nam.
Các nữ tu Việt Nam chia sẻ những khó khăn trong việc học ngôn ngữ và thích nghi với một nền văn hóa mới, nhưng đồng thời cũng cảm nhận được sự phong phú của đời sống chung với các chị em đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Dù có những khác biệt và thử thách, họ vẫn làm chứng rằng niềm vui của ơn gọi, tình huynh đệ và đời sống trong Thiên Chúa có thể được sống ở bất cứ nơi đâu. Một nữ thỉnh sinh trẻ người Việt đơn sơ nói: “Niềm hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời tôi ở chính nơi này. Như thế là đủ.”
Nguồn:https://ofm.org/en/franciscan-missions-to-migrants-and-migrant-missionaries-in-marseille.html
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.