Bài Giảng Lễ An Táng Cha Inhaxiô Ngô Đình Phán, ofm
Bài Giảng Lễ An Táng Cha Inhaxiô Ngô Đình Phán
“Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”
( Kn 3, 1-6.9; Rm 8,14-23; Ga 6,37-40)
Phaolô Nguyễn Đình Vịnh, ofm
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ, kính thưa quý cha, quý tu sĩ nam nữ, quý thân nhân, ân nhân và bằng hữu của cha Ignatio Ngô Đình Phán.
Hôm nay, trong bầu khí thánh thiêng nhưng cũng chan chứa niềm thương tiếc, chúng ta cùng quy tụ nơi đây để dâng Thánh lễ an táng, tiễn biệt người anh em, người cha, người mục tử của chúng ta về nhà Cha trên trời.
Sự ra đi của một người thân yêu luôn để lại trong lòng chúng ta nỗi buồn, sự hụt hẫng và niềm tiếc nhớ. Nhưng đối với người Kitô hữu, nhất là đối với một người con của thánh Phanxicô, cái chết không phải là dấu chấm hết, mà là cuộc Vượt Qua, là cuộc trở về, là giờ phút được ôm lấy điều mà cả đời mình đã tin, đã sống và đã loan báo.
Chính vì thế, Lời Chúa hôm nay trong Tin Mừng theo thánh Gioan mở ra cho chúng ta một ánh sáng đầy an ủi: “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai… và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.” Ga 6,37-40 là bản tuyên xưng của niềm hy vọng. Đức Giêsu không hứa với chúng ta một cuộc đời không có đau khổ, không có tuổi già, không có bệnh tật, không có chia ly. Nhưng Ngài hứa một điều lớn lao hơn: ai đến với Ngài, ai tin vào Ngài, thì sẽ không bị hư mất, và sẽ được sống lại. “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”
Hôm nay, trước linh cữu của cha Ignatio, chúng ta không chỉ nhớ đến một con người đã sống 91 năm trên trần gian, không chỉ nhớ đến 58 năm khấn Dòng, 55 năm linh mục, nhưng còn chiêm ngắm một hành trình đức tin rất đẹp: hành trình của một người đã đến với Chúa, ở lại với Chúa, và phục vụ Chúa nơi những người bé mọn. Con xin được nói về Cha Ignatio Phán như một người đàn em, một người học trò vì cha Ignatio là phụ tá Giám sư tiền Tập viện của chúng con từ năm 1971-1974 tại Cầu Ông Lãnh.
Một cuộc đời thuộc trọn về Chúa: Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh điều này: “Ý của Đấng đã sai Thầy là tất cả những kẻ Người đã ban cho Thầy, Thầy sẽ không để mất một ai.” Khi một người bước vào đời sống thánh hiến, tuyên khấn trong Dòng, rồi lãnh nhận thiên chức linh mục, người ấy không còn sống cho riêng mình nữa, nhưng thuộc trọn về Chúa Kitô. Cuộc đời của cha là một minh chứng âm thầm nhưng bền bỉ cho sự thuộc trọn ấy. Suốt 58 năm đời tu, 55 năm linh mục, cha đã sống không phải để tìm mình, nhưng để tìm ý Chúa. Điều đáng quý nơi ngài không phải chỉ là tuổi đời cao, hay số năm phục vụ dài, nhưng là sự trung tín trong từng chặng đường. Trung tín lúc khỏe mạnh cũng như lúc yếu đau; trung tín khi còn hăng say hoạt động cũng như khi đã về nhà an hưu dưỡng từ năm 2023; Ngài đã chiến đấu với bệnh tật và tuổi già một cách kiên cường và vui vẻ, không một lời than trách. Một đời tận hiến như thế nhắc cho chúng ta nhớ rằng: điều làm nên giá trị của một tu sĩ Phan Sinh, của một linh mục, không hệ tại ở những gì bên ngoài, nhưng ở chỗ người ấy có thực sự để cho Chúa chiếm hữu và dẫn dắt đời mình hay không. Cha Ignatio đã trung thành cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời mình: buổi sáng Ngài vẫn còn tham dự Thánh Lễ với anh em, và trước giây phút lìa đời ngài vẫn kêu cứu lòng thương xót và Danh Thánh Chúa. Ngài đã đón tiếp Chị Chết như cách mà thánh Phanxico đã làm cách đây 800 năm.
Một người con đích thực của thánh Phanxicô: sống nghèo, yêu người nghèo. Nhắc đến một tu sĩ Phan Sinh, chúng ta nghĩ ngay đến bốn nét rất đặc biệt: nghèo khó, khiêm nhường, huynh đệ, và yêu mến tạo vật. Nơi cha Ignatio, những nét ấy không chỉ là khẩu hiệu, nhưng là lối sống cụ thể. Ngài không phải là một người trí thức được học hành cao, nhưng Ngài đã ra sức phát triển những gì Chúa ban để phụng sự Chúa và phục vụ người nghèo cũng như anh em trong Tỉnh Dòng. Ngài thuộc loại “nói ít, làm nhiều” và “Lao động để sống, chứ không phải sống để lao động”. Lao động phải có ý nghĩa cao cả là cộng tác vào công trình sáng tạo và nuôi sống con người một cách xứng đáng. Có thể nói ngài là một “nghệ sĩ lao động”, vừa là nhà thơ, vừa là người đi tìm cái đẹp trong cuộc sống binh dị. Ngài có một cái nhìn về xã hội một cách rất sâu sắc và thực tế. Sau 1975, con không có dịp sống gần ngài mà chỉ nghe nói về cha và hợp tác xã mành trúc Đồng Tâm. Như anh chị em đã nghe trong phần tiểu sử đầu lễ, sau 1975 các nhà Dòng ở thành phố lâm vào khủng hoảng, vì các việc làm trước đây bây giờ không được tiếp tục làm nữa, đầy các tu sĩ vào tình trạng thất nghiệp và thiếu thốn. Với chút tài khéo tay ngài đã thành lập tổ sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại Tiểu Chủng viện Sài gòn cho các tu sĩ, rồi mở rộng ra cho dân nghèo thất nghiệp trong thành phố và trở thành hợp tác xã Đồng Tâm sau một thời gian tại Cộng đoàn Cầu Ông Lãnh. Khâu nguyên liệu, khai thác, chế biến đã giải quyết công ăn việc làm cho nhiều nông dân, công nhân. Khâu sáng tạo chế tác cũng đem lại việc làm cho rất nhiều người có tay nghề và khiếu thẩm mỹ cao hơn. Cũng do Chúa quan phòng, thị trường Đông Âu trong khối xã hội chủ nghĩa rất ưa chuộng sản phẩm này. Nhưng khi khối Đông Âu sụp đổ vào khoảng năm 1993, và Việt Nam đi vào thời kì đổi mới, thị trường giảm dần. Trước tình hình mới cha đã tìm cách thích ứng với thời đại mới. Có một chi tiết mà các thế hệ sau này ít biết: có lẽ vì sự dấn thân cho người nghèo qua hợp tác xã Đồng Tâm và tinh thần khiêm tốn cộng tác, ngài đã hai nhiệm kì được bầu vào Hội đồng nhân dân thành phố, và đóng góp cho tiếng nói của người dân nghèo. Con còn nhớ một lần ngài chia sẻ: trong một buổi họp có cả chủ tịch Thành phố Trương Tấn Sang thời bấy giờ ngài đã gởi một đơn xin Nhà nước hoàn trả lại toàn bộ đất đai và nhà cửa tu viện Phanxico Thủ đức cho Tỉnh dòng. Và chính quyền thành phố đã chấp nhận. Được như thế có lẽ là do sự cộng tác chân thành và tinh thần hòa bình đối thoại của cha Ignatio. Ngày nay chúng ta có được một không gian rộng rãi để sinh hoạt như thế này cũng một phần nhờ vào công ơn của Ngài. Sau khi lấy lại được đất đai và cơ sở cha Ignatio mới thành lập Công Ty Xi mạ Phan sinh ở Thủ Đức, với sự hợp tác với chuyên viên người Nhật gốc Việt nam, mục đích là chuẩn bị cho những người trẻ đi vào thời kì công nghiệp, đòi hỏi những hiểu biết về khoa học kĩ thuật và tay nghề cao, cũng như đóng góp vào quỹ bác ái xã hội của tỉnh Dòng. Công việc này cũng đóng góp vào việc phụng tự: chế tác và xi mạ các chén dĩa thánh, và các đồ thừa tự, như lời Cha Thánh nhắc nhở. Từ năm 1994 đến năm 2009, công ty phát triển tốt đẹp, tuy phải di dời ba lần: từ nhà cơm cộng đoàn sang nhà chơi cũ của chủng viện, đến cơ sở mới, bây giờ biến thành thư viện. Trong những lần di dời này, bản thân con cũng trực tiếp tham dự và làm việc với ngài. Con cảm nhận ngài là người hi sinh cho việc chung, và ưu tiên cho công việc huấn luyện anh em trẻ, nên ngài đã chấp nhận một cách vui vẻ với tinh thần cộng tác huynh đệ. Vào khoảng năm 2009, khi tuổi già sức yếu và bệnh tật Ngài muốn xin nghỉ hưu và thôi chức giám đốc , nhưng anh em không ai chịu tiếp nối công việc, nên Ngài đành chấp nhận mời người ngoài. Và quả thật “con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng khi xử sự với người đồng loại”. Ngài bị cuốn vào một cuộc kiện tụng kéo dài. Vào thời gian này con đang là phó giám tỉnh và giám sư Học viện nên phải giúp Ngài và Tỉnh Dòng giải quyết vấn đề. Đây là thời gian Ngài trải qua khủng hoảng và đau khổ nhất, nhưng với tinh thần vâng phục, khiêm hạ, hèn mọn, cầu nguyện và phó thác vào Chúa, Chúa đã giúp ngài vượt qua được giai đoạn đen tối này, như lời trong sách khôn ngoan: “Người đời nghĩ rằng họ bị trừng phạt nhưng họ vẫn chứa chan hi vọng...sau khi chịu sửa dạy dạy đôi chút, họ sẽ được hưởng ân huệ lớn lao. Quả thế Thiên Chúa đã thử thách họ và thấy họ xứng đáng với người” (Kn 3,4-5)
Ngài là một người anh em hèn mọn thích sống với anh em: Ngài không phải là người “việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng”, hay “việc ngoài thì nổi, việc nhà thì lặn”, đọc lại tiểu sử cuộc đời của Ngài ta thấy ngài đã đảm nhiệm nhiều công việc phục vụ anh em trong Dòng như làm phụ tá giám sư tiền tập viện, làm phó giám tỉnh trong 6 năm, và đặc trách công tác Tông đồ xã hội trong nhiều năm. Qua nhiều năm cùng làm việc với ngài và qua cung cách sống với anh em trong cộng đoàn, ai cũng yêu mến và gần gủi với ngài.
Ngài là người yêu mến cái đẹp và yêu mến thiên nhiên: ngay cả khi xây dựng nhà xưởng xi mạ, ngài cũng lo đến môi trường xanh sạch đẹp vì sức khỏe của công nhân viên, Trước văn phòng cũ là một giàn bông giấy nhiều màu thật đẹp, có hồ cá với hòn non bộ để tạo sự sinh động, và đàng trước và bên hông nhà là hai hàng cây Osaka, rực vàng vào mùa Phục sinh. Trước khi sang nhà Hưu Dưỡng, khi sức khỏe còn cho phép ngài đã chăm một dày chậu Bonsai nhỏ nhỏ xinh xinh, uốn nắn rất công phu và nghệ thuật. Ngài cũng tỉ mỉ làm những cỗ tràng hạt Phan sinh, có hình các thánh trong Dòng để quảng bá tràng chuỗi Phan sinh và tỏ lòng yêu mến các Thánh. Lúc về già Ngài cũng sáng tác thơ về những trăn trở cuộc đời và những ươc vọng đời tu. Tôi cũng đã được ngài tặng hai tập thơ, chắc phải tìm đọc lại để tưởng nhớ và hiểu hơn về một người anh khả kính.
Thánh Phanxicô đã chọn sống giữa những người bé mọn. Cha Ignatio của chúng ta cũng đã sống như vậy. Và vì thế, cuộc đời ngài mang rõ nét tinh thần Phan Sinh:
không sở hữu cho mình. • không tìm vinh quang cho mình.• nhưng để cuộc đời trở thành món quà cho anh em, nhất là cho người nghèo.
Điều cha Ignatio để lại cho chúng ta Sự ra đi của cha Ignatio Phán không chỉ là một mất mát, mà còn là một lời nhắn gửi cho tất cả chúng ta. Với anh em linh mục và tu sĩ: Cha Ignatio nhắc chúng ta rằng đời tận hiến không hệ tại ở những gì rực rỡ bên ngoài, nhưng ở sự trung tín mỗi ngày; không hệ tại ở việc làm lớn hay nhỏ, nhưng ở tình yêu lớn hay nhỏ trong những việc mình làm. Với anh chị em giáo dân: Cha nhắc chúng ta rằng sống đạo không phải chỉ là đọc kinh đi lễ, mà còn là biết mở lòng với người nghèo, biết chia sẻ cơm áo, biết trở nên khí cụ bình an và hy vọng cho người khác.
Với gia đình Phan Sinh: Cha Ignatio là một lời mời gọi hãy trở về với căn tính của mình: sống đơn sơ hơn, nghèo khó hơn, gần người nghèo hơn, và vui tươi phó thác hơn.
Với tất cả chúng ta: Cuộc đời 91 năm của cha đặt ra cho mỗi người câu hỏi rất thật: Khi đến giờ ra đi, điều gì sẽ còn lại?
Không phải tiền bạc. Không phải chức vụ. Không phải thành tích. Nhưng là tình yêu ta đã trao, đức tin ta đã giữ, và lòng cậy trông ta đã đặt nơi Thiên Chúa.
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.