ISSN xxxx-xxxx (Online)
Main Banner
Thánh Grêgôriô (03/09) - Thánh Gioan Kim Khẩu (13/09) - Suy tôn Thánh Giá (14/09) - Thánh Cornêliô và Thánh Cyprian (16/09) - Thánh Phanxicô in 5 dấu - Thánh Lễ Khấn Trọng (17/09) - Thánh Giuse Côpetinô (18/09) - Thánh Andre Kim, Phaolô Chung (20/09) - Thánh Mátthêu (21/09) - Thánh Piô Piêtrenchina (PS) (23/09) - Thánh Vinhsơn Phaolô (27/09) - Thánh Têrêsa Hài Đồng (01/10) - Các Thiên Thần Hộ Thủ (02/10) - Tưởng niệm giờ Cha Thánh Phanxicô lâm chung (03/10) - Đại lễ Cha Thánh Phanxicô (04/10) - Đức Mẹ Mân Côi (07/10) - Thánh Têrêsa Giêsu (15/10) - Thánh Ignhatiô (17/10) - Thánh Luca (18/10) - Thánh Phêrô Ancăntara (PS) (19/10) - Thánh Gioan Capestranô (PS) (23/10)
Ngôn ngữ

Khi con chữ lênh đênh cùng biển cả

BTT OFMVN 02
BTT OFMVN 02
2026-07-05 15:25 UTC+7 273
1783236803828-5509307671371991146-5509307671371991146-fc432d20b912b9d4f8db7b6a9590eb3a-1783243354.jpg

Khi con chữ lênh đênh cùng biển cả

Truyền giáo đôi khi không bắt đầu bằng những kế hoạch lớn, mà bằng một buổi sáng ngồi bên biển, lắng nghe câu chuyện của người dân và nhận ra rằng một đứa trẻ đến trường cũng có thể là một dấu chỉ của Tin Mừng. Từ vài ngày ngắn ngủi tại một số đảo quanh Coron, Palawan, những dòng cảm nghiệm này là một ghi nhận nhỏ về con chữ đang lênh đênh cùng biển cả, và về lời mời gọi dành cho anh em tu sĩ trẻ chúng ta học cách hiện diện, lắng nghe và yêu mến nơi mình được sai đến.

Một lát cắt nhỏ từ Cagait

Có những nơi, để đến được lớp học, một đứa trẻ không chỉ mang theo tập vở và cây bút. Em còn mang theo nắng gió, con nước, chiếc thuyền nhỏ và cả những lo toan rất sớm của một gia đình nghèo.

Tôi viết những dòng này không như một người am hiểu đầy đủ về Palawan, nhất là về một số đảo quanh Coron, càng không như một người có khả năng đánh giá toàn diện về giáo dục tại Philippines. Tôi chỉ là một người ghé qua một vài đảo nhỏ, được sống ít ngày với anh em Phan Sinh, được nghe vài câu chuyện mục vụ, được ngồi bên biển trong một buổi sáng yên bình tại Cagait và được chạm nhẹ vào một lát cắt rất nhỏ của đời sống nơi đây.

Tôi cũng ý thức rằng Bộ Giáo dục Philippines, chính quyền địa phương, các thầy cô và nhiều tổ chức đã và đang thực hiện nhiều nỗ lực đáng trân trọng để đưa giáo dục đến với trẻ em ở các vùng xa. Vì thế, điều tôi xin chia sẻ không phải là một nhận định bao quát, mà chỉ là vài cảm nhận mục vụ từ những điều được thấy, được nghe và được anh em đang phục vụ tại đây gợi mở qua các cuộc trò chuyện, đặc biệt là anh Andrew Litigio, OFM. Từ một góc nhìn nhỏ bé và giới hạn ấy, tôi chỉ muốn ghi lại đôi điều đã đánh động bản thân.

Hiện nay, Điểm Truyền giáo Phan Sinh tại Palawan có hai anh em đang hiện diện và phục vụ: anh Andrew Litigio, OFM, và anh Adrian Fedelin, OFM. Trước đó, nơi đây đã có sự hiện diện của anh Alejo Villanueva, OFM, anh Rhodel Abab, OFM, và anh Marvin Niebla, OFM. Dấu chân của anh em đã đi qua nhiều đảo nhỏ, nhiều cộng đoàn xa xôi và nhiều hành trình mục vụ mà người ta khó có thể hiểu hết nếu chỉ nhìn trên bản đồ.

Theo nhịp sinh hoạt mục vụ hằng tháng, anh em thường thay nhau thăm viếng các cộng đoàn. Tuần thứ nhất, anh em đến Canipo và Bulalacao. Tuần thứ hai, anh em đến Boluk Bolokaw. Tuần thứ ba, anh em đến San Pablo và San Pedro. Tuần thứ tư, anh em đến Biong và Magsalida. Riêng Cagait là nơi dừng chân, nơi ở trung chuyển và cũng là mái nhà huynh đệ để anh em trở về sau những ngày dài lênh đênh trên biển.

Sau những chuyến đi ấy, có những buổi sáng chúng tôi ngồi bên căn chòi tre đơn sơ nhìn ra biển. Nhà của Điểm Phan Sinh nằm sát bờ nước. Gió thổi nhẹ qua mái lá. Sóng vỗ đều đặn vào bờ. Xa xa là đường chân trời bình yên đến lạ.

Khung cảnh ấy đẹp. Rất đẹp! Nhưng vẻ đẹp ấy không xóa đi những thiếu thốn cụ thể mà một số gia đình ở đây vẫn phải đối mặt. Có gia đình thiếu nước sạch. Có nơi thiếu điện ổn định. Có em thiếu phương tiện đi lại. Có trẻ thiếu những điều kiện học hành mà nhiều người ở nơi khác dễ xem là bình thường. Chính sự đan xen giữa vẻ đẹp và khó khăn ấy khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn về giáo dục, truyền giáo và phẩm giá con người.

Khi việc học phụ thuộc vào con nước

Ở thành phố, việc đến trường nhiều khi chỉ là một chuyến xe ngắn, một con đường quen thuộc, một cánh cổng mở ra mỗi buổi sáng. Trong vài cộng đoàn nhỏ, tôi có dịp ghé thăm hoặc được nghe anh em kể lại, con đường đến trường của trẻ em lại có một hình dáng khác. Đó có thể là một lối cát nhỏ ven biển, một con dốc trơn sau cơn mưa, một đoạn đường qua rừng thưa, hay một chuyến thuyền banca mong manh giữa trời nước.

Khi biển lặng, trẻ em có thể đến lớp. Khi gió lớn hoặc sóng mạnh, việc học có khi phải chờ. Tôi không dám nói đây là toàn bộ thực trạng giáo dục của vùng này. Nhưng từ một lát cắt nhỏ bé ấy, tôi cảm nhận rằng nơi một số đảo xa, con chữ cũng phải học cách lênh đênh cùng biển cả.

Mùa nắng, mặt trời chiếu rực rỡ trên mái nhà, giúp những tấm pin mặt trời tích được một chút điện cho buổi tối. Nhưng cũng chính mùa nắng ấy có thể khiến bồn nước cạn dần, suối núi yếu đi và giếng nước trở nên lợ hơn. Mùa mưa, nước từ mái nhà chảy xuống bồn chứa đem lại niềm vui rất cụ thể cho từng gia đình. Nhưng mưa cũng có thể khiến đường đi khó hơn, biển động hơn, thuyền bè ít ra khơi hơn và điện mặt trời yếu đi.

Trong hoàn cảnh ấy, một quyển vở khô ráo, một cây bút còn mực, một chiếc đèn đủ sáng, một chuyến thuyền an toàn đến lớp đều có thể trở thành những điều rất quý. Những điều tưởng nhỏ bé ấy nhắc tôi rằng giáo dục ở vùng đảo không chỉ gắn liền với sách vở. Nó còn gắn với nước uống, ánh sáng, thời tiết, đường đi, phương tiện, sức khỏe, bữa ăn và sự bền bỉ của cả một gia đình.

Ít là trong những cộng đoàn nhỏ tôi có dịp ghé thăm, giáo dục hiện ra với tôi không chỉ như chuyện trường lớp, sách vở hay bằng cấp. Nó mang dáng dấp của một niềm hy vọng âm thầm.

Người nghèo không thiếu ước mơ

Đó là niềm hy vọng của một người cha ngư dân khi nhìn con cầm sách đến trường. Ông có thể không học cao, nhưng ông hiểu rất rõ sự bấp bênh của biển cả. Ông biết có những ngày ra khơi rồi trở về tay trắng. Ông biết sóng gió có thể lấy đi sức khỏe, thuyền bè và đôi khi cả mạng sống. Vì thế, khi thấy con đi học, có lẽ ông không chỉ thấy một đứa trẻ đến lớp. Ông có thể thấy một cánh cửa khác đang hé mở cho gia đình mình.

Đó cũng là niềm hy vọng của một người mẹ nghèo. Bà có thể không giúp con làm bài tiếng Anh hay giải những bài toán khó. Nhưng bà biết giặt cho con bộ đồng phục sạch nhất có thể. Bà biết dành phần cơm, chuẩn bị cây bút, quyển vở, đôi dép. Tình yêu của người nghèo nhiều khi không nói thành lời. Nó hiện diện trong những hy sinh nhỏ bé, lặng lẽ và bền bỉ.

Từ một vài gia đình tôi gặp, tôi có cảm tưởng rằng người nghèo không hề thiếu ước mơ. Điều họ thiếu nhiều khi là những điều kiện cụ thể để ước mơ ấy có cơ hội lớn lên.

Một em bé học đọc không chỉ để sau này có việc làm. Em học để đọc được một lá thư, đọc được một lời kinh, ký được tên mình, biết quyền lợi của mình và kể được câu chuyện đời mình. Một thiếu niên học toán không chỉ để qua lớp. Em học để biết cách tính toán công bằng khi bán cá, mua xăng, tiết kiệm tiền và giúp gia đình quản lý cuộc sống. Một học sinh học khoa học không chỉ để trả bài. Em học để hiểu hơn vì sao nước bị ô nhiễm, vì sao rạn san hô cần được bảo vệ và vì sao rác thải nhựa làm tổn thương biển cả quê hương mình.

Tôi được gợi nhắc rằng giáo dục, khi được thực hiện với sự tôn trọng văn hóa và phẩm giá con người, có thể giúp người nghèo đứng thẳng hơn trong chính căn tính của mình. Đứng thẳng không phải để kiêu ngạo, mà để biết rằng mình có giá trị, gia đình mình có giá trị, văn hóa của mình có giá trị, tiếng nói của mình đáng được lắng nghe và tương lai của mình đáng được đầu tư.

Lắng nghe văn hóa bản địa

Điều này đặc biệt chạm đến tôi khi nghĩ về các cộng đồng bản địa như Tagbanua, Calamian Tagbanwa và nhiều nhóm địa phương khác tại Palawan. Tôi không đủ hiểu biết để nói thay cho họ. Tôi càng không thể gom tất cả kinh nghiệm đa dạng của họ vào vài nhận xét vội vàng. Nhưng qua những điều được anh em chia sẻ và qua một vài cuộc gặp gỡ, tôi nhận ra rằng nơi đây có những kho tàng văn hóa rất đáng trân trọng.

Nhiều trẻ em bản địa mà anh em nhắc đến, và một số em tôi có dịp gặp, dường như đang lớn lên với ký ức của tổ tiên, với tri thức về biển, rừng, mùa, gió, con nước, cây thuốc, tập tục và những câu chuyện truyền khẩu. Các em có thể không có nhiều sách trong nhà, nhưng quanh các em là một thế giới sống động của ký ức cộng đồng và kinh nghiệm bản địa.

Từ lát cắt nhỏ bé này, tôi tự hỏi liệu mọi nỗ lực giáo dục tại những vùng có cộng đồng bản địa có cần thêm một thái độ căn bản là lắng nghe văn hóa địa phương hay không. Nếu giáo dục chỉ đem gần như nguyên xi một mô hình thành thị áp đặt xuống các đảo, thì trường học có thể vô tình khiến trẻ em xa lạ với chính nguồn cội của mình. Một nền giáo dục như thế có thể dạy các em nói những ngôn ngữ lớn hơn, nhưng lại khiến các em ngại ngùng với tiếng nói đầu đời. Có thể giúp các em đi xa hơn, nhưng lại khiến các em quên mất mình đến từ đâu.

Trong những cuộc trò chuyện, anh Andrew có nhắc đến bayanihan, một từ Tagalog thường được hiểu là tinh thần cộng đồng cùng nhau gánh vác một việc chung. Anh cũng nhắc đến tinabangay trong tiếng Visaya, gợi lên sự tương trợ và nâng đỡ lẫn nhau giữa những người cùng chia sẻ một hoàn cảnh sống. Những từ ngữ ấy giúp tôi hiểu thêm rằng, nơi các cộng đoàn nhỏ, một đứa trẻ đến trường không chỉ nhờ nỗ lực của riêng em. Đàng sau bước chân ấy còn có gia đình, thầy cô, người lái thuyền, giáo lý viên, cộng đoàn và nhiều bàn tay âm thầm khác. Có lẽ giáo dục nơi vùng đảo chỉ có thể lớn lên trong tinh thần ấy, khi con chữ không đi một mình, mà được cả cộng đồng cùng nâng đỡ.

Bởi đó, tôi nghĩ rằng giáo dục ở các vùng đảo, đặc biệt ở các cộng đồng bản địa, cần được thực hiện bằng một sự kính trọng sâu xa đối với căn tính địa phương. Trường học không nên khiến trẻ em xấu hổ vì là người nghèo, người bản địa hoặc người sống ở đảo xa. Trái lại, trường học có thể trở thành nơi giúp các em nhận ra căn tính của mình như một hồng ân. Các em cần được mở rộng về tiếng Filipino, tiếng Anh, toán học, khoa học và công nghệ. Nhưng các em cũng cần được trân trọng tiếng mẹ đẻ, ký ức cộng đồng, phong tục địa phương và mối quan hệ thiêng liêng với thiên nhiên.

Một đứa trẻ được giáo dục tốt không nhất thiết phải bỏ lại quê hương phía sau với mặc cảm. Có lẽ, đó là đứa trẻ có thể bước ra thế giới rộng lớn hơn mà vẫn biết mình đến từ đâu, thuộc về ai và được mời gọi trở về để phục vụ điều gì.

Những người âm thầm giữ lửa

Nơi đảo xa, giáo dục không thể đứng vững nếu thiếu những người âm thầm giữ lửa. Đó là các thầy cô dạy học trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn. Đó là những người lái thuyền đưa học sinh qua biển. Đó là các phụ huynh gom góp từng khoản nhỏ. Đó là giáo lý viên, trưởng cộng đồng, tu sĩ, linh mục, ân nhân và thiện nguyện viên. Họ có thể không xuất hiện trong những bản tin lớn, nhưng chính họ đang nâng đỡ tương lai của trẻ em bằng sự trung thành hằng ngày.

Có những lớp học rất đơn sơ. Mái tôn nóng. Bàn ghế cũ. Sách vở thiếu. Internet yếu hoặc không có. Học sinh có khi đi học không đều vì thời tiết, vì đường xa, vì sinh kế gia đình hoặc vì biển động. Nhưng trong những lớp học ấy, ánh sáng vẫn được trao đi.

Người thầy nơi đảo xa không chỉ dạy chữ. Họ giúp trẻ em tin rằng cuộc đời mình có thể khác đi. Họ giữ lửa khi học sinh muốn bỏ học. Họ kiên nhẫn khi gia đình mệt mỏi. Họ gieo hạt trên vùng đất khó khăn, nhiều khi chưa thấy ngay hoa trái, nhưng vẫn tiếp tục gieo.

Đối với các cộng đồng Công giáo, giáo dục còn là một cách sống Tin Mừng. Chúa Giêsu luôn dành một chỗ đặc biệt cho những người bé nhỏ. Người không đặt trẻ em bên lề, nhưng đưa các em vào trung tâm Nước Trời. Vì thế, mỗi nỗ lực giúp một trẻ em nghèo được đến trường cũng có thể được hiểu là một hành vi Tin Mừng. Mỗi quyển sách được trao đi, mỗi học bổng được nâng đỡ, mỗi em học sinh được giữ lại khỏi nguy cơ bỏ học đều là một cách nói với các em rằng các em có giá trị trước mặt Thiên Chúa và trước mặt cộng đồng.

Khi người nghèo giáo dục lại chúng ta

Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn là khi chúng ta đến để giúp người nghèo, chính họ cũng dạy lại cho chúng ta.

Một số gia đình tôi gặp dạy tôi biết quý một ly nước sạch, biết ơn một bóng đèn sáng, trân trọng một bữa cơm gia đình và sống chậm lại trước vẻ đẹp của biển và hoàng hôn. Họ cũng khiến tôi tự hỏi liệu mình có đang bị cuốn quá nhiều vào tiện nghi, tốc độ và những nhu cầu tiêu dùng không.

Tuy nhiên, tôi không muốn lãng mạn hóa sự nghèo khó. Nghèo khó không phải là điều nên được thi vị hóa. Thiếu nước, thiếu điện, thiếu điều kiện học tập và thiếu cơ hội ổn định là những khó khăn rất thực tế. Nhưng chính giữa những khó khăn ấy, tôi vẫn nhận ra ở một số gia đình sự đơn sơ, lòng biết ơn, sức chịu đựng và tinh thần cộng đồng. Những điều ấy không làm cho sự thiếu thốn trở nên nhẹ hơn, nhưng làm cho phẩm giá con người sáng lên trong những hoàn cảnh khó khăn.

Khung cảnh biển đảo cũng đặt ra cho tôi một nghịch lý. Nhiều người thành thị làm việc mệt mỏi để mong một ngày được nghỉ dưỡng bên biển, ăn cá tươi, hít thở không khí trong lành và sống gần thiên nhiên. Trong khi đó, một số gia đình nghèo ở những đảo xa đang sống giữa những điều ấy hằng ngày, nhưng họ vẫn thiếu nhiều điều căn bản cho một đời sống ổn định. Nghịch lý ấy khiến tôi suy nghĩ sâu hơn về ý nghĩa của sự phát triển.

Phải chăng giáo dục không nên chỉ dạy người nghèo chạy theo giấc mơ tiêu thụ của thành thị? Phải chăng giáo dục cũng cần giúp mọi người, cả giàu lẫn nghèo, học cách sống đơn sơ hơn, khôn ngoan hơn, bền vững hơn và biết ơn hơn?

Câu hỏi dành cho người tu sĩ trẻ

Với một tu sĩ trẻ, có lẽ câu hỏi truyền giáo không chỉ là mình sẽ đi đến đâu. Câu hỏi sâu hơn là mình có đủ khiêm tốn để học từ những nơi mình được sai đến hay không. Có đủ kiên nhẫn để ở lại không? Có đủ lòng yêu mến để bước vào văn hóa của người dân không? Có đủ đơn sơ để nhận ra rằng người nghèo không chỉ cần chúng ta giúp đỡ, mà chính họ cũng có thể trao cho chúng ta một Tin Mừng sống động bằng đời sống của họ hay không.

Từ Cagait nhìn ra biển, tôi tự hỏi liệu con chữ có thể trở thành một hình thức hiện diện của Tin Mừng ở vùng ngoại biên hay không. Không ồn ào. Không vội vã. Không thể thay thế nỗ lực của chính quyền, nhà trường và cộng đồng địa phương. Nhưng âm thầm cộng tác, nâng đỡ và khơi mở những cơ hội nhỏ bé để trẻ em có thể lớn lên trong phẩm giá, trong căn tính và trong hy vọng.

Tôi nhớ đến một từ Visaya rất đẹp là padayon, nghĩa là tiếp tục, cứ tiến bước. Có lẽ đó cũng là lời thì thầm của con chữ nơi biển đảo. Khi đường đến trường còn xa, padayon. Khi gió mưa làm ánh đèn chao đảo, padayon. Khi những người gieo hạt chưa thấy ngay hoa trái, padayon. Vẫn tiếp tục. Vẫn đi tới. Vẫn hy vọng.

Giữa biển trời Palawan, mỗi đứa trẻ đến trường có thể được ví như một ngọn đèn nhỏ. Có thể ngọn đèn ấy vẫn còn yếu. Có thể gió mưa nhiều lần làm nó chao đảo. Nhưng nếu gia đình cùng che chở, nếu thầy cô cùng kiên nhẫn, nếu cộng đồng cùng nâng đỡ, nếu Giáo hội cùng đồng hành, ngọn đèn ấy sẽ không dễ tắt.

Và biết đâu, chính những ngọn đèn nhỏ ấy sẽ có ngày làm sáng hơn tương lai của những gia đình, những cộng đoàn và những hòn đảo mà chúng tôi chỉ mới có dịp chạm đến trong một hành trình rất ngắn, nhưng đủ để lòng mình được đánh động sâu sắc.

Mùa hè 2026, Cagait Palawan.

Tu sĩ Lm. Phêrô Nguyễn Văn Dũng, OFM.

1783236808644-5509307671371991146-5509307671371991146-830e885e7ff3d09ed6487c3b58764852-1783243355.jpg
1783236798312-5509307671371991146-5509307671371991146-b281b55d7fe3da3724fb7d7b264da7fb-1783243355.jpg
1783236793679-5509307671371991146-5509307671371991146-5fd2253852b2567c2b10b2770c37a376-1783243355.jpg
1783236813845-5509307671371991146-5509307671371991146-f4b75495a392fb14a30a50d31f66f8e4-1783243355.jpg
1783236886914-5509307671371991146-5509307671371991146-9c3956c46ea43cffeaf1df07f88155c5-1783243354.jpg
Đi tới Hỏi & Đáp