ISSN xxxx-xxxx (Online)
Main Banner
Thánh Grêgôriô (03/09) - Thánh Gioan Kim Khẩu (13/09) - Suy tôn Thánh Giá (14/09) - Thánh Cornêliô và Thánh Cyprian (16/09) - Thánh Phanxicô in 5 dấu - Thánh Lễ Khấn Trọng (17/09) - Thánh Giuse Côpetinô (18/09) - Thánh Andre Kim, Phaolô Chung (20/09) - Thánh Mátthêu (21/09) - Thánh Piô Piêtrenchina (PS) (23/09) - Thánh Vinhsơn Phaolô (27/09) - Thánh Têrêsa Hài Đồng (01/10) - Các Thiên Thần Hộ Thủ (02/10) - Tưởng niệm giờ Cha Thánh Phanxicô lâm chung (03/10) - Đại lễ Cha Thánh Phanxicô (04/10) - Đức Mẹ Mân Côi (07/10) - Thánh Têrêsa Giêsu (15/10) - Thánh Ignhatiô (17/10) - Thánh Luca (18/10) - Thánh Phêrô Ancăntara (PS) (19/10) - Thánh Gioan Capestranô (PS) (23/10)
Ngôn ngữ

Tôma Celanô - Truyện ký Thánh Phanxicô

BTT OFMVN 01
BTT OFMVN 01
2026-03-13 10:54 UTC+7 215

Tác giả Tiểu Sử Thánh Phanxicô (thường gọi là Vita Prima – Hạnh Thứ Nhất) và Tưởng Nhớ Trong Tâm Tình Ước Mong (thường gọi là Vita Secunda – Hạnh Thứ Hai) không đề tên mình trên bìa sách. Những người chép lại cũng không nêu tên tác giả. Dựa vào các sử liệu khác, chúng ta biết được tên ông viết theo La ngữ là Thomas De Celano, tức Tôma quê ở Celano[a]. Ông được đào tạo vững chắc về văn học và Thánh Kinh, và có nhiều khả năng đã là một giáo sĩ trước khi gia nhập cộng đoàn tu trì của các Anh Em Hèn Mọn.

Các tác phẩm của ông chứng tỏ ông có vốn liếng từ ngữ phong phú và khả năng vận dụng các biện pháp tu từ cách điêu luyện. Ông nắm vững nghệ thuật cursus, tức phương pháp làm cho câu Latinh đọc lên có nhịp nhàng tiết điệu. Dù đã nhiều lần phủ nhận, nhưng ông hoàn toàn không phải là một người quê mùa ít học. Ông hiểu biết tường tận Thánh Kinh, cả Cựu lẫn Tân Ước và thấm nhuần phụng vụ. Ông rành rẽ thể loại văn chương hạnh tích các thánh, như Tiểu Sử Đức Viện Phụ Antôn của Atanasiô, Tiểu Sử Thánh Máctinô của Sulpicius Severus, Tiểu Sử Đức Hilarion Ẩn Tu của Hiêrônimô, Tiểu Sử Thánh Biển Đức trong bộ Đối Thoại của Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả, cũng như một số tiểu sử và hạnh tích của Thánh Bênađô Viện Phụ Clairvaux. Ông thông thạo các tác giả Latinh kinh điển, đặc biệt là Seneca, cũng như đã từng đọc kỹ Cicero, Sallustius, Vergilius (Virgil). Ông thấm nhuần tư tưởng các Giáo Phụ và các tác giả thời danh của thế kỷ XII: Thánh Augustinô, Thánh Hiêrônimô, Thánh Grêgôriô Cả, Thánh Isiđôrô Sevilla, Hughes tu sĩ đan viện Saint-Victor và nhất là Thánh Bênađô viện phụ Clairvaux.

Ông vừa có kiến thức sâu rộng về Thánh Kinh và các Giáo Phụ vừa có văn tài. Ông biết vận dụng cách tinh tế và thâm sâu các lớp ý nghĩa khác nhau trong Thánh Kinh, đọc thấu nghĩa ẩn đàng sau nghĩa hiện, nhìn ra nghĩa ẩn dụ bên dưới các sự kiện lịch sử, nắm được ý của dấu hiệu ẩn đàng sau sự kiện. Ngược lại, ông cũng biết cách biến ẩn dụ thành truyện ký. Ông chuyển từ lối văn kể chuyện sang lối văn diễn giải cách dễ dàng và khéo léo. Đối với ông, thiên nhiên là một quyển sách cần phải giải mã. Với những ai biết cách đọc và nắm bắt ý nghĩa, sách ấy cho biết ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. 

Vào năm 1215, Tôma Celano được đích thân Thánh Phanxicô nhận vào cộng đoàn tu trì của các Anh Em Hèn Mọn, lúc ấy đang phát triển mạnh mẽ. Ông là thành viên của phái đoàn thứ hai được gửi sang Đức Quốc vào năm 1221 dưới sự lãnh đạo của tu sĩ Kêsa người thành Speyer.

Vào năm 1223, ông được tu sĩ Kêsa bổ nhiệm làm Giám Hạt của miền Mainz, Worms, Köln và Speyer, sau đó làm Phó Phục Vụ của Tỉnh Dòng Đức. Không biết rõ khi nào Tôma trở lại Italia: có khả năng là ông không có mặt lúc Thánh Phanxicô lìa trần vào năm 1226, nhưng có mặt lúc ngài được phong thánh vào năm 1128. Chính vào thời điểm ấy Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX đã giao cho ông việc soạn thảo Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô. Điều này chứng tỏ ông được coi là một trong những người giỏi văn chương nhất trong Dòng Anh Em Hèn Mọn, đồng thời là người có những quan điểm về tương lai của Dòng giống như Đức Giáo Hoàng. Có thể ông đã lưu lại Assisi ít nhất là cho đến khi thi hài Thánh Phanxicô được cải táng vào năm 1230. Đây cũng có thể là năm ông đã soạn – hoặc góp công soạn – tác phẩm Tiểu Sử Dùng Trong Ca Toà. Các đấng bề trên đã ban cho ông một thánh tích của Thánh Phanxicô để thưởng cho công sức viết tiểu sử. 

Người ta gặp lại ông ở Italia vào những năm cuối thập niên 1220. Khi ấy ông cư trú tại Sacro Convento ở Assisi và biên soạn tác phẩm Tiểu Sử Umbria, rồi tiếp theo là hai phần của tác phầm Tưởng Nhớ, hoàn thành vào những năm đầu của thập kỷ 1250. Năm 1255 ông soạn tác phẩm Tiểu Sử Thánh Clara Trinh Nữ. Tiếp sau ông lui về ẩn cư tại đan viện của các nữ tu Clara ở San Giovanni in Val di Varri trong miền Abruzzo. Có khả năng ông qua đời và được chôn cất ở đấy vào năm 1260. Sau đó thi thể của ông được cải táng vào khoảng năm 1516 hay 1517 và đưa về nhà thờ của các Anh Em Hèn Mọn trong thành phố Tagliacozzo gần đó.

Các bản chép tay và bố cục 
của Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô

Trong một thời gian dài trước đây, Vita Prima của Tôma Celano được coi là một tác phẩm xu thời, cố tình làm nhạt sứ điệp và kinh nghiệm của Thánh Phanxicô để phù hợp với hình ảnh mà Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX và vị tổng quyền cũ là anh Êlia muốn quảng bá: một vị thánh luôn tùng phục mọi đàng Giáo Hội Roma. Ngày nay không còn ai phủ nhận rằng Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô, cùng với các bản văn của chính Thánh Phanxicô, là chứng từ quan trọng nhất về đấng thánh người thành Assisi. Không phải tất cả các sự việc thuật lại trong đó đều có căn cứ lịch sử, nhưng các truyện ký về sau, dù được viết ra để cải chính hoặc ngay cả nói ngược lại ông, trong nhiều trường hợp cũng chỉ là những thêu dệt thêm vào cái nền có sẵn của Tôma Celano.

Trong số hai mươi mốt bản chép tay được biết đến của tác phẩm, hai bản đã thất lạc, tám bản được lưu giữ trong các đan viện Xitô, ba bản trong các đan viện Biển Đức, chỉ có năm bản trong các tu viện Phan Sinh với một bản trong đan viện Clara[b], số còn lại nằm trong các thư viện của các kinh sĩ nhà thờ chánh toà. Bản văn La ngữ được Constantin Suysken thuộc hội Bollandiste[c] xuất bản lần đầu tiên vào năm 1768 và nằm trong bộ Acta sanctorum[d]. Ấn bản có hiệu đính được Michel Bihl thực hiện và xuất bản năm 1926, thuộc quyển 1 của tập X trong bộ Analecta franciscana (Văn Tuyển Phan Sinh)[e]. Không có một bản chép tay nào mang nhan đề là Vita Prima. Hai tiêu đề thường gặp nhất là “Tại đây bắt đầu lời tựa Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô ” hoặc “Tại đây bắt đầu lời tựa Cuộc Đời Thánh Phanxicô”. Trong bản dịch sau đây, tác phẩm được gọi là Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô, cho dù có nhiều chỗ để tiện lợi vẫn gọi theo tên cũ là Vita Prima, hoặc 1 Celano.

Vì trong phần tường thuật Tôma Celano có kể lại việc phong thánh cho Phanxicô, tiến hành vào  ngày 16 tháng Bảy năm 1228, nhưng lại không nhắc gì đến việc di chuyển hài cốt của ngài từ nhà thờ San Giogiô đến Vương Cung Thánh Đường San Francesco, diễn ra vào ngày 25 tháng 5, năm 1230, nên người ta suy rằng Tôma Celano đã soạn Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô trong khoảng thời gian giữa hai biến cố ấy, tức là giữa các năm 1228 và 1230.

Trong phần Lời Tựa, Tôma Celano cho biết đã viết Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX. Việc này đem lại cho tác phẩm một uy tín lớn. Đôi khi người ta còn gọi đấy là Vita Gregorii (Tiểu Sử Thánh Phanxicô của Đức Grêgôriô). Tác giả nêu rõ các thông tin được ghi lại đều dựa trên những điều chính mình đã chứng kiến hoặc trên lời thuật của các chứng nhân đáng tin cậy. Bố cục được loan báo sẽ gồm ba phần chính: phần thứ nhất dành cho cuộc đời Thánh Phanxicô cho đến hai năm trước khi chết cùng một số phép lạ ngài làm khi còn sống; phần thứ hai dành cho hai năm cuối đời của thánh nhân; phần thứ ba thuật lại các phép lạ ngài làm sau khi qua đời rồi đến bản tường thuật việc phong thánh cho ngài (trong thực tế Tôma tường thuật việc phòng thánh trước).

Tôma dụng tâm viết như một sử gia, trước hết bằng cách tôn trọng tối đa thứ tự thời gian[f]. Khi dựa trên lời kể của người khác, ông luôn tìm cách cho biết danh tánh của người cung cấp thông tin, dù nhiều khi một cách khá kín đáo. Từ lúc Thánh Phanxicô có những người bạn đồng hành, Tôma có thêm nhiều chứng nhân về cuộc sống cũng như về các phép lạ ngài làm. Nhưng về những năm tháng trước khi có các anh em tiên khởi, nguồn thông tin hiếm hơn. Tác giả buộc phải dựa trên những chi tiết tự thuật rất mong manh tìm được trong Di Chúccủa thánh nhân, rồi sau đó bổ túc bằng các tình tiết mang tính chất quy ước của thể văn hạnh tích có thể tìm thấy trong quyển Tự Thuật của Thánh Augustinô hoặc trong hạnh các thánh trước đó như Tiểu Sử Thánh Máctinô, Tiểu Sử Thánh Biển Đức. 

Phần thứ hai thuật lại những việc xảy ra trong hai năm cuối cuộc đời Thánh Phanxicô. Ở đây công việc của Tôma Celano có phần dễ dàng hơn vì có rất nhiều người chứng kiến các biến cố xảy ra trong quãng thời gian này. Tác giả lại còn có thể dựa vào hai văn bản chính thức: trước hết là lá thư chung của anh Êlia viết ngay ngày hôm sau Thánh Phanxicô qua đời[g] để thông báo biến cố cho các anh em và sau đó là sắc chỉ Mira Circa Nos của Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX, ban hành ngày 19 tháng 7, 1228, công bố việc ghi danh Phanxicô vào sổ bộ các thánh. Anh Êlia là người bạn đồng hành gần gủi và là phó của Thánh Phanxicô. Đức Grêgôriô IX biết rõ con người đền tội thành Asssisi vì khi còn là Hồng Y Ugôlinô, ngài đã từng làm Hồng Y bảo trợ của Dòng[h]. Tuy nhiên ở đây có một vấn đề: anh Êlia trong lá thư chung loan báo việc Cha Thánh chịu năm dấu như một phép lạ hy hữu, nhưng trong sắc chỉ phong thánh của Đức Grêgôriô IX lại không thấy nêu lên cách minh nhiên. Chỉ có một chỗ ám chỉ khi nói đến việc Thánh Phanxicô đã đóng đinh tính xác thịt mình vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê[i] và tiếp theo là câu trích trong thư gửi tín hữu Galata:“Tôi sống, không còn phải là tôi sống nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”[j]. Trong các thư văn của Thánh Phanxicô, không có bất kỳ một chỗ nào nhắc đến các dấu thánh. Theo chính Tôma Celano, khi còn sống ngài hết sức cẩn thận che giấu các vết thương và không hề nói gì về nguồn gốc của chúng[k]. 

Phần thứ ba tường thuật việc phong thánh và cách phép lạ đúng là ngắn hơn cả nhưng lại được tường thuật với nhiều chi tiết hơn cả. Lý do thứ nhất là nhiều khả năng tác giả đã có mặt tại các cuộc lễ và đã có cơ hội tiếp xúc với các nhân vật tham gia vào các sự kiện ấy. Lý do thứ hai là vì các phép la, xảy ra khi thánh nhân còn sống hoặc sau khi đã qua đời, chắc chắn là những sự kiện được ghi chép vào sổ bộ trong quá trình điều tra phong thánh. Tôma chỉ có việc gom góp những điều mình vừa mới chứng kiến và sắp xếp lại cùng với các thông tin đã thu thập được để soạn phần cuối này.

Ý nghĩa và số phận 
của Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô

Tác phẩm đã truyền đạt một hình tượng như thế nào về Thánh Phanxicô? Theo đúng yêu cầu của sắc chỉ phong thánh Mira Circa Nos, Tôma Celano đã viết tác phẩm theo lối văn hạnh tích, thuộc loại Tiểu sử các thánh Hiển tu và thuộc tiểu loại Tiểu sử các thánh Đền tội. Phanxicô là một người tội lỗi ăn năn trở lại, là một người đã lấm bùn đen của thế gian trước khi biết hướng về trời, một người đã bị đạo binh trần thế thu hút trước khi xin gia nhập đạo binh của Chúa Kitô. Vì thế cần nhấn mạnh đến việc ăn năn trở lại: đây là một quá trình kéo dài, tiệm tiến, giống như thời gian ủ, cần thiết cho hạt giống cứu độ nảy mầm, hoặc thời gian con tằm làm kén trước khi hoá thành bướm[l]. Phanxicô không phải là một đấng thánh tinh tuyền, không vết nhơ. Ngài là một người hoán cải[m], đồng thời cũng là một vị tử vì đạo lỡ cơ hội và do đó được bù lại bằng phép lạ các dấu thánh.

Theo cách trình bày của Tôma Celanô, con người hoán cải ấy đã dấn bước đi theo vết chân Chúa Kitô, giống như các thánh Tông đồ: kiểu mẫu ở đây là đi theo Chúa Kitô (sequela Christi) chứ không phải bắt chước để đồng hoá với Chúa Kitô (imitatio Christi). Ví dụ, khi các anh em đi lên Roma để xin Đức Giáo Hoàng Innôxentiô III chuẩn y lối sống, họ gồm có mười hai người, kể cả Phanxicô[n]. Tôma cũng không bỏ qua một dịp nào để nhấn mạnh đến tính chất mới mẻ của thánh nhân. Ngài là nhân vật mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử cứu độ[o]. Ngài là một sứ giả mới của Phúc Âm[p] vì phần chính công việc của ngài là loan báo Tin Mừng. Nhưng Tôma không lẫn lộn giữa Chúa và người bề tôi. Các dấu thánh hiện lên trên da thịt của Phanxicô vì tâm hồn ngài đã thấm nhuần sự Thương Khó của Chúa[q]. Ngài trở nên giống thiên thần Sốt Mến vì lòng ngài cảm thông và bừng cháy lửa yêu mến Đấng Cứu Độ mình. Ngài vươn lên đến gần Thiên Chúa hơn cả trong phẩm trật thiên đình[r], nhưng ngài không đứng vào chỗ của Chúa Con. Tôma không hề nghi ngờ việc Thánh Phanxicô được in năm dấu thánh. Lời kể của ông về việc này cặn kẽ đến từng chi tiết và chắc chắn là rất xác thực[s]. Tuy nhiên về cách Thánh Phanxicô nhận các dấu thánh như thế nào, Tôma không che giấu việc mình không đủ yếu tố để thuật lại. Ông biết nguyên nhân sâu xa của các dấu thánh: đó là ngọn lửa tình yêu nung nấu Phanxicô. Nhưng nguyên nhân cụ thể thì ông không biết hoặc không muốn tiết lộ. Ông nêu lên dấu lạ và trình bày cho người đọc thấy ý nghĩa: năm dấu thánh là dấu chứng Phanxicô đã muốn theo sát Chúa Kitô và đã thành đạt ước nguyện. 

Tôma Celano cũng cẩn thận đưa ra nhiều bằng chứng về đức tin chính thống của Thánh Phanxicô: lòng tôn kính đối với các linh mục, kể cả đối với những vị đang sống trong tội lỗi[t], lòng sùng mộ đối với các nhà thờ[u], đối với các tượng thánh giá[v], đối với danh Thiên Chúa[w]. Đấy là các dấu đảm bảo rằng Phanxicô hoàn toàn không phải là một kẻ lạc giáo theo phái Pataria[x] hay Cathar[y]. Tuy nhiên không có lý do để cho rằng đây là một thủ pháp nhằm tô vẽ cho thánh nhân, chứ con người thật của ngài không phải như vậy. Đa số các đoạn nêu trên diễn lại các lời dạy chính Thánh Phanxicô viết trong các thư văn của ngài như các Huấn Ngôn, Luật Không Sắc Dụ và Luật Có Sắc Dụ, Bài Ca Anh Mặt Trời, cách riêng Di Chúc. Không thể bác bỏ việc Phanxicô cố ý muốn đặt nhóm những người đền tội của ngài dưới sự bảo trợ đặc biệt của Đức Giáo Hoàng và cũng như muốn trực tiếp phục vụ dưới quyền của Đức Giáo Hoàng. Hình ảnh một Phanxicô chống đối Hội Thánh Roma là một chuyện hoang tưởng, dựng lên vì lý do ý thức hệ. Không chỉ có tác phẩm Tiểu Sử Thứ Nhất này xác nhận điều đó, nhưng chủ yếu là các thư văn của chính Thánh Phanxicô.

Công việc của Tôma Celano không vì đó mà dễ dàng. Trước hết ít nhất có ba vấn đề tế nhị phải xử lý. Vấn đề thứ nhất là mối tương quan với Đức Giám Mục Assisi. Khi cùng với các bạn đến Roma với ý định trực tiếp xin Đức Giáo Hoàng chuẩn y luật sống của mình, Phanxicô có vẻ như không tôn trọng đấng bản quyền và không tuân thủ hệ thống phẩm trật trong Hội Thánh[z]. Nhưng đồng thời vẫn phải ghi chép sự việc này, và đây là vấn đề thứ hai. Có xác định sự việc xảy ra vào một thời điểm rất sớm[aa] thì việc Thánh Phanxicô thành lập Dòng Anh Em Hèn Mọn mới không vi phạm quyết định của Công Đồng Latêranô ban hành từ năm 1215. Quyết định này không cho phép viết ra một Luật Dòng và thành lập một Dòng nào mới. Vấn đề tế nhị thứ ba Tôma Celano gặp phải, đó là một đàng rõ ràng là Thánh Phanxicô ý thức ơn gọi của mình được mở ra cho nhiều người, và ngài đã quyết chí làm tất cả những gì cần thiết để biến dự phóng ấy thành hiện thực, nhưng đàng khác cũng có thể thấy là ngài không hoàn toàn hài lòng với kết quả: Tôma không nói gì về việc thánh nhân thoái vị, nhưng ông cũng hé lộ một phần sự bực dọc của đấng sáng lập trước các chuyển biến xảy ra trong Dòng mặc dầu Dòng do chính ngài lập ra.

Tác phẩm Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô có một ảnh hưởng rất lớn về mặt văn chương. Nó là mẫu cho Tiểu Sử Dùng Trong Ca Toà, Thần Tụng và Tiểu Sử Thánh Phanxicô do Giulianô Speyer soạn, Tiểu Sử Bằng Văn Vần của Henri Avranches, cùng nhiều hạnh tích dùng trong phụng vụ được soạn cả trong lẫn ngoài Dòng Anh Em Hèn Mọn. Từ rất sớm, tác phẩm đã được dịch sang tiếng Đức và tiếng Pháp[bb]. Nó là nguồn cung cấp tài liệu trực tiếp cho Tiểu Sử Umbria, Khuyết Danh Perugia, Truyện Ba Người Bạn, Khảo Luận Các Phép Lạ, và gián tiếp cho hai quyển Đại Truyện và Tiểu Truyện của Thánh Bonaventura, Các Việc Đức Hạnh Của Đấng Chân Phúc Phanxicô Và Các Bạn Đồng Hành Của Ngài, tiền thân bằng La ngữ của Fioretti (Những Bông Hoa Nhỏ)…

Tuy có tầm ảnh hưởng lớn về mặt văn chương nhưng tác phẩm lại ít được phổ biến. Có thể nói từ sau khi Phanxicô được phong thánh vào năm 1228, mỗi tu viện Anh Em Hèn Mọn hẳn phải có một bản hạnh tích của thánh nhân để đọc trong chín bài đọc của Giờ Kinh Rạng Đông[cc]. Mặc dầu tự bản chất Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô không phải là một hạnh tích được viết để đọc trong phụng vụ, nhưng vẫn có thể được dùng làm tài liệu cho các bài đọc ấy. Thêm nữa các việc nhân đức chép trong tác phẩm rất phù hợp với việc đọc ở bàn ăn. Như trường hợp bản chép tay tìm được tại đan viện Biển Đức ở Ripoll, niên đại vào khoảng 15 tháng 10 năm 1253, có mang dòng ghi chú: “Quyển Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô cần phải đọc tại nhà cơm”. Khi vào năm 1259, các đan sĩ Xitô cần có một hạnh tích để trích ra mười hai bài đọc dành cho các giờ kinh phụng vụ kính Thánh Phanxicô theo cách cử hành trong đan viện của họ, chắc chắn vị Tổng Phục Vụ lúc đó là Thánh Bônaventura đã gửi cho họ một bản chép Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô. Nhưng vào năm 1266 Tổng Tu Nghị Paris truyền tiêu huỷ tất cả các sách tiểu sử và hạnh tích có trước Đại Truyện, tìm thấy ở trong cũng như ngoài Dòng. Dĩ nhiên lệnh truyền này khó áp dụng trong các dòng tu khác hay trong các nhà thờ thuộc giáo phận. Chính vì thế mà như chúng tôi đã nói, trong số hai mươi mốt bản chép tay được biết hiện nay, mười một bản chép tay có nguồn gốc từ các đan viện Xitô hoặc Biển Đức, và một số khác có nguồn gốc từ các thư viện của các kinh sĩ nhà thờ chánh toà. 

Dễ có khuynh hướng coi năm bản chép tay xuất phát từ các tu viện của Dòng Anh Em Hèn Mọn như là những tài liệu may mắn thoát khỏi lệnh “đốt sách” ban hành năm 1266. Nhưng ngoại trừ một ít bản trong số đó – lại là những bản manh mún nhất – không có dấu hiệu nào chứng minh các bản chép tay này được hình thành trước năm 1266, thậm chí một số chắc chắn được chép sau đó. Các bản này có thể được chép sau năm 1276 khi Tổng Tu Nghị họp tại Padova, trong một quyết định đảo ngược quyết định năm 1266, yêu cầu các Tỉnh Dòng truy tìm và gom góp tất cả những gì thấy là đáng ghi nhớ “liên quan đến các việc đức hạnh của đấng vinh phúc Phanxicô và các anh em thánh thiện khác”[dd].

Vì thế không chắc bản La ngữ của tác phẩm Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô mà chúng ta hiện có tương ứng với bản Tôma Celano viết ra lần đầu. Marco Guida đã viện dẫn nhiều lý do rất xác đáng để cho rằng đoạn ca ngợi thánh nữ Clara và các Nữ Đan Sĩ Nghèo, chép trong phần nói về việc trùng tu nhà thờ Thánh Đamianô, đã được thêm vào theo lệnh của Đức Grêgôriô IX. Ngài là đấng ra lệnh viết hạnh tích, nên hoàn toàn là chuyện bình thường nếu ngài yêu cầu có những thêm bớt sửa đổi trước khi chuẩn y công việc[ee]. Để nắm rõ quá trình sao chép và lưu truyền tác phẩm Tiểu Sử Đấng Chân Phúc Phanxicô, cần phải thống kê đầy đủ các bản chép tay hiện có, khảo sát cặn kẽ từng bản và thiết lập bảng phổ hệ từ bản này sang bản khác. Cho đến nay công việc này chỉ mới ở giai đoạn phác thảo[ff].




[a] Celano, một thành phố thuộc tỉnh L’Aquila, miền Abruzzo, Trung nước Italia.

[b] J. Dalarun, Vers une résolution de la question franciscaine. La “Légende Ombrienne” de Thomas de Celano, Paris 2007, trg.64-66.

[c] Hội Bollandiste hoạt động từ những năm đầu thế kỷ XVII, quy tụ một số học giả về ngữ học và sử học, chuyên nghiên cứu hạnh tích và việc sùng kính các thánh. Ấn phẩm quan trọng nhất của họ là bộ Acta Sanctorum (Hạnh Các Thánh).

[d] Acta Sanctorum, Oct. II, Anvers, 2768, trg. 683-723.

[e] Fr. Thomas De Celano, Vita prima S. Francisci, trong Legendae S. Francisci Assisiensis saeculis XIII et XIV conscriptae, trg. 1-117.

[f] Tác giả nêu lên nguyên tắc này trong 1Cel, Lời tựa, c. 2.

[g] TÊl.

[h] 1Cel 73-74 và 99.

[i] Mira Circa Nos, 6; Gl 5,24.

[j] Mira Circa Nos, 6; Gl 2,20.

[k] Tôma Celano đã dựa vào chương 6 sách ngôn sứ Isaia để mô tả sự xuất hiện của người mang hình thiên thần Sốt Mến trên núi La Verna (1Cel 94).

[l] 1Cel 1-15.

[m] 1Cel 89.

[n] 1Cel 32.

[o] 1Cel 82-89,

[p] 1Cel 89.

[q] 1Cel 9 4.

[r] 1Cel 115.

[s] 1Cel 9 5 và 112-113. Xem M.F. Cusato, J. Dalarun, C. Salvati, The Stigmata of Francis of Assisi: New Studies, New Perpectives, St. Bonaventure (NY), 2006.

[t] 1Cel 9; 2; 46; 62; 75.

[u] 1Cel 8; 18; 21; 44-45; 71. 

[v] 1Cel 8; 22; 45; 48; 58; 66-67; 90; 9 3; 9 4; 9 9; 112; 114.

[w] 1Cel 82.

[x] Phong trào tôn giáo trong thế kỷ XII tại Bắc Italia kêu gọi cải tổ hàng giáo sĩ, ủng hộ các biện pháp của Toà Thánh chống lại việc buôn thần bán thánh.

[y] Giáo phái hoạt động mạnh mẽ từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIV tại miền Nam nước Pháp và Bắc Italia, chủ trương thanh tịnh khắc khổ, bài bác lối sống bị cho là thoái hoá của hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo.

[z] 1Cel 32.

[aa] 1Cel 43.

[bb] Xem M. Boriosi, “Traduire le franciscanisme. Introduction aux premières “vulgarisations” des légendes de saint François d’Assise (France-Italie, XIII-XV siècle)”, Collectanea franciscana, 67, 1977, trg. 389-430.

[cc] Tức Giờ Kinh Sách hiện nay.

[dd] “Definitiones capitulorum generalium Ordinis fratrum minorum. 126 0-1282 ”, Archivum franciscanum historicum,7, 19 14, trg.681.

[ee] M. Guida, “La pericope clariano-damianita di Vita beati Francisci VIII,18-20: un’aggiunta all’opera di Tommaso da Celano?” Collectanea franciscana, 77, 2007, trg.5-26.

[ff] X. M. Bihl, “De codicibus Vitae I s. Francisci Assisiensis auctore fr. Thoma Celanensi”, Archivum franciscanum historicum, 29, 1936, trg.273-307; 30, 1937, trg.3-30 và 257-281.

Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.

Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.

Đi tới Hỏi & Đáp