ISSN xxxx-xxxx (Online)
Main Banner
Thánh Têrêsa Hài Đồng (01/10) - Các Thiên Thần Hộ Thủ (02/10) - Tưởng niệm giờ Cha Thánh Phanxicô lâm chung (03/10) - Đại lễ Cha Thánh Phanxicô (04/10) - Đức Mẹ Mân Côi (07/10) - Thánh Têrêsa Giêsu (15/10) - Thánh Ignhatiô (17/10) - Thánh Luca (18/10) - Thánh Phêrô Ancăntara (PS) (19/10) - Thánh Gioan Capestranô (PS) (23/10) - Tinh Thần Assisi (27/10) - Thánh Simon Giuđa (28/10) - Các Thánh Nam Nữ (01/11) - Cầu cho TÍN HỮU QUA ĐỜI (02/11) - Thánh Carôlô (04/11) - Chân phước Dun Scotus (08/11) - Thánh Đường Latranô (09/11) - Thánh Martinô (11/11) - Thánh Jôsaphát (12/11) - Thánh Điđacô Ancala (PS) (13/11) - Thánh Nicôla Talêvich (PS) (14/11)
Ngôn ngữ

Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di: con người của Tin Mừng

BTT OFMVN 02
BTT OFMVN 02
2026-05-15 21:12 UTC+7 298

Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di : “con người của Tin Mừng”

Bài Tin Mừng theo Thánh Lu-ca chúng ta vừa nghe, kể lại câu chuyện hai môn đệ rời Giê-ru-sa-lem để đi về Em-mau. Chúng ta có thể tưởng tượng, lúc bấy giờ họ bước đi, trong một tâm trạng buồn chán, thất vọng và hoang mang. Như phần đông các tông đồ của Đức Giê-su, hai môn đệ Em-mau cũng từng hy vọng vào một tương lai tươi sáng khi bước theo. Tuy nhiên, cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá của Đức Giê-su đã làm tan vỡ mọi điều họ dự tính, đã cắt đứt toàn bộ những hoài vọng của họ. Trước mắt họ giờ đây, đường về Em-mau thực ra chỉ là con đường không phương hướng, không đích điểm, không ánh sáng cuối đường hầm. Dẫu vậy, chính trong lúc gần như tuyệt vọng đó, hai môn đệ này đã được Đức Giê-su Phục Sinh hiện đến, đồng hành, lắng nghe, nâng đỡ và giải thích Kinh Thánh. Nhờ những lời của Đức Giê-su, từ chỗ mệt mỏi và chán nản, họ cảm thấy lòng mình được bừng cháy lên, mắt họ mở ra. Để rồi, khi Đức Giê-su rời họ mà đi, họ đã có thể thốt lên: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên đó sao?” Quả thật, niềm hân hoan của hai môn đệ Em-mau khi được Chúa đồng hành, khi nhận ra Đấng Phục Sinh, chính là Niềm vui Tin Mừng. Và có thể nói, kinh nghiệm tâm linh đầy phấn khởi từ cuộc đàm đạo với Đức Giê-su và được Lời Người soi sáng này, luôn là điều mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng ước mong có được. Cách chúng ta trên dưới tám thế kỷ đã qua, cũng có một người từng trải qua những cảm nghiệm tâm linh tương tự như thế. Quả thực, câu chuyện của hai môn đệ Em-mau trong bài Tin Mừng hôm nay, dường như gợi lại cho chúng ta những ký ức sống động về thánh Phan-xi-cô Át-xi-di, vị thánh mà trong năm nay, Giáo Hội, và đặc biệt Hội dòng Anh Em Hèn Mọn, mừng kỷ niệm 800 năm “cuộc vượt qua” của Ngài.

Thánh Phan-xi-cô và tác động của Lời Chúa

Có thể nói thánh Phan-xi-cô Át-xi-di cũng đã trải qua một hành trình đức tin cách nào đó như hai môn đệ Em-mau. Đọc lại tiểu sử của Ngài, chúng ta thấy Phan-xi-cô từng có thời sống trong hy vọng tìm kiếm vinh quang với những ước mơ danh vọng và thành công trần thế. Là con trai của một thương gia giàu có thành Át-xi-di, Phan-xi-cô sống như một công tử quý tộc: ăn mặc sang trọng, ưa thích tiệc tùng, vui chơi, ca hát, và được người khác ngưỡng mộ vì phong thái hào sảng đi cùng khí chất nghệ sĩ của mình. Phan-xi-cô được bạn bè tôn vinh như “vị vua” của giới trẻ trong thành. Chưa dừng lại ở đó, Phan-xi-cô còn khao khát trở thành hiệp sĩ – đỉnh cao của danh vọng thời bấy giờ – với những chiến công hiển hách. Để thực hiện ước mơ đó, Phan-xi-cô đã gia nhập quân đội và hăng hái lao vào các cuộc chiến giữa Át-xi-di với các thành lân cận để mong đạt được vinh quang bằng con đường binh nghiệp. Thế nhưng, sau những biến cố như bị thất bại phải ở tù trong trận chiến giữa Át-xi-di và Pê-ru-si-a, rồi trải qua một cơn bệnh nặng, và biến cố ở Spoleta với tiếng gọi từ bên trong hãy từ bỏ mộng công danh trên đường tham gia thập tự quân, từ đó những ước mơ tìm kiếm vinh quang thế gian nơi Phan-xi-cô cũng sớm tan vỡ, để lại trong lòng Phan-xi-cô một sự trống rỗng với những nỗi thao thức khôn nguôi. Giữa lúc đó, Phan-xi-cô đã được nghe một tiếng nói linh thiêng. Cụ thể, Phan-xi-cô đã gặp được Lời của Đức Ki-tô. Và Lời của Người đã chạm đến trái tim, đã ghi khắc vào tâm hồn và làm biến đổi sâu sắc cuộc đời Phan-xi-cô. Theo tài liệu lịch sử,  vào ngày 24-2-1208, lễ thánh Mát-thi-a tông đồ, khi tham dự thánh lễ tại nhà nguyện Por-ti-un-cu-la, Phan-xi-cô nghe được đoạn Tin Mừng thánh Mát-thêu nói về việc Đức Giê-su sai Nhóm Mười Hai đi rao giảng: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần… Đừng mang vàng bạc, tiền của… đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày dép hay cầm gậy…”(Mt 10,7-14). Sau khi lắng nghe và được vị linh mục giải thích đoạn Lời Chúa trên, tương tự như trải nghiệm của hai môn đệ Em-mau năm nào, Phan-xi-cô bừng tỉnh và xúc động thốt lên: "Đây là điều tôi mong mỏi, đây là điều tôi tìm kiếm, đây là điều tôi hết lòng ao ước thực hiện" (1 Cel 22). Không chỉ dừng lại ở cảm xúc nhất thời, Phan-xi-cô đã đem Lời Chúa ra thực hành. Ngài cởi bỏ y phục sang trọng, bỏ cả giày dép và dây nịt, rồi mặc một chiếc áo vải thô, thắt lưng bằng dây đơn sơ như người nông dân nghèo. Từ đó, Ngài thanh thoát lên đường, rao giảng Tin Mừng về sự sám hối, tinh thần nghèo khó và sự bình an. Lời rao giảng nhiệt thành của Ngài đã đánh động sâu xa tâm hồn nhiều người dân thành Át-xi-di, quê hương của Ngài. Có thể nói rằng, cũng như hai môn đệ trên đường Em-mau, thánh Phan-xi-cô giờ đây cũng đã vội vã và hăng say lên đường để kể lại Niềm vui Tin Mừng mà mình được đón nhận cho anh chị em.

Ít lâu sau đó, có một người giàu có tên là Béc-na-đô Quin-ta-van-lê cùng với Phê-rô Cát-ta-ni, một luật sư, đã đến xin được sống theo lối sống Tin Mừng như Phan-xi-cô. Lúc này, Phan-xi-cô đã rõ ý Chúa muốn nơi mình; nhưng còn hai người này thì sao? Cần phải tìm ý Chúa cho họ. Vậy là Ngài dẫn họ vào nhà thờ thánh Ni-cô-la tại quảng trường Át-xi-di. Cả ba người đã đến gặp vị linh mục quản xứ xin Ngài cho họ được đọc sách Tin Mừng, vì lúc bấy giờ họ chưa quen sử dụng Kinh Thánh. Vị linh mục này đã tận tình giúp đỡ để họ được tiếp cận và biết được sứ điệp Lời Chúa kỹ lưỡng hơn. Lần thứ nhất, họ đọc được lời Đức Giê-su nới: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh mà cho người nghèo… rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Lần thứ hai là đoạn Đức Giê-su nói: “Anh em đừng mang gì đi đường: đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9,3). Và lần thứ ba là: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Sau ba lần mở sách Tin Mừng đều được nghe những lời Đức Giê-su mời gọi từ bỏ mọi sự để theo Người, thánh Phan-xi-cô đã hiểu rằng đó không phải là sự trùng hợp, mà là mệnh lệnh trực tiếp từ trời cao. Thế nên, Phan-xi-cô liền thốt lên: “Đã rõ: đó là điều hai anh phải làm, và cũng là điều dành cho tất cả những ai muốn gia nhập với chúng ta.” Không còn do dự, Béc-na-đô Quin-ta-van-lê và Phê-rô Cát-ta-ni trở về phân phát hết tài sản, rồi bắt đầu một đời sống mới với Phan-xi-cô. Có thể nói, Dòng Anh Em Hèn Mọn được khai sinh chính từ ngày cả ba người cùng tìm đọc Tin Mừng để tìm ra thánh ý của Chúa, trong nhà thờ thánh Ni-cô-la, vào năm 1208. Vì vậy, mười tám năm sau, năm 1226, trước khi qua đời, Phan-xi-cô đã ghi lại trong Di chúc của Ngài rằng : “Sau khi Chúa ban cho tôi một số anh em, không ai chỉ cho tôi biết phải làm gì; nhưng chính Đấng Tối Cao đã tỏ cho tôi biết phải sống theo mẫu mực thánh Phúc Âm” (DC 14).

1.     “Sống Tin Mừng”:
luật sống của thánh Phan-xi-cô và Hội Dòng Anh Em Hèn Mọn

Chính vì thế ngay đầu bản Luật dòng, thánh Phan-xi-cô đã viết rằng : “Luật và đời sống Anh Em Hèn Mọn là tuân giữ thánh Phúc Âm của Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, trong lối sống vâng lời, khiết tịnh và không có của riêng.” Như chúng ta biết, trong lịch sử Giáo hội, có nhiều vị thánh được biến đổi cuộc đời nhờ nghe một đoạn Kinh Thánh hay một câu Lời Chúa trong Tin Mừng. Cũng có nhiều vị thánh sáng lập dòng mong muốn Hội dòng mình sống theo Tin Mừng của Chúa Ki-tô. Tuy nhiên, có thể nói hiếm có vị thánh nào như Phan-xi-cô! Ngài đã để cho Lời Chúa thấm đẫm vào từng hơi thở, cử chỉ và lối sống. Ngài đã gắn bó và xây dựng toàn bộ đời sống cá nhân và Hội dòng mình một cách triệt để trên nền tảng Tin Mừng của Chúa Ki-tô. Chuyện xảy ra với Phan-xi-cô và những anh em đầu tiên của Ngài phải chăng cũng giống với hai môn đệ Em-mau năm xưa: chính Lời Chúa đã khép lại một quá khứ không tương lai, để mở ra một tương lai làm cho quá khứ có ý nghĩa. Hay nói một cách giàu hình ảnh và thân quen hơn, đó là: “chính lúc quên mình, là lúc gặp lại bản thân” – gặp lại bản thân trong chính Lời Chúa. 

Là Ki-tô hữu, hơn nữa là môn đệ của Chúa Ki-tô, chúng ta muốn sống theo Người cách sát hơn, cho nên việc sống Tin Mừng của Đức Ki-tô cách triệt để là điều hoàn toàn hợp tình hợp lý và chính đáng. Thế nhưng vào thời ấy, ngay cả Đức Giáo Hoàng ban đầu cũng hoài nghi về tính khả thi của lý tưởng sống Tin Mừng cách triệt để. Thật vậy, ngay lần đầu khi Phan-xi-cô và anh em Ngài đệ trình bản Luật của Dòng lên Đức Giáo hoàng Innocentio III để xin phê chuẩn, thì vị Giáo hoàng này đã hỏi: “Nếu các con dựa vào Tin Mừng để không có bất cứ sở hữu nào, thì làm sao sống được?” May mắn thay, tại Giáo triều Roma lúc bấy giờ có Hồng y Giovanni San Paolo lên tiếng bênh vực Phan-xi-cô. Ngài nói: “Nếu chúng ta từ chối lời thỉnh nguyện của người nghèo này, vì cho rằng sống triệt để theo Tin Mừng là điều quá khó hay mới mẻ, thì phải coi chừng chúng ta xúc phạm đến chính Tin Mừng của Chúa Ki-tô. Bởi lẽ, ai cho rằng việc tuân giữ Tin Mừng là điều không thể thực hiện được, thì đã xúc phạm đến chính Đấng là tác giả của Tin Mừng vậy.”

Nhờ sự bênh vực can đảm ấy, bản Luật do Phan-xi-cô soạn thảo, dựa hoàn toàn trên Tin Mừng cuối cùng đã được chấp thuận. Điều đáng khâm phục là Phan-xi-cô luôn tin rằng Tin Mừng của Đức Ki-tô hoàn toàn có thể sống và làm cho người ta được sống dồi dào trong thực tế. Dẫu vậy, khó khăn vẫn không ngừng xảy đến với Ngài. Cho đến cuối đời, Ngài vẫn gặp chống đối, ngay trong chính anh em của mình, vì lý tưởng sống Tin Mừng triệt để. Tuy nhiên, nhờ ơn Chúa, Phan-xi-cô vẫn kiên trì trung thành với lý tưởng ấy cho đến cùng. Vì thế, hai năm sau khi thánh nhân qua đời, sử gia Celano đã nhận định rằng: “Lý tưởng dứt khoát của Phan-xi-cô, ước muốn nồng nhiệt nhất của Ngài là tuân giữ thánh Phúc Âm trong mọi sự và trong mọi hoàn cảnh, luôn vâng theo giáo huấn của Chúa Giê-su Ki-tô và noi gương Người cách trọn hảo. Ngài không ngừng suy niệm Lời Chúa và ghi nhớ các việc Chúa Giê-su đã làm, qua đời sống chiêm niệm sâu xa. Có hai điều đánh động Phan-xi-cô nhất, đó là sự khiêm hạ của Chúa trong mầu nhiệm Nhập thể và tình yêu của Người trong cuộc Khổ Nạn.” (1 Cel. 84). Nhận định này là rất đáng tin cậy, vì Celano vừa là người môn đệ trực tiếp của thánh Phan-xi-cô, vừa là sử gia được Hội dòng ủy nhiệm viết tiểu sử của thánh nhân lúc đó.

2.  Phan-xi-cô, con người của Tin Mừng

Từ những điều trình bày trên, chúng ta có thể thấy rõ thái độ sống triệt để của thánh Phan-xi-cô đối với Tin Mừng, với Lời Chúa như thế nào. Có thể nói, Tin Mừng của Đức Ki-tô giữ vai trò tuyệt đối quan trọng trong cuộc đời hoán cải của thánh nhân, vì Tin Mừng là tấm bản đồ dẫn Ngài đến gặp gỡ cá vị với Đức Ki-tô, là con đường dẫn Ngài đến với Đức Ki-tô, và là sức sống trong tâm hồn của Ngài. Tin Mừng giúp Ngài nhận ra rằng Thiên Chúa không ở xa xôi, nhưng Người đã "cắm lều" giữa nhân loại qua dấu chân của Đức Ki-tô Con Một Người. Phanxicô khao khát muốn đặt bàn chân mình vào đúng những vết chân ấy, không lệch một li, để chắc chắn rằng mình đang đi về phía Chúa Cha. Vì vậy, thiết tưởng thánh Phan-xi-cô xứng đáng được gọi là “con người của Tin Mừng”.

Khi tìm hiểu về thánh Phan-xi-cô, một con người sống triệt để Tin Mừng của Đức Ki-tô, có một điều chúng ta cần nhận thấy, đó là Phan-xi-cô không phải là một học giả Kinh Thánh hay nhà chú giải thần học Thánh Kinh chuyên môn. Ngài không đọc và hiểu Tin Mừng theo kiểu tinh vi, học thuật, cao siêu, nhưng Ngài đón nhận Lời Chúa cách đơn sơ, cụ thể và thiết thực. Chính sự đơn sơ ấy lại làm nên nét độc đáo nơi Ngài. Ngài hiểu Tin Mừng theo nghĩa trực tiếp được Thần khí linh hứng, và đem ra thực hành trọn vẹn, không tính toán, không giới hạn, cũng không nhằm tìm vinh dự cho bản thân. Đối với Phan-xi-cô, Kinh Thánh không phải là một bản văn quá khứ, mà là tiếng nói sống động của Đấng Tối Cao đang kêu gọi Ngài từng ngày, từng giây phút trong cuộc sống. Mỗi lời Tin Mừng luôn mới mẻ, sống động và có ý nghĩa thiết thực cho cuộc đời Ngài. Mục đích sâu xa của việc đọc và sống Tin Mừng, đối với Phan-xi-cô không phải là để trở nên đạo đức hơn cho mọi người thấy, mà là để được nên một với Đức Ki-tô: “Tôi sống không phải là tôi sống mà là Đức Ki-tô sống trong tôi”. Ngài không đọc Lời Chúa để tích lũy kiến thức hay để dạy người khác, cũng không chỉ để tìm an ủi những lúc đau buồn, nhưng là để sống từng phút giây hiện tại của cuộc sống. Quả thực, đối với thánh Phan-xi-cô, Lời Chúa đi từ đôi tai đến trí óc, thấm vào trái tim Ngài, rồi thể hiện qua đôi tay, để biến thành hành động cụ thể trong cuộc sống của Ngài. Nói cách khác, Phan-xi-cô “ăn” Lời Chúa, để Lời Chúa biến đổi máu thịt của Ngài thành một “Tin Mừng sống động”. Vì vậy, sử gia Celano đã nhận định rằng : “Phan-xi-cô luôn mau mắn thực hành những điều nghe được từ Phúc Âm.”  

3.  Thái độ sống Tin Mừng của chúng ta hôm nay như thế nào ?

Kinh nghiệm sống Tin Mừng, sống Lời Chúa của Phan-xi-cô quả là điều khiến mỗi người chúng ta phải suy nghĩ! Lời Chúa có thể trở nên quá quen thuộc, quá bình thường đối với chúng ta hôm nay, khi chúng ta nghe đi nghe lại nhiều lần khi tham dự thánh lễ. Phải chăng, vì thế mà chúng ta có nguy cơ dễ rơi vào tình trạng dửng dưng, thờ ơ, nhàm chán khi nghe hay đọc Lời Chúa? Có bao giờ chúng ta để cho lòng mình được bừng cháy lên bởi Lời Chúa như hai môn đệ Em-mau, như Phan-xi-cô, như các anh em tiên khởi của Ngài hay không? Lời Chúa nơi chúng ta có bao giờ thực sự là lương thực thần linh, hay trở thành kim chỉ nam hướng dẫn cuộc sống chúng ta như lời Thánh Vịnh: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” hay không? Và khi nhìn lại cuộc đời của Phan-xi-cô, một cuộc đời sống triệt để Lời Chúa trong tư cách một người anh em hèn mọn, một tu sĩ giáo dân, thiết tưởng chúng ta còn nhận ra một điều rất an ủi cho anh chị em chúng ta. Đó là thánh Phan-xi-cô không phải là một linh mục hay một giáo sĩ hoặc một học giả uyên bác. Ngài đơn thuần là một tu sĩ, một tu sĩ phó tế. Nhưng việc Ngài được truyền chức phó tế thì chủ yếu cũng chỉ là để có thể rao giảng hợp lệ về mặt giáo luật mà thôi. Mà thực sự thì điều này không làm thay đổi căn tính của Ngài: trước sau Ngài vẫn là một tu sĩ. Cho nên, thái độ sống triệt để Tin Mừng của Phan-xi-cô để lại cho chúng ta một bài học quan trọng, đó là mỗi kitô hữu, dù là giáo dân hay giáo sĩ: đều được mời gọi hãy yêu mến và siêng năng đọc Lời Chúa với lòng tin đơn sơ, chân thành, và sẵn sàng đem ra thực hành. Một người sống Tin Mừng triệt để không tất yếu đòi hỏi phải là người học cao hiểu rộng, hay một giáo sĩ uyên bác; điều cần thiết là có một tâm hồn yêu mến Lời Chúa và lòng quyết tâm sống Lời Chúa.

Thực tế cho thấy, đối với chúng ta hôm nay, chúng ta có những điều kiện thuận lợi hơn thánh Phan-xi-cô ngày xưa rất nhiều. Thời thánh Phan-xi-cô, sách Kinh Thánh rất hiếm hoi, vì lúc đó chưa có máy in; sách Kinh Thánh phải chép tay trên những tấm da thuộc, vừa nặng nề vừa rất đắt tiền. Người ta ước tính một cuốn Kinh Thánh thời đó có giá tương đương một ngôi nhà lớn hay một nông trại lúc bấy giờ— tức là rất đắt đỏ. Chúng ta cứ tưởng tượng thế này, để có một cuốn Kinh Thánh nhỏ thôi, cũng phải mất nhiều bộ da thuộc của các con chiên con dê. Nếu là Kinh Thánh cuốn lớn, có khi phải mất cả đàn chiên hay đàn dê hàng trăm con. Vì vậy, mãi đến năm 1221, nghĩa là sau 10 năm thành lập dòng, toàn dòng Anh Em Hèn Mọn chỉ có một cuốn Tân Ước duy nhất đặt tại nhà nguyện Portiuncula. Và theo một giai thoại kể lại, cuốn sách Kinh Thánh quý giá đó sau này cũng đã được Phan-xi-cô đem biếu cho một người phụ nữ nghèo đang lâm cảnh túng quẫn, vì lúc bấy giờ Ngài và anh em Ngài không có thức ăn hay tiền bạc gì để giúp đỡ cho bà mẹ nghèo đáng thương đó. Ngoài ra, có một trở ngại khác trong việc tiếp cận Kinh Thánh thời thánh Phan-xi-cô, đó là vấn đề ngôn ngữ. Kinh Thánh vào thời Phan-xi-cô là bản Vulgata, tức là bản dịch tiếng La-tinh của thánh Giê-rô-ni-mô. Và như chúng ta biết, đại đa số giáo dân lúc bấy giờ không đọc được tiếng La-tinh. Kể cả Phan-xi-cô, dù Ngài có học và biết tiếng La-tinh, nhưng Ngài không được học chuyên sâu như các giáo sĩ. Do đó, Ngài luôn khiêm tốn nhận mình là người ít học là vậy. Cho nên, so với chúng ta hôm nay, Phan-xi-cô gặp rất nhiều hạn chế khi muốn tiếp cận trực tiếp với Lời Chúa. Còn chúng ta ngày nay, Kinh Thánh đã được dịch ra tiếng Việt, in ấn phổ biến và rất dễ dàng sở hữu các sách Kinh Thánh hay sách Lời Chúa. Vậy, câu hỏi là: chúng ta có thực sự biết tận dụng những điều kiện thuận lợi ấy để Lời Chúa đồng hành với chúng ta như hai môn đệ Em-mau, như thánh Phan-xi-cô và những anh em  tiên khởi của Ngài, để đọc, để hiểu và nhất là, để sống Lời Chúa như các Ngài hay không?

Qua một vài nét phác hoạ trên đây về lối sống Tin Mừng triệt để của thánh Phan-xi-cô, chúng ta thấy Lời Chúa không chỉ là một thành phần trong đời sống của Ngài, mà là chính đời sống của Ngài. Ngài đã yêu mến Lời Chúa đến mức tôn kính từng mảnh giấy có ghi chữ thánh, vì chúng gợi nhắc Ngài về Đức Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể. Chúng ta đang sống trong Năm Thánh Phan Sinh, kỷ niệm 800 năm thánh Phan-xi-cô qua đời, chúng ta được mời gọi nhìn lại cuộc đời thánh nhân: một con người đã sống trọn vẹn tinh thần Tin Mừng, để rồi cố gắng học hỏi và noi gương thánh nhân. Cách cụ thể, với lòng khiêm tốn, chúng ta không dám ước mong được nên giống thánh nhân cách hoàn toàn, vì điều đó thường là vượt quá khả năng của mình. Nhưng chúng ta vẫn có thể xin Chúa ban ơn, để mỗi ngày biết cố gắng hơn, hầu bắt chước được lối sống trọn vẹn theo Tin Mừng của Đức Ki-tô, dù chỉ một phần nhỏ thôi. Một khởi đầu khiêm tốn như thế thiết tưởng cũng không hề nhỏ bé, và cũng không vượt quá sức chúng ta. Xin Chúa ban phúc lành cho thiện chí và quyết tâm của mỗi người, để chúng ta thực sự biết yêu mến và sống Lời Chúa trong đời sống hằng ngày, như thánh Phan-xi-cô đã sống và nêu gương.

Và để kết thúc bài chia sẻ hôm nay, xin mượn lời khuyên của Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô trong buổi Kinh Truyền Tin Chúa Nhật 24-1-2021, Ngài nhắn nhủ như sau : “Các con hãy luôn mang theo bên mình một cuốn Tin Mừng nhỏ, để mỗi ngày đọc vài câu, hầu Lời Chúa luôn ở cùng chúng ta từ trong tư tưởng, lời nói và hành động. Kinh Thánh không phải là một cuốn sách chỉ để chiêm ngưỡng, tôn vinh, mà là một “Sổ tay hành động”. Ngài cũng nhắc rằng: “Chưa bao giờ Kinh Thánh lại đến gần với mọi người như trong thời đại hôm nay – qua nhiều ngôn ngữ, nhiều hình thức, cách riêng qua phương tiện truyền thông kỹ thuật số. Đó là một hồng ân lớn lao cho đời sống Hội Thánh”. Đồng thời, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô cũng không quên nhắc lại lời của thánh Giê-rô-ni-mô: “Ai không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Ki-tô.” Ước mong rằng, noi gương thánh Phan-xi-cô Át-xi-di, mỗi người chúng ta, bắt đầu từ hôm nay, hãy nỗ lực sống Tin Mừng, sống Lời Chúa, sao cho cuộc đời chúng ta được trở thành một trang Tin Mừng sống động, một môn đệ thừa sai đầy nhiệt huyết, một người hát rong của Chúa, ra đi khắp nẻo đường loan báo Tin Mừng yêu thương của Chúa Ki-tô Phục sinh cho mọi người, bằng đời sống hết lòng yêu thương và phục vụ tha nhân, như Lời kinh hoà bình của thánh Phan-xi-cô đã dạy : “Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”. Amen.

Tiến Dũng, OFM.

Top of Form

Bottom of Form

a5e79b5892b2cc3627f2a8e0496d71d0-1778854332.jpg
Đi tới Hỏi & Đáp