Dòng thánh Phanxicô, tinh thần và sứ mạng

2009-01-16 1.032 Thảo luận

LỜI NÓI ĐẦU

Hiện nay cha Kajetan Esser thuộc tỉnh dòng Côlônhơ, nước Đức, có lẽ là người có uy tín nhất trong địa hạt lịch sử và linh đạo dòng Anh em Hèn mọn (dòng Phanxicô). Cuốn sách nhỏ chúng tôi phiên dịch sau đây, tuy ngắn gọn, nhưng đúc kết bao nhiêu công trình nghiên cứu công phu của một tu sĩ không những có dư khả năng chuyên môn, mà còn đầy lòng mộ mến đối với lý tưởng Phan sinh của mình. Tập sách này đòi hỏi người đọc phải đọc chầm chậm, vừa đọc vừa suy nghĩ, và nếu cần, nên đọc đi đọc lại, vì nội dung của nó rất súc tích.

Để những người chưa quen biết thánh Phanxicô dễ hiểu cuốn sách này hơn, chúng tôi cũng phiên dịch chương đầu trong cuốn: Francois d'Assise (Paris 1966) của cha Ephrem Longpré, một chuyên viên uy tín khác về tư tưởng của dòng Phanxicô.

Rất mong tập sách nhỏ này giúp ít nhiều trước hết cho con cái thánh Phanxicô, sau nữa cho tất cả những ai mộ mến vị thánh nghèo hoặc nghiên cứu linh đạo của Hội dòng đã và đang đóng góp nhiều cho đời sống và tư tưởng của Giáo Hội.

Lm. Nguyễn Hồng Giáo. OFM


CHƯƠNG I: THÁNH PHANXICÔ LÀ AI ?

1. BẢN LĨNH THÁNH PHANXICÔ

Phanxicô sinh năm 1182 tại Assisi (nước Ý). Ngài là con ông Phêrô Bênađônê (mất trước năm 1215). Thân phụ ngài là một nhà buôn vải rất giàu, ông còn có nhiều nhà cửa ruộng đất trong thị xã.

Ông thuộc giai cấp trưởng giả đang bắt đầu trở thành một lực lượng đương đầu với giai cấp quí tộc phong kiến trong các đô thị Ý và Pháp.

Thân mẫu Phanxicô, bà Pica, là một người dòng dõi quí phái ở miền nam nước Pháp.

Điều này cho ta hiểu rõ nền giáo dục đầu tiên cũng như tâm lý tôn giáo của thánh Phanxicô và lòng mộ mến tự nhiên của ngài đối với nước Pháp.

Ngài có một người em tên là Angelo di Piccardo. Trong dòng dõi người em này có những người vào Dòng Nhì Clara; đặc biệt người ta biết một người đã làm bề trên tu viện thánh Đamianô năm 1342, tên là Francesco Ceccolo di Piccardo. Tên rửa tội đứa con đầu lòng của ông Bênađônê là Gioan Baotixita; nhưng sau một cuộc đi buôn ở Pháp về, ông đã đặt tên cho con là Phanxicô.

Phanxicô thân hình nhỏ bé, mảnh dẻ. Cậu bé Phanxicô đi học tại nhà thờ thánh Giorgiô. Vào thời ấy, chung quanh các nhà thờ chính tòa, có những trường học cung cấp cho thiếu niên một nền giáo dục sơ đẳng để tiến đến các chức vụ thánh. Chỉ các sinh viên đại học mới có trình độ văn hóa thật sự. Trí khôn Phanxicô sắc sảo, bén nhạy. Cậu tập đọc qua các bản thánh vịnh dùng trong phụng vụ; ở gia đình cũng như qua các cuộc tiếp xúc với những người du ca và khách hành hương, hoặc trong các nhóm trẻ thành Assisi cậu học hát, học đàn, học thơ văn, theo thị hiếu của người thời  bấy giờ. Cậu suy tôn những tên tuổi anh hùng huyền thoại và những luật lệ về lối xử thế của giới này.

Địa vị xã hội của Phanxicô, quyền kế nghiệp cũng như tài kinh doanh của cậu cho phép ta nghĩ rằng cậu đã nhận được một nền huấn luyện chuyên môn và thực tiễn cho người đương thời quen dành cho con cái thương gia và chủ ngân hàng. Nền huấn luyện ấy bao gồm môn Pháp văn, số học và những kiến thức về ngành thương mại. Ngoài cái khiếu về công chuyện làm ăn, và tính nghệ sĩ, nhưng chắc Phanxicô cũng đã có khả năng học một nghề tay chân. Bằng chứng là sau khi đã tu bổ nhà thờ, Phanxicô còn xây đến Đức Mẹ ở ẩn viện Porteria di S. Gemini và đã tích cực tham gia vào việc trùng tu dinh Giám mục Assisi.

Càng lớn lên, Phanxicô càng chứng tỏ là cao thượng, lịch thiệp và quảng đại, khiến cho mọi người phải thán phục. Đó là một trong những nét nổi bật của bản lĩnh ngài. Ngài cảm thấy mình sinh ra để làm những việc lớn lao và ngài không ngần ngại nói ra cho kẻ khác biết. Tâm hồn ngài rất tế nhị, ngài không chịu được những lời hai ý và thô bỉ. Khi còn ở giữa đời, ngài đã biết quan tâm đến tình yêu Thiên Chúa. Có lần ngài đã tự giận mình vì đã từ chối làm phúc cho một người nhân danh Chúa đến xin giúp đỡ. Và lập tức Phanxicô đã đền tội không chần chờ. Ngài ban phát một cách quảng đại, không tính toán vì tự bản tính ngài có lòng yêu thương người nghèo khổ.

Đây là điều mà tất cả các nhà viết về cuộc đời của ngài đều đồng thanh quả quyết. Và nếu  khi mới trở lại, ngài đã tỏ lòng tôn kính cách đặc biệt đối với các linh mục, là bởi vì ngay từ thuở nhỏ ngài đã hết lòng sùng mộ bí tích Thánh Thể và yêu mến những người đại diện Chúa.

Tất cả những đức tính phong phú trên là những điều kiện tâm lý thuận lợi để Phanxicô hoàn thành sứ mạng riêng của mình. Những dự tính của Thiên Chúa về ngài đã được thực hiện đúng trong chiều hướng cao quý nhất của những dữ kiện thuận lợi ấy.

2. CUỘC GẶP GỠ THỨ NHẤT VỚI CHÚA KITÔ CHỊU ĐÓNG ĐINH

Lên 14 tuổi, Phanxicô được làm thành viên của hiệp hội thương gia và giúp vào nghề nghiệp của cha chàng (thời bấy giờ tuổi 14 là bắt đầu vào đời sống công dân).

Nhờ giàu có và nhờ tính tình dễ thương, chẳng mấy chốc mà Phanxicô trở thành anh hùng của giới trẻ thành Assisi. Chàng tiêu xài rộng rãi cho bạn bè, khác nào một ông hoàng. Cha mẹ chàng vì thương con, nên dung túng cho chàng tự do hoang phí. Sự hoang phí đó là hành động quá khích độc đáo của tuổi trẻ Phanxicô. Học giả Sabatier (Xa-ba-ti-ê) đã viết rất đúng rằng Phanxicô hoàn toàn không phải là thánh Augustinô. Phanxicô không có hôn thê nào khác ngoài Bà Chúa Nghèo (nói theo kiểu của ngài). Thân tín của ngài trong nữ giới là thánh Clara và bà Giacôba. Nhưng ngài rất thận trọng khi tiếp xúc với họ.

Tuy tiệc tùng vui chơi, Phanxicô vẫn không bê trễ việc buôn bán. Có tài liệu cũ quả quyết rằng chàng đã đi đây đó, có lần sang tận Pháp vì công chuyện làm ăn.

Thế nhưng yến tiệc vui chơi xuôi ngược bán buôn cũng không làm cho Phanxicô giảm bớt mộng công danh sự nghiệp.

Ở Assisi, công xã được giải phóng kể từ 1198 nhưng nay lại vì các phe phái chính trị, kình địch với thành Pêrudia ... Tất cả giai cấp quý tộc đã di tản hết và trong số những người di tản sang Pêrudia có Faverone d'Offreduccio (Fa-vê-rô-nê Ô-frê-đu-ci-ô), thân phụ của Clara.

Chiến tranh bùng nổ giữa hai thành và Phanxicô đăng ký vào nhóm hiệp sĩ. Nhưng các lực lượng của Assisi bị đánh bại ở Collestrada vào tháng 11 năm 1202 và Phanxicô bị bắt làm tù binh ở Pêrudia.

Mặc dù cuộc tranh chấp giữa Assisi và Pêrudia kéo dài mãi tới năm 1208, nhưng Phanxicô được trả tự do năm 1203 nhờ thân phụ bỏ tiền ra dàn xếp, chắc hẳn lúc bấy giờ chàng đau nặng (theo tục lệ thời ấy, các tù binh bị bịnh có thể được trả về, nếu đồng bào họ  yêu cầu). Sau một thời dưỡng bệnh lâu dài, mộng công danh của Phanxicô lại bừng dậy. Chàng quyết định sung vào quân đội của Gauthier de Brienne, đứng về phe Giáo Hoàng chống lại phe Hoàng Đế. Nhưng ngay trước hôm lên đường, vào đầu năm 1205, chàng đã đem tất cả quân trang đắt tiền biếu cho một người lính nghèo.

Theo thánh Bonavetura thì cử chỉ cao đẹp đó đối với đức nghèo đã mở đầu cho một loạt những sự can hiệp của Chúa. Đêm hôm sau, qua một giấc mơ, Chúa cho Phanxicô thấy một lâu đài nguy nga tráng lệ trong đó có một người đàn bà rất đẹp và một đống vũ khí in hình thánh giá. Chúa nói cho chàng biết rằng tất cả những thứ đó sẽ dành riêng cho chàng nếu chàng kiên trì phục vụ dưới ngọn cờ Thánh giá. Phanxicô vui sướng rời Assisi ngay sáng hôm sau, bụng đinh ninh thế nào mình cũng là một ông hoàng lừng danh. Nhưng Chúa Kitô đang chờ nhà hiệp sĩ chúng ta ở Spoleta (Xpôlêta), giống như Phaolô trên đường đi Đamát. Một buổi tối tại thành phố này, chàng lại có một giấc mơ thứ hai. "Ngươi hãy nói cho ta biết, giữa chủ và người tôi tớ, ai có thể giúp ngươi nhiều hơn?  -Thưa, ông chủ ! - Thế thì làm sao ngươi lại đi tìm tên đầy tớ mà không tìm ông chủ?  -Lạy Chúa, Ngài muốn con làm gì?  - Hãy trở về quê, Ta sẽ làm cho giấc mơ của con thành sự thật".

Lập tức Phanxicô trở lại Assisi, chờ đợi Chúa bày tỏ thánh ý Ngài.

Nhưng chàng vẫn là ông hoàng của tuổi trẻ Assisi. Một buổi tối, sau một buổi yến tiệc rộn ràng - đó là buổi vui chơi cuối cùng - chàng cảm hấy lòng mình chán ngán sự đời, chỉ còn nghĩ đến Chúa mà thôi. Bỗng dưng chàng cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa Thánh Thần đến độ không còn nói năng đi đứng được nữa. Các bạn thấy thế hỏi: "Anh đang nghĩ chuyện gì thế? Tại sao không cùng đi với bọn chúng tôi? Chắc hẳn anh đang tính đến chuyện lấy vợ chứ gì? - Vâng, Phanxicô đáp, tôi đang tính chuyện lấy vợ, lấy người đàn bà cao quý nhất, lộng lẫy nhất đời."

Vị hôn thê ấy chính là đời sống tu trì mà đức nghèo đã tô điểm cho nên quý phái, giàu sang và đẹp đẽ hơn tất cả những gì khác.

Từ đó Phanxicô tự giải thoát dần dần khỏi thế gian. Ngài thường lui tới một cái hang gần thành phố cùng với một người bạn tâm giao để cầu nguyện. Một hôm ngài gặp một người phung giữa đường; ngài xuống ngựa và âu yếm ôm hôn người xấu số, rồi khi ngài chưa kịp cất bước đi thì người phung bí nhiệm kia biến mất. Người phung này chắc hẳn là chính Chúa Kitô theo hình ảnh mà tiên tri Isaia đã mô tả (53,3). Cử chỉ quả cảm trên là một cuộc chiến thắng của Phanxicô đối với bản thân và đã quyết định ơn thánh triệu của ngài. Sau này trong bản Di chúc, ngài đã tuyên bố: "Ít lâu sau (biến cố đó), tôi từ bỏ thế gian."

Trong cơn xúc động, Phanxicô cất tiếng hát ngợi khen Chúa. Đó là bài thánh ca thứ nhất của ngài.

Theo thánh Bonavetura thì Phanxicô đã được Chúa đóng đinh hiện ra lần đầu tiên trong hang đá nói trên. Còn Cêlanô và Ba Người Bạn (là những người khác đã viết về vị thánh lập dòng) lại cho rằng lần đầu tiên Chúa hiện ra với ngài là ở nhà nguyện thánh Đamianô.

Dù sao, kể từ khi diện kiến Chúa Kitô đau khổ, Phanxicô trở thành con người hoàn toàn mới mẻ: ngài hiểu trọn vẹn luật Phúc Âm dạy về sự từ bỏ; ngài ra sức luyện tập ba nhân đức nền tảng của tinh thần "Phan sinh" là nghèo khó, khiêm hạ và một tình yêu đầy trắc ẩn; ngài đi tới săn sóc người phung cùi ở nhà thương thánh Lagiarô, luôn luôn sẵn sàng cởi bộ đồ mình đang mặc để cho người ăn xin, đồng thời ngài cũng dâng cúng tiền vào những nhà thờ nghèo. Cuối cùng vào mùa xuân 1206, ngài đi hành hương sang Rôma; ngài lẫn vào giữa đám người nghèo ăn xin trên công trường thánh Phêrô; quần áo, tiền nong mang theo, ngài đều phân phát cho họ hết. Phanxicô hãm mình phạt xác nhiệm nhặt để vác ngoài thể xác "thập giá của Chúa Kitô mà ngài mang trong tâm hồn" nói theo kiểu của thánh Bonavetura.

Ngay trong giai đoạn này, Phanxicô đã không quên thỉnh ý của Đức Cha Guido (Ghi-đô), Giám mục Assisi. Đây là một chi tiết rất đáng lưu ý.

Cứ thế Phanxicô tiến dần trên con đường hoàn thiện Phúc Âm: ngài đã sẵn sàng chỉ còn làm một nghề buôn nữa mà thôi, ấy là "nghề buôn của cải trên trời" (Bonavetura).

3. SỨ MỆNH TRONG GIÁO HỘI - NHÀ THỜ THÁNH ĐAMIANÔ

Trở về Assisi, một hôm Phanxicô bước vào ngôi nhà nguyện thánh Đamianô cầu nguyện trước tượng Chúa chịu đóng đinh. Bỗng nhiên ngôi tượng trở nên sống động và nói với Phanxicô ba lần liên tiếp: "Phanxicô, con hãy đi sửa lại nhà thờ của ta đang sụp đổ, như con thấy đó!". Nghe những lời ấy, ngài rất đỗi kinh ngạc. Mệnh lệnh của Chúa nói tới sứ mệnh tinh thần của Phanxicô trong Giáo Hội, nhưng ngài chưa hiểu rõ ý nghĩa sâu sắc ấy. Nên ngài quyết định tu bổ lại nhà nguyện thánh Đamianô. Để có tiền, ngài đã sang Foligno (Phô-li-nhô) bán một ít vải lấy tiền trao cho linh mục Phêrô coi sóc nhà nguyện để ngài sửa lại ngôi nhà. Lấy cớ là không có chỗ để giữ món tiền đó, và nhất là vì sợ ông Phêrô Bênađônê đòi lại nên vị linh mục đã khôn ngoan từ chối của dâng cúng. Phanxicô không ngần ngại ném túi tiền vào một góc cửa sổ. Tuy từ chối tiền bạc, nhưng vị linh mục đồng ý cho Phanxicô ở trong nhà để lo việc sửa sang ngôi thánh đường.

Thái độ này của thánh nhân đã đưa đến việc đoạn tuyệt giữa ngài và gia đình. Hết sức bực mình vì Phanxicô đã lấy vải đem bán ở Flolignô, ông Bênađônê muốn dành lại số tiền ấy. Sau khi bàn tính với bạn bè và các thân hào Assisi, ông đi đến nhà thờ thánh Đamianô, nhưng Phanxicô đã trốn biệt tích. Một tháng sau Phanxicô cương quyết đương đầu với khó khăn và ra đứng trước nhà thờ Giorgiô mà ăn xin. Đồng bào và bạn bè cũ đều coi ngài là người mất trí và không ngớt lời nhạo cười, xỉ nhục. Nghe tin, ông Bênađônê vội vàng chạy tới bắt ngài về giam tại gia đình; nhưng nhân lúc ông đi vắng, bà Pica - vốn cởi mở hơn với ân sủng Chúa và không đồng ý với chồng - đã mở cửa trả tự do cho con. Một lần nữa, ông lại đến nguyện đường thánh Đamianô với ý định trục xuất Phanxicô ra khỏi thị xã. Nhưng tất cả đều vô ích. Quá đau đớn, ông chỉ còn cách là khởi tố Phanxicô ở tòa án (tháng 2 hoặc tháng 3 năm 1207) đòi trả lại số tiền đã cúng cho nhà thờ và truất quyền thừa kế.

Được trát đòi ra hầu tòa của viên chưởng khế, Phanxicô không chịu đivà ngài kêu lên Giám mục Giudo. Vì ngài đã dâng mình phục dịch trong nhà Chúa (kể từ khi được linh mục coi sóc nguyện đường thánh Đamianô nhận làm người cộng sự), và đàng khác, vì ngôi nhà nguyện này trực thuộc tòa giám mục, nên Phanxicô thoát khỏi quyền tài phán phần đời. Đức Giám mục đã đích thân xét xử vụ Phanxicô một cách long trọng trước sự hiện diện của các chức sắc đạo đời. Không ngần ngại, Phanxicô đã trả lại cho thân phụ tất cả những gì ngài có: "Cho đến nay, ngài nói, tôi gọi ông Phêrô Bênađônê là cha, nhưng vì đã quyết tâm phụng sự Chúa nên tôi trả lại cho ông tất cả số tiền đã làm cho ông phải bận lòng, và cả quần áo ông đã cho tôi. Bây giờ tôi có thể kêu: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời!" Nói rồi ngài cởi bộ đồ còn mặc trên mình và trao cho thân phụ.

Lập tức Đức Giám mục lấy áo choàng che cho ngài, rồi bảo lấy cái áo làm việc cùa người làm vườn cho ngài mặc. Tâm hồn thể xác được thanh thoát, nhẹ nhàng, từ nay Phanxicô có thể đi theo Chúa Kitô trần trụi trên thập giá. Theo các tác giả mới nhất, đó là ngày 16 tháng 4 năm 1207.

Sau cử chỉ từ bỏ này, Phanxicô rời bỏ quê nhà và tự xưng là sứ giả của Vua Tối cao; ngài đi đến ở đan viện Valfabricca, nơi đây ngài bị đối xử tàn tệ; sau đó ngài đến Gubbio rồi trở về nguyện đường thánh Đamianô. Phanxicô trở lại với nghề thợ nề, đi ăn xin vật liệu tiếp tục tu bổ nhà thờ. Xong nhà thờ này, ngài lại sửa sang nhà thờ thánh Phêrô (San Pietro della Spina) và Đức Bà thiên Thần. Trong những năm này (1207-1209) dân chúng xôn xao bàn tán nhiều về Phanxicô. Người thì cho là đấng thánh, kẻ lại coi là anh khùng. Còn Đức Giám mục thì ủng hộ thánh nhân. Vị linh mục ở nhà thờ thánh Đamianô cũng vậy.

Trong lúc ngài làm việc ở nhà thờ Đức Bà Thiên Thần (Porziuncula), Clara con gái của ông Favêrônê gởi tiền và thức ăn đến cho ngài và đám thợ bạn. Khi mới 14 tuổi đầu, Clara đã linh cảm được sự cao cả của sứ điệp của Phanxicô mang tới và đã thoáng thấy ơn Chúa kêu gọi mình đi theo Đức Kitô nghèo khó.

Chúng ta thấy: khi thi hành mệnh lệnh của Chúa, mà ngài hiểu theo nghĩa đen, Phanxicô đã hiểu thập giá dưới mọi hình thức, như bị thân nhân ngược đãi, chịu thiếu thốn, khổ cực, ngài đã chiến thắng thế gian, đã chiến thắng bản thân khi đi khất thực hàng ngày. Sắp tới ngày ngài được hiểu rõ khía cạnh thiêng liêng của sứ mệnh mình: đó là canh tân Giáo Hội Chúa Kitô bằng Tin Mừng về nghèo khó.

4. NGHÈO KHÓ PHÚC ÂM

Sau khi sửa lại nhà nguyện Porziuncula, Phanxicô vẫn ở lại đó thường xuyên vì lòng sùng kính Đức Mẹ. Một hôm, chắc là ngày 24 tháng 2 năm 1209 - vì hôm ấy người ta mừng lễ các thánh Tông Đồ - ngài nghe đọc Lời Chúa phán cùng các môn đệ khi sai họ đi rao giảng:

"Hãy loan báo: Nước Trời đã gần bên. Anh em đã không công mà được thì cũng hãy cho không. Đừng mang bạc hay tiền để trong túi thắt lưng, đừng mang bị, đừng có hai áo, giày dép, gậy cầm tay, vì người thợ đáng được của nuôi thân. Vào nhà nào hãy chào hỏi người ta; nếu là nhà xứng đáng thì bình an anh em cầu chúc cho sẽ đến trên nhà ấy; nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an anh em sẽ trở về với anh em" (Mt 10,7-14).

Sau vài lời giảng giải của vị chủ lễ, Phanxicô hiểu õ bản văn của Kinh Thánh. Ngài thốt lên: "Đó là điều tôi mong muốn, đó là điều tôi kiếm tìm, đó là điều tôi ao ước hết lòng hết sức".

Không trì hoãn, Phanxicô áp dụng theo nghĩa đen những chỉ thị của Chúa, coi như đó là chỉ thị cho cá nhân mình. Ngài cởi bỏ bộ áo ẩn tu còn mang trên mình, quẳng luôn đôi giày và chiệc gậy, cả dây nịt da và túi tiền, rồi khoác vào một cái áo tồi tàn với một dây thừng thắt lưng, sau khi vẽ lên trên áo một hình thánh giá. Hân hoan về ơn Chúa vừa soi sáng cho biết rõ con đường của mình "nhà tông đồ của thời đại mới" (Sabatier) liền khởi sự rao giảng khắp nơi Phúc Âm về nghèo khó, đền tội và hòa bình ...

Trước lời ngài giảng, giới ưu tú Assisi xúc động; Bênađô Quintavalle (Canh-ta-va-lê) một nhân vật của thành phố và Phêrô Cattani, một giáo dân luật gia tùng sự tại toà giám mục tự nguyện đi theo Phanxicô. Trước khi nhận những đồ đệ tiên khởi này, ngài muốn thỉnh ý Chúa một lần nữa, ngài dẫn họ vào ngôi nhà nguyện thánh Nicôla gần công trường thành phố. Sau khi cầu nguyện lâu giờ, ba người nói với người trông coi nhà thờ: "Xin làm ơn cho chúng tôi xem cuốn Phúc Âm". Rồi nhân danh Chúa Ba Ngôi, họ gặp đoạn sau đây: "Nếu anh muốn nên hoàn thiên, hãy đi bán hết của cải anh mà phân phát cho người nghèo, rồi anh sẽ có một kho báu trên trời" (Mt 19,21). Lần thứ hai họ đọc: "Khi đi đường, đừng mang gì theo, đừng mang tiền bạc,...". Lần chót, họ giở đúng đoạn này: "Ai muốn theo tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo tôi" (Lc 9,23). Như thế, Phanxicô đã khám phá ra một lần nữa Phúc Âm về sự nghèo khó tuyệt đối và được ơn trên soi sáng cho hiểu rõ sứ mạng của ngài trong Giáo Hội. Đó là ngày 15 tháng 4 năm 1209. Không còn nghi ngờ gì nữa. Bênađô phân phát của cải cho người nghèo trên công trường và cùng với Phêrô Cattani gia nhập cộng đoàn huynh đệ mới.

Khi con số của nhóm lên tới 7 người, Phanxicô ra đi chinh phục thế giới với họ. Cuộc hành trình tông đồ đầu tiên này vượt quá mọi điều người ta có thể tưởng tượng.

Đến ngày hẹn, tất cả lại gặp nhau tại Assisi. Kinh nghiệm vừa trải qua thật là tốt đẹp! Chúa không bỏ rơi những sứ giả của Đức Nghèo tuyệt đối. Chương trình sống của nhóm anh em làm cho Đức Giám mục ngần ngại. Phanxicô trả lời: "Nếu chúng con có của cải, tất phải có khí giới để bảo vệ, rồi từ đó sẽ sinh ra tranh chấp, kiện tụng. Kết quả là chúng con không yêu mến Chúa cách thong dong được. Vì thế chúng con không muốn sở hữu của cải nào ở thế gian này".

Lúc bấy giờ Phanxicô khởi công viết một bản luật rất ngắn, gọi là Luật Phúc Âm (Regula evangelii), trong đó người ta thấy, ngoài một số lời Phúc Âm khác, có mấy đoạn mà thánh nhân đã gặp tại nhà thờ Porzioncula và nhà thờ thánh Nicôla trước kia. Một người canh tân Giáo Hội không thể đứng ra ngoài Giáo Hội được. Bởi thế Phanxicô đã sang tận Rôma trình bản luật lên Đức Giáo Hoàng Innôcentiô, bấy giờ cũng đang tiếp tục công cuộc cải cách Giáo Hội. Lúc ấy Đức Giám Mục Assisi cũng có mặt ở đó, và theo nhiều sử liệu, thì ngài đã giới thiệu thánh Phanxicô với Hồng Y Gioan Colonna, nhân vật cao nhất của giáo triều. Vị Hồng Y cho mời Phanxicô đến, điều tra kỹ càng và khuyên ngài chọn một trong hai đường, là luật dòng thánh Biển Đức và đời sống ẩn tu. Điều làm cho vị chức sắc của giáo triều lo ngại là Phanxicô không đủ sức thực hiện những dự tính hết sức lý tưởng của mình, vì thế ngài đề nghị với Phanxicô một lối sống dễ dàng hơn. Một cách khiêm tốn, nhưng kiên trì và cương quyết, thánh nhân đã chống lại đề nghị này. Thấy thế, Đức Hồng Y đổi ý; ngài đứng ra bênh vực Phanxicô và đem dự định của nhóm người thành Assisi ra trình bày với Đức Thánh Cha. Khi gặp Đức Innôcentiô ở điện Latêranô, ngài tâu: "Con đã gặp một người hoàn hảo muốn sống theo nếp sống Phúc Âm và giữ trọn Phúc Âm trong mọi sự; con tin rằng Thiên Chúa muốn dùng người ấy mà đổi mới Giáo Hội trong toàn thế giới".

Trước đó, Phanxicô đã tự động vào điện Latêranô mà không được giới thiệu trước, nên đã bị đuổi ra. Lần này Đức Thánh Cha xin Hồng Y Gioan dẫn Phanxicô đến. Sau khi nghe thánh nhân trình bày dự định, ngài cũng biện bác như vị Hồng Y: "Nếu chúng con không muốn có bất cứ của sở hữu nào thì lấy gì mà sống?"

Dự tính của Phanxicô xem ra quá sức loài người, ngài nghĩ thế. Đa số các Hồng Y cũng nghĩ như vậy. Thánh nhân chỉ trả lời vỏn vẹn một câu: "Con tin tưởng phó thác nơi Chúa Giêsu Kitô. Người đã hứa ban cho ta sự sống và vinh quang trên trời; Người sẽ không quên ban cho ta những gì cần thiết cho phần xác ở đời này, vào lúc thuận tiện".

Về phần Hồng Y Gioan, ngài nói với các đồng chức của mình: "Nếu chúng ta từ chối lời thỉnh cầu của người nghèo này, vì cho là quá khó khăn và mới mẻ khi xin ta cho phép sống theo lối sống Phúc Âm, thì ta hãy coi chừng kẻo phạm tới Phúc Âm Chúa Kitô, vì ai cho rằng tuân giữ Phúc Âm và khấn hứa theo đuổi sự hoàn thiện Phúc Âm có cái gì mới mẻ, vô lý và quá sức con người, kẻ ấy xúc phạm đến Chúa Kitô là tác giả của Phúc Âm". Hồng Y Hugôlinô cũng đồng ý như thế.

Đức Thánh Cha xét lại quyết định của mình. Trong lúc chờ đợi, Phanxicô cầu xin Chúa ban cho được như ý và biết cách đáp lại những lời bắt bẻ của Đức Giáo Hoàng.

Ngài không phải là thần học gia hay luật gia: Ngài chỉ biết đứng theo quan điểm của nhà thần bí và một "nhà du ca của Thiên Chúa" mà bênh vực Phúc Âm và đức nghèo tuyệt đối bằng cách dựa vào Chúa Kitô.

Đó là điều ngài đã làm trong cuộc yết kiến Đức Giáo Hoàng lần thứ hai, qua bài dụ ngôn nhan đề "Biện hộ cho người phụ nữ nghèo trong sa mạc", mà Chúa Thánh Thần đã linh ứng cho ngài trong khi cầu nguyện. Đức Giáo Hoàng Innôcentiô hoàn toàn bị chinh phục. Ngài càng tỏ ra ân cần với Phanxicô vì nhận ra trong Phanxicô con người nhiệm mầu đang kê vai chống đỡ đền thờ Latêranô, như  ngài đã thấy trong một giấc chiêm bao.

Đức Giáo Hoàng phê chuẩn bằng miệng bản "Luật Phúc Âm" và như thế là ngài chấp nhận "đặc ân sống nghèo" cho cộng đoàn mới của anh em. Sau khi nhận lời hứa tuân phục của Phanxicô, ngài uỷ quyền cho thánh nhân và những ai ngài sẽ chỉ định, được rao giảng đền tội "khắp nơi". Đó là điều chạm tới quyền của các Giám Mục, vì thời ấy chỉ các ngài mới được đặc ân rao giảng hoặc tự mình hoặc nhờ đại diện.

Để Phanxicô và các bạn ngài tự do làm tròn sứ mạng, Đức Thánh Cha ra lệnh cho những người không phải là giáo sĩ phải chịu cắt tóc. Có lẽ vào khoảng thời gian này Phanxicô đã chịu chức phó tế, và chắc chắn là Đức Giáo Hoàng Innôcentiô III rất cảm phục thánh nhân và "yêu mến người tôi tớ Chúa với một tình yêu đặc biệt" (2Cel 17). Sau này chính ngài cũng sẽ ban đặc ân sống nghèo cho Clara một cách dễ dàng.

Công đồng Latêranô (1215) đã quyết định không ai được lập dòng mới, trừ ra khi dòng ấy dựa vào một trong 4 luật lớn cổ truyền. Tuy thế Đức Giáo Hoàng vẫn phê chuẩn Luật dòng Anh em Hèn mọn (tức dòng Phanxicô) không bao lâu sau công đồng này.

Trong tâm tình gắn bó với Giáo Hội, thánh Phanxicô thành Assisi gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô và khám phá ra "những kho tàng vô tận"  của Đức Kitô chịu đóng đinh và của Phúc Âm. Kinh nghiệm tôn giáo hết sức chân thực ấy giải thích và định nghĩa linh đạo Phan sinh cũng như  Luật dòng Anh em Hèn mọn và sứ mạng đặc thù của dòng trong Giáo Hội.

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Những đức tính tự nhiên nào nơi thánh Phanxicô đã giúp ngài phát triển ơn Chúa và hoàn thành sứ mạng của ngài trong Giáo Hội?

2. Khi trở lại, thánh Phanxicô đã gặp những khó khăn nào:

  • về phía dư luận (bạn bè, đồng bào);
  • về phía thân nhân?

Ngài đã phấn đấu như thế nào đối với bản thân để nghe theo tiếng Chúa gọi?

3. Tại sao việc ngài hôn người phung là quan trọng trong bước đường trở lại của thánh Phanxicô đến nỗi ngài còn nhắc lại trong Di chúc?

4. Thái độ của thánh Phanxicô đối với giáo quyền khi ngài trở lại và tìm kiếm thánh ý Chúa?

5. Thánh Phanxicô đáp lại ơn Chúa soi sáng như thế nào?

6. Tìm hiểu sứ mạng của thánh Phanxicô trong Giáo Hội qua cuộc trở lại của ngài?


CHƯƠNG II: TÍNH ĐỒNG NHẤT VÀ DỊ BIỆT GIỮA CÁC DÒNG TU

Tóm lược:

Tất cả mọi người Kitô hữu đều được mời gọi sống hoàn thiện. Nhưng tu sĩ được Chúa gọi để sống cái lý tưởng Kitô giáo ấy một cách quyết liệt với sự tự do mà ba lời khấn dòng mang lại.

Có hai thứ Hội dòng. Loại thứ nhất nhằm phục vụ một nhu cầu lịch sử nhất định của Giáo Hội, cho nên thường thường khi nhu cầu đã hết, thì dòng cũng hết lý do tồn tại. Loại khác, không nhằm một nhu cầu cụ thể nhất định nào, do đó có thể nhận nhiều công tác khác nhau. Cái duy trì các dòng này không phải là công việc, song là cái linh đạo, hoặc nếp sống tinh thần của chúng. Có nhiều dòng vì có nhiều cách đi theo Chúa Giêsu.

1. SỰ HOÀN THIỆN KITÔ GIÁO

Không đâu mà sự khác biệt và khả năng phát triển phong phú của đời sống Kitô giáo lộ ra một cách hiển nhiên bằng trong đời sống tu trì. Cố nhiên tất cả mọi người đi tu đều theo đuổi một mục đích chung là sự hoàn thiện; tất cả đều muốn thể hiện lý tưởng trọn lành trong đời sống cá nhân mình, vì tất cả đều đáp lại lời Chúa kêu gọi: "Hãy đến theo tôi" (Mt 19,21) và: "Ai muốn làm môn đệ tôi, hãy từ bỏ mình đi, hãy vác thập giá mình mỗi ngày mà theo tôi" (Lc 9,23). Còn một lời khác nữa của Chúa áp dụng cho người tu hành cũng như cho tất cả mọi Kitô hữu: "Tôi là đường, là chân lý, là sự sống. Chẳng ai đến với Cha mà không phải qua tôi" (Ga 14,6).

Bởi thế một tu sĩ phải thể hiện đúng mức đời sống Phúc Âm mà, với tư cách là môn đệ Chúa Kitô, họ được Chúa mời tham dự.

2. SỨ MẠNG CỦA TU SĨ

Trong cộng đoàn Giáo Hội, họ là những thành phần được Chúa gọi riêng ra, để lý tưởng Kitô giáo trong sự tự do mà ba lời khấn: nghèo khó, vâng phục và trinh khiết mang lại. Đời sống họ phải sinh hoa kết quả, phải soi đường cho tất cả mọi thành phần của Giáo Hội, nhất là cho những ai vì công việc thế gian gây ngăn trở thường chỉ có thể thực hiện đời sống Kitô với nhiều nhượng bộ.

Như thế, bằng đời sống và hành động của mình, các dòng tu có sứ mạng gìn giữ cho Tin Mừng của Chúa Kitô được sống động trong Giáo Hội và thể hiện Tin Mừng một cách đầy đủ, nguyên vẹn.

Nhưng, nếu lý tưởng chỉ là một, thì đường dẫn tới đó lại có rất nhiều, và thường cũng rất khác nhau.

Nơi nhiều dòng tu trong Giáo Hội Công Giáo, ta có thể thấy sự khác biệt ấy qua một đặc điểm bên ngoài.

3. HAI LOẠI DÒNG TU

Có những dòng tu hay những cộng đoàn tương tự được thành lập vì một mục đích chính xác; lý do khiến những cộng đoàn ấy ra đời là một nhu cầu rõ rệt của Nước Chúa, một lý tưởng hết sức rõ ràng. Chẳng hạn các dòng Hiệp sĩ thời thượng Trung cổ nhắm việc bảo vệ miền Thánh Địa và giúp đỡ các tín hữu đi hành hương ở đó. Hay là những dòng được lập ra để giải phóng giáo hữu khỏi ách nô lệ, người ngoại giáo và cứu họ khỏi hiểm hoạ bỏ đạo.

Nhưng điều nói trên cũng áp dụng phần nào cho những dòng chuyên lo về nhà thương, về giáo dục và những hội đoàn truyền giáo. Những tu hội nói đây cùng theo đuổi một lý tưởng chung như mọi dòng tu khác, nhưng đồng thời cũng nhắm một nhu cầu nhất định của Nước Chúa khi thành lập, và bởi đó cũng có những sắc thái riêng, một bộ mặt riêng.

Nhưng còn có những hội dòng mà bộ mặt riêng biệt không lệ thuộc vào một mục đích rõ ràng như thế bởi vì sứ mệnh của họ là toàn bộ mọi nhu cầu của Nước Chúa theo một tinh thần hết sức rõ rệt.

Trường hợp các hội dòng lớn kỳ cựu cũng như mới mẻ trong Giáo Hội là một ví dụ giúp ta hiểu điều vừa nói trên một cách đặc biệt.

Qua suốt dòng lịch sử lâu dài của mình, Dòng thánh Biển Đức đã nhận nhiều công tác khác nhau trong Nước Chúa Kitô và đã hoàn thành một cách tốt đẹp trong Hội Thánh, đến nỗi có thể nói qua nhiều chi nhánh và tu hội trực thuộc, dòng này đã lấy nhiều công tác của Giáo Hội làm công tác của chính mình, đã chu toàn những công tác ấy với một tinh thần nhất định, tinh thần đó chính là ơn gọi riêng biệt của dòng này trong Giáo Hội.

Điều vừa nói trên chắc chắn cũng có thể áp dụng cho dòng thánh Inhaxiô (Dòng Tên). Không mấy dòng tu đã nhận lãnh toàn vẹn mọi công tác của Giáo Hội như dòng này, và đã hoàn thành với một tinh thần riêng, chỉ tìm thấy ở đây. Chắc chắn dòng này đã làm được những sự việc lớn lao cho Giáo Hội.

4. LINH ĐẠO LÀ GÌ?

Như ta thấy, trong những dòng tu loại này, yếu tố quyết định là nếp sống tinh thần chứ không phải công tác chuyên biệt nào. Và đó là đặc điểm thứ hai của các dòng tu; nó phát xuất từ một nền linh đạo (spiritualité) riêng, một nếp sống tinh thần riêng, bởi vì nền linh đạo và nếp sống tinh thần đó chỉ có thể tìm thấy trong những dòng tu này và cũng chính đó là điều phân biệt các dòng này với những dòng khác. Cũng còn có thể nói rằng những dòng nói trên đi theo Chúa Kitô một cách hoàn toàn riêng biệt. Cách thức đó là kết quả của giai đoạn phát triển lịch sử của Giáo Hội vào thời đại mà các dòng ấy xuất hiện, và do đó nó đã được bảo toàn trong những dòng liên hệ để sinh hoa kết quả cho mọi thời đại.

Sứ mệnh luôn luôn cần thiết của các hội dòng ấy trong lịch sử của Giáo Hội, là trình bày một cách thức theo Chúa Kitô sống động. Chính nhờ đường lối theo chân Chúa hoàn toàn riêng biệt này mà các dòng có một tác phong và màu sắc riêng biệt. Có lẽ ta còn có thể lấy trường hợp các dòng kể trên làm  thí dụ.

Dòng Biển Đức thì thờ phượng Chúa Kitô vinh hiển, Đấng thủ lãnh thời gian và vĩnh cửu, vị Thầy cả Thượng Phẩm luôn luôn dâng hiến tiến lên Cha những ước nguyện của loài người. Quanh thánh Biển Đức và trong đám đồ đệ của ngài đã hình thành một cộng đồng tế tự, trong đó người ta hy sinh tất cả để theo chân Chúa Kitô, linh mục tối cao, để dâng tiến và đại diện mọi nguyện vọng của Giáo Hội bên ngai Chúa Cha. Bởi đó là sứ mệnh trước tiên của dòng này là luôn luôn đem thế gian và Nước Chúa đặt trong mầu nhiệm Chúa Kitô, mầu nhiệm tuy ẩn dấu nhưng vẫn sống động trong mầu nhiệm của Giáo Hội.

Còn thánh Inhaxiô thì đứng kế bên Chúa và chiến đấu chống lại sự ác trong thế gian và đem Nước Chúa đến chỗ khải hoàn vinh quang. Quanh ngài, đồ đệ hợp thành một cộng đồng các chiến sĩ một niềm tuyệt đối trung thành và vâng phục đi theo ngọn cờ Chúa Kitô. Trong hội dòng này, các tu sĩ sẵn sàng dâng hiến và từ bỏ tất cả để đi theo Chúa Kitô Vua, hầu đảm nhiệm mọi nguyện vọng Giáo Hội, lắm khi họ đứng một mình ở hàng đầu chiến tuyến gian nguy, bảo vệ Nước Chúa khỏi sức mạnh của bóng tối.

5. TẦM QUAN TRỌNG CỦA LINH ĐẠO ĐỐI VỚI CÁC DÒNG

Những hội dòng đã thành lập vì một mục đích xác định, có thể mất tầm quan trọng khi mục đích ấy đã hết thời, thí dụ trường hợp các dòng Hiệp sĩ thời Trung cổ. Còn những dòng thành lập vì một tinh thần nhất định, khó mất giá trị trong Giáo Hội, dù trong những địa hạt hoạt động quan trọng nhất của các dòng ấy không còn nữa, bởi vì trong trường hợp các dòng nói trên đây không phải công việc họ làm là yếu tố tiên quyết nhưng là cách thức hoàn thành các công tác đảm nhận. Họ chỉ mất chỗ đứng khi nào họ không còn giữ cái tinh thần riêng biệt của họ nữa và do đấy không còn trung tín với cơ cấu cốt yếu của riêng mình.

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Người giáo dân và người tu sĩ có theo đuổi cùng một lý tưởng hay không? Đó là lý tưởng nào?

2. Người tu sĩ và người giáo dân cùng được kêu gọi sống hoàn thiện, thế thì họ khác nhau ở chỗ nào?

3. Linh đạo của Hội dòng là gì?  (Có thể xem theo đoạn đầu của chương IV).


CHƯƠNG III: LÃNH VỰC HOẠT ĐỘNG NGUYÊN THUỶ CỦA DÒNG ANH EM HÈN MỌN

Tóm lược: Dòng Anh em Hèn mọn không được lập ra vì một công tác nào nhất định. Hoạt động của anh em thời đầu bao gồm nhiều thứ: lao động, rao giảng, học vấn, chiêm niệm. Như thế nét độc đáo của Dòng không nằm trong công việc nhưng trong đường hướng tinh thần.

Để xác định bản  chất Dòng Anh em Hèn mọn, ta có thể theo những điều nói trên đây mà nêu lên câu hỏi: có phải dòng đã ra đời vì một mục đích nhất định nào không? Nói rõ hơn: có phải dòng đã được thành lập vì một nhu cầu nhất định của Nước Chúa và do đó có phải sắc thái riêng của dòng tuỳ thuộc ở một hoạt động rõ rệt không?

Để trả lời câu hỏi trên, ta phải tìm hiểu đâu là sứ mạng mà thánh Phanxicô đã vạch ra cho anh em hồi sơ khai của hội dòng.

1. LAO ĐỘNG

Trước tiên hình như Anh em Hèn mọn đã tiếp tục hành nghề cũ của mình. Bởi lẽ lúc đầu không sống trong các tu viện (theo đúng nghĩa của danh từ tu viện), nhưng sống hoà lẫn giữa đồng bào nhiều hơn, và tìm được chỗ nào tiện thì trú ngụ ở đó (1Cel 39), theo sử liệu của Giacôbê Vitơry (Vitry) "suốt ngày họ đi vào các đô thị và thôn xóm, tìm công việc làm độ thân" (Thư đề tháng 11 năm 1216).

Vì thế trong Di cảo của ngài, thánh Phanxicô dành một chỗ đặc biệt để khuyến khích anh em làm một việc tay chân lương thiện.

Trong bản Luật không có sắc dụ (Bản luật 1221) ngài dành cả một chương nói về lao động, nhan đề là "Về cách thức phục vụ và làm việc", ngài viết:

"Khi đến làm việc và phục vụ trong nhà người ta, thì anh em đừng giữ chức quản phòng, hay quản gia, hay làm chủ trong nhà mình phục vụ, hay một chức vụ nào có thể gây vấp phạm cho người khác hay ‘làm thiệt hại cho chính mình'; nhưng anh em hãy sống hèn mọn, phục tùng mọi người trong nhà. Ai có khả năng làm việc và hành nghề mình biết, miễn là nghề ấy không gây thiệt hại cho phần rỗi linh hồn mình và được xem là lương thiện (...). Đổi lại công việc mình làm, anh em có thể nhận mọi đồ vật cần thiết ngoại trừ tiền bạc. Khi cấp bách, anh em hãy đi hành khất như những người nghèo khác. Anh em được phép có những dụng cụ cần thiết cho nghề nghiệp mình" (chương VII).

Bản Luật có sắc dụ (Bản Luật 1223) nói ít về vấn đề này, nhưng một cách sâu sắc :

"Những anh em được Chúa ban ơn làm việc, thì hãy làm việc một cách trung tín và sốt sắng. Như thế, họ tránh được sự ở nhưng có hại cho linh hồn, mà vẫn không dập tắt tinh thần cầu nguyện và đạo đức, là đối tượng mà mọi thực tại trần gian khác phải phục vụ. Đổi lại công việc lao động, anh em được nhận những gì cần thiết cho đời sống vật chất của mình và của anh em, ngoại trừ tiền bạc. Anh em hãy nhận cách khiêm nhường, như những tôi tớ của Thiên Chúa và những người bước theo thánh đức nghèo khó" (Chương V).

Và không bao lâu trước khi từ trần Phanxicô lại tha thiết nhắc nhở anh em một lần nữa về cái sứ mệnh ấy:

"Phần tôi, tôi đã làm việc tay chân và vẫn muốn làm việc. Tôi tha thiết muốn tất cả các anh em khác đều phải chuyên tâm làm một công việc lương thiện. Ai không biết làm việc thì phải học, không phải vì ham muốn nhận thù lao, nhưng là để làm gương và tránh ở nhưng. Khi người ta không trả công, chúng ta hãy chạy đến bàn ăn của Chúa bằng cách đi xin của bố thí từng nhà" (Dc 20-22).

2. Ý NGHĨA TÔNG ĐỒ CỦA LAO ĐỘNG

Những lời này cho ta thấy rõ ràng rằng Phanxicô làm việc không phải để làm việc hay là để kiếm tiền công, nhưng lao công đối với ngài có một ý hướng tông đồ: bởi thế một khía cạnh quan hệ của tông đồ Phan sinh là nêu gương tốt bằng một đời sống Kitô giáo trọn vẹn giữa thế gian, lặn lội giữa loài người, cùng làm việc với họ, nhưng với tinh thần Phúc Âm :"Anh em phải làm người hèn mọn" hơn mọi người cùng nhà và sẵn sàng phục dịch tất cả.

Khi làm việc người ta thường quên mối quan hệ giữa mình với Chúa, chỉ nhắm vào lợi lộc, bận bịu với công việc và do đấy lao động trở nên mối nguy hiểm cho đời sống Kitô giáo chân chính để làm gương cho mọi người. Cũng trong bản luật nói trên, Phanxicô đề cập đến một loại sinh hoạt khác của anh em là: săn sóc người đau ốm và nhất là người phung cùi (như chính ngài đã làm).

"Anh em có thể làm những công việc không nghịch lại với đời sống chúng ta để phục vụ những nơi ấy, và Chúa sẽ chúc lành cho. Tuy nhiên, vì nhu cầu rõ ràng khẩn thiết của người phung cùi, anh em có thể đi xin của bố thí cho họ. Nhưng nhất thiết hãy tránh tiền bạc. Cũng vậy, tất cả anh em đừng chạy ngược chạy xuôi để tìm kiếm chút lợi lộc đáng khinh" (Lksd, 8,9-12).

3. RAO GIẢNG VÀ TRUYỀN GIÁO

Theo bản luật này, thì trong dòng, các linh mục là những người tông đồ trong Nước Chúa. Phanxicô đưa ra cho họ những chỉ thị quý báu về vấn đề giải tội và rao giảng Lời Chúa (Lksd 12.17.21). Việc giảng dạy lưu động mai đây nay đó là một trong những sinh hoạt cốt yếu của Hội Dòng hồi sơ khởi. Công tác ấy gây một tiếng vang lớn trong Giáo Hội thời ấy, đến nỗi Giacôbê Vitơry đã viết một cách đầy thán phục: "Đây quả là Hội Dòng quy tụ những người nghèo chân chính của Chúa chịu đóng đinh, và là Hội Dòng của những người giảng thuyết, mà chúng ta gọi là Anh em Hèn mọn".

Luật Dòng Anh em Hèn mọn là luật dòng đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội nói kỹ càng về vấn đề truyền giáo cho dân ngoại. Có cả một chương nói về "Những anh em đi truyền giáo cho người Hồi giáo và các người ngoại giáo khác".

Phanxicô khuyên dạy và hướng dẫn các anh em ấy trong đời sống và hoạt động tông đồ của họ.

Người đòi hỏi họ hy sinh mọi sự cả đến tính mạng nữa: "Tất cả anh em, dù ở đâu, hãy nhớ rằng: mình đã tự hiến và phó dâng thân mình cho Chúa Giêsu Kitô. Vì lòng yêu mến Chúa, anh em phải chấp nhận các nghịch thù, hữu hình cũng như vô hình, vì Chúa nói: Ai liều mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ cứu được mạng sống ấy và hưởng phúc trường sinh" (Lksd 16,10-11).

4. CHIÊM NIỆM

Trong lòng Giáo Hội, Anh em Hèn mọn còn một sinh hoạt khác nữa, mà thánh Phanxicô đã nói tới khi người diễn tả lối sống đặc biệt dành cho anh em nào sống đời chiêm niệm trong một nơi thanh vắng, chuyên lo cầu nguyện và suy ngắm mầu nhiệm của Chúa. Sinh hoạt này đối với Phanxicô là một sinh hoạt cấp bách và cần thiết đến nỗi ngài đã do dự lâu lắm không biết có nên rút lui khỏi sinh hoạt và giảng thuyết lưu động hay chăng? Nhưng Chúa đã chỉ dẫn cho ngài phải chọn cả hai thứ sinh hoạt.

6 . HỌC VẤN

Và sau cùng trong thư gửi cho thánh Antôn, Phanxicô cho phép mở trường thần học:

"Tôi bằng lòng để Anh giảng dạy thánh khoa thần học cho anh em, miễn là trong việc học hành, người ta đừng dập tắt tinh thần cầu nguyện và sốt mến, như được ghi trong Luật Dòng" (Thư gửi thánh Antôn).

7. PHỤNG VỤ

Tất cả các sinh hoạt ấy phải được sinh hoạt trong phụng vụ thấm nhuần và nâng đỡ, Phanxicô dạy anh em có bổn phận trau dồi đời sống phụng vụ. Họ phải đọc nhật tụng như các giáo sĩ khác: "Tôi cũng xin anh em giáo sĩ hãy sốt sắng cử hành thần tụng: Trước mặt Thiên Chúa, anh em đừng bận tâm tới cung giọng, nhưng tới sự hoà hợp của tâm hồn, sao cho lời kinh trên môi miệng hoà hợp với tâm trí và tâm trí hoà hợp với Thiên Chúa" (Thư gửi Toàn dòng, 41).

Đối với Phanxicô, tất cả đời sống phải được đúc kết lại trong sinh hoạt phụng vụ: Ngài coi đó là một việc quan trọng đến nỗi ngài đã nghiêm nhặt viết những lời sau đây, tuy ngài vốn rất nhân hậu và từ tốn:

"Ai không muốn tuân giữ các điều ấy, thì tôi không coi họ là người công giáo và là anh em của tôi nữa. Tôi cũng không muốn nhìn mặt và nói chuyện với những người đó cho đến lúc họ hoán cải" (Thư gửi Toàn dòng, 44).

KẾT LUẬN:

Như ta thấy Phanxicô đã để lại cho anh em nhiều môi trường hoạt động trong Giáo Hội, bởi đó sinh hoạt của Anh em Hèn mọn ngay từ đầu đã bao gồm nhiều thứ.

Sinh hoạt đó đi từ lao động đến tĩnh tu thuần tuý, từ công tác tông đồ đến việc giảng dạy thần học, và trong các sinh hoạt ấy, thì phụng vụ chiếm một chỗ đặc biệt. Vào thời đại ấy môi trường hoạt động kia khó mà nới rộng hơn nữa.

Từ cái nhìn tổng quát trên, ta có thể kết luận: Đặc tính hoặc bản chất của dòng thánh Phanxicô không tuỳ thuộc ở một sinh hoạt bề ngoài nào nhất định.

CÂU HỎI GỢI Ý

1.         Theo thánh Phanxicô, anh em phải lao động trong tinh thần nào?

2.         Ý nghĩa của lao động đối với thánh Phanxicô?

3.         Chúng ta có quan tâm đủ tới sứ mạng thừa sai không? Làm cách nào chu toàn sứ mạng ấy hôm nay?


CHƯƠNG IV: ĐƯỜNG LỐI THÁNH PHANXICÔ ĐI THEO CHÚA KITÔ

Tóm lược: Đức Kitô mà thánh Phanxicô noi theo là Đức Kitô trong nhân tính của Ngài. Tình yêu thúc đẩy ngài sống như  Chúa đã sống, một cách thật sát. Kết quả là ngài hoàn toàn huỷ bỏ được "tinh thần xác thịt", được chi phối hoàn toàn bởi "Tinh thần của Chúa". Nhờ tinh thần này, con người sẽ tràn ngập Thiên Chúa, sẽ tìm được sự thống nhất cho cuộc sống và tính đơn sơ trong sáng.

Trên kia chúng ta đã thấy dòng Anh em Hèn mọn không thuộc nhóm những hội dòng đã được thành lập vì một nhu cầu lịch sử nhất định của Nước Chúa. Vậy có phải Phanxicô đã nêu lên cho dòng mình một tinh thần nhất định làm sợi dây liên kết những sinh hoạt khác nhau không? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải xem thánh Phanxicô và hội dòng của ngài có hay không một cách thức noi gương Chúa riêng biệt, và trong tinh thần của dòng, có hay không lối độc đáo trình bày đời sống, hành động của Chúa Kitô ?

1. THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI

Trong đời sống tu trì của thánh nhân, ta thấy nổi bật hình ảnh Chúa làm người. Nền đạo đức thời tiền bán Trung cổ, kể từ thánh Bênađô trở đi đã khám phá được khía cạnh nhân loại nơi Chúa Giêsu. Đây là sự kiện mà người tín hữu suy niệm một cách say mê, sốt sắng: Chúa Cứu Thế đã sống nghèo nàn, hèn mọn, bị khinh dể và bị ruồng bỏ, đã rao giảng Tin Mừng cho dân chúng, nhất là cho người nghèo khổ; đã phục dịch tất cả mọi người, nhưng ưu tiên là người bệnh tật hèn yếu; Người đã đến với mọi người không trừ ai, tìm kiếm từng kẻ có tội, chịu đau khổ và tử nạn cho nhân loại. Đó là những nét trổi bật trong bức hoạ mới mẻ về Chúa Kitô, đáp ứng được nhu cầu đạo đức của người tín hữu thời ấy một cách đặc biệt. Họ cảm thấy hạnh phúc khi nghĩ đến Chúa đã trở nên anh em của mình.

2. TÌNH YÊU LÀ KHỞI ĐIỂM VÀ CÙNG ĐÍCH

Bức hoạ Chúa Kitô nói trên cũng đã ảnh hưởng sâu xa đến thánh Phanxicô. Bởi thế, ngài đã "thực nghiệm" các bài tường thuật của Phúc Âm theo một đường lối hoàn toàn mới mẻ và độc đáo: trong tình yêu. Bởi thế, đối với ngài, cái đã qua trở thành hiện tại, "không phải vì nhu cầu thích cái thực tế, nhưng vì lòng sùng kính thường nhật thúc bách". Ở đây, có thể nhắc tới hang đá ngài làm tại Greccio, đã diễn lại cách đơn sơ và sống lại một cách sâu sắc biến cố xưa xảy đến ở Bêlem. Cũng nên nhắc đến lòng sùng kính của thánh nhân đối với sự thương khó Chúa: ngài đã cùng chung khổ với Chúa chịu nạn đến nỗi đã được in năm dấu thánh trên mình. Sau hết, cũng vì thế, nên đối với Phanxicô, các bài tường thuật của Phúc Âm trở thành một "thực nghiệm" hiện tại tuy vừa giữ được tính chất siêu nhiên, vừa đầy tính chất nhân loại. Tình yêu của Thiên Chúa biểu lộ ra trong mầu nhiệm nhập thể và trong cuộc đời Chúa Kitô, tình yêu đó nung đốt Phanxicô đến nỗi ngài không còn biết làm gì hơn là đi theo Chúa trong tình thương mến. Bởi ngài tin chắc cuộc đời Chúa Kitô là con đường biểu lộ cụ thể tình yêu Thiên Chúa đối với loài người. Bởi vậy đối với ngài, con đường dẫn nhân loại đến tình yêu Chúa Cha, chính là cuộc đời Đức Kitô. Vì thế Phanxicô đem hết lòng mến yêu bắt chước cuộc đời Chúa trong từng nét, từng điểm, một cách cương quyết và đơn sơ, vượt qua mọi lý luận. Ngài chấp nhận toàn bộ Phúc Âm, không thêm bớt, gia giảm. Nhờ đó, cuộc đời ngài đã phản chiếu cuộc đời Chúa Kitô, và người đương thời đã coi thánh nhân như một Đức Kitô mới. Ngài phản ánh sự thánh thiện của Chúa, như lời Cêlanô, người đầu tiên đã viết truyện ký Phanxicô: "Tôi tin rằng thánh Phanxicô là tấm gương phản chiếu sự thánh thiện của Chúa và là hình ảnh sự toàn thiện của Người" (2Cel 26).

Vậy đường lối Phanxicô theo chân Chúa có đặc điểm này là phát xuất từ Tình yêu và dẫn về Tình yêu. Bởi thế, thánh nhân yêu mến Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã sinh xuống làm người để cho ta là anh em của Người được trở nên con cái Chúa Cha. Tình yêu của loài người đáp lại tình yêu Thiên Chúa: đó là nét tiêu biểu trong cuộc đời thánh Phanxicô, và cũng là đặc điểm của cách thức Phanxicô theo chân Chúa.

3. ĐI THEO VẾT CHÂN CHÚA KITÔ

Bằng cuộc sống và lời giảng dạy, thánh nhân đã vạch đường lối ấy cho con cái ngài làm lý tưởng. Chúa đã sống thế nào, Phanxicô muốn sống thế ấy, và các anh em cũng phải sống như vậy. Không ai diễn tả lý tưởng Phan sinh một cách rõ ràng và sâu sắc bằng thánh nữ Clara, đồ đệ trung thành nhất của Phanxicô:

"Con Thiên Chúa đã trở nên con đường cho ta đi theo; con đường ấy, thánh phụ Phanxicô, môn đệ yêu dấu Chúa, đã dùng lời nói và việc làm mà chỉ cho ta".

Phanxicô luôn luôn nhắc nhở anh em nhắm lý tưởng đó:

"Luật và đời sống anh em là: sống vâng phục, khiết tịnh và không có của riêng, và tuân giữ đạo lý cùng bước theo vết chân Đức Giêsu Kitô, Chúa chuúng ta" (Lksd 1).

Để không ai còn hồ nghi về cách thức mình muốn hiểu đời sống theo Phúc Âm như thế nào, Phanxicô thích dùng câu: "bước theo vết chân Chúa" (Sequi vestigia ejus), như Thánh Kinh quen dùng. Các anh em cũng phải bắt chước đúng hệt kiểu sống này, phải đặt vết chân mình vào vết chân Chúa. Họ phải bắt chước có thể nói là "từ chương", không cần giải thích. Luật và đời sống họ là "Lời Chúa, đời sống, giáo lý và Tin Mừng của Người" (Lksd 22). "Hỡi anh em, chúng ta hãy nhìn ngắm vị mục tử nhân lành đã chịu khổ hình thập giá để cứu độ đoàn chiên. Đoàn chiên Chúa đã đi theo Người trong gian khổ và bách hại, tủi nhục và đói khát, trong bệnh tật và thử thách cùng bao nỗi đắng cay khác; nhờ vậy, họ được Chúa cho sống muôn đời" (Hn 6).

Vậy, anh em phải luôn luôn đặt cuộc đời Chúa ra trước mặt mình, làm cho đời mình nên giống đời Chúa.

4. TINH THẦN CỦA CHÚA VÀ XÁC THỊT

Ai trung thành đi theo vết chân Chúa, bắt chước đời Người mà không thêm bớt, kẻ ấy sẽ được Tinh thần Chúa sống động trong mình, sẽ làm cho cuộc đời và hành động Chúa phản chiếu lại trong đời sống mình như trong một bức hoạ mới. "Tinh thần của Chúa" đó là đỉnh cao và một phần nào cũng là kết quả của cuộc đời dâng hiến. Ta có thể coi đó là nòng cốt tư tưởng và thái độ sống đạo của thánh Phanxicô.

Tinh thần Chúa phải lướt thắng tinh thần xác thịt, hay (nói theo kiểu mới) tinh thần của cái tôi ích kỷ. Thánh nhân đã bàn về điểm này trong Luật dòng, trong các thư từ và lời khuyên răn anh em. Hai ý niệm song hành này- Tinh thần Chúa và tinh thần xác thịt- chắc chắn là một trong những chìa khoá quí báu giúp ta hiểu bản chất và tinh thần dòng Anh em Hèn mọn. Qua nếp sống bề ngoài, Phanxicô đã bắt chước Chúa một cách gần như nô lệ và đòi hỏi anh em làm như thế, đến nỗi nhiều lúc ta có cảm tưởng ngài diễn một trò chơi nghiêm trang và thánh thiện (một trò chơi chứng tỏ Phanxicô là một nhà thơ có óc tưởng tượng linh hoạt và phong phú lạ thường). Tuy thế không phải là ngài bắt chước một cách hời hợt bên ngoài; ngay cả đời sống ngài là một trò chơi (theo nghĩa cao đẹp nhất), qua đấy việc đi theo Chúa biến thành việc bắt chước Chúa, cùng sống với và như Chúa. Nhưng Phanxicô cũng nhấn mạnh rằng việc bắt chước Chúa trong nếp sống bên ngoài phải tạo cho môn đệ Chúa một tâm trạng mới. Theo Phanxicô hiểu, trong mỗi một môn đệ Chúa, phải sống động một tinh thần hoàn toàn mới mẻ và ngài gọi nó là "Tinh thần của Chúa"- Spiritus Domini- hay tinh thần Thánh Kinh. Trên đường đi theo Chúa Kitô cách vô điều kiện, khi tác phong Phúc Âm đã chiến thắng xác thịt, lúc đó Tinh thần Chúa Kitô đến chiếm đoạt trọn vẹn người tín hữu.

5. HẬU QUẢ CỦA TINH THẦN CHÚA

Căn cứ vào những điều Phanxicô nói về Tinh thần của Chúa, ta có thể quảng diễn ý niệm xúc tích đó như sau:

Ai có Tinh thần Chúa và để nó hành động trong mình, sẽ không còn suy nghĩ theo mực thước thông thường người đời nữa. Kẻ ấy sẽ không nhìn và đánh giá thực tại cuộc sống theo tinh thần thế tục, bằng cái tôi ích kỷ; trái lại nhờ Tinh thần Chúa, tất cả mọi liên hệ và cảnh huống cuộc đời đều được đặt lại trên nền tảng Phúc Âm, được nhìn và đánh giá bằng chính cặp mắt Chúa Kitô.

Qua những tư tưởng trên, ta thấy sự đòi hỏi của con đường đền tội Phan sinh rộng rãi như thế nào, vì đền tội ở đây được hiểu theo nghĩa sâu xa của Phúc Âm là: trở dạ, đổi hướng lòng (metanoia).

Những giá trị hoàn toàn khép kín trong phạm vi tự nhiên đều bị biến đổi bởi Tinh thần Chúa, tuy rằng trong thực tế những nền văn minh Kitô giáo đã xây dựng một nền nhân văn tự lập, trái với Phúc Âm và tám mối phúc thật. Vì ở đây người ta tìm cách thực hiện những đòi hỏi gắt gao, "ngược đời" của Phúc Âm một cách nghiêm chỉnh, không nhân nhượng, và đem tư tưởng, đời sống, hành động theo kiểu mẫu Phúc Âm thay thế vào cái tôi ích kỷ, kiêu căng của loài người. Cũng vì thế mà nơi những người làm được như thế mầu nhiệm cứu thoát mở rộng ra trước mọi tạo vật. Giải thoát khỏi cái tôi ích kỷ, cái giá trị tự nhiên sẽ được đặt lại đúng chỗ và lấy lại được vẻ đẹp mà Chúa đã ban cho chúng và phải qui về Chúa. Ai đã dùng Tinh thần Chúa chiến thắng cái tôi, sẽ chiếm đoạt lại thế gian và mọi sự trong trật tự nguyên thuỷ Chúa đã an bài, và bởi đó, sẽ khám phá ra cái bản chất sâu thẳm của chúng. Cũng vì thế mà Phanxicô đã gần gũi tạo vật đến nỗi lắm lúc ta có cảm tưởng như trạng thái địa đàng đã diễn lại trong đời ngài. Khi Phanxicô không muốn gì cho riêng mình nữa, thì tạo vật trở nên bậc thang dẫn ngài tới Chúa.

Ta thấy điều mà Phanxicô sống và đòi hỏi là con người mới, con người thuộc về Chúa Kitô. Trên con đường đi theo Chúa, nhờ Tinh thần Chúa nuôi dưỡng, con người ấy tiến tới hoàn thiện thuộc về Chúa và tham dự vào sự sống Người. Bởi thế, Phanxicô đã có thể viết:

"Những anh chị em nào thực hành như thế và kiên trì đến cùng, thì Thánh khí Chúa sẽ ngự xuống trên họ và biến họ thành ngôi nhà và chốn cư ngụ của Người. Họ là bạn trăm năm, khi linh hồn đầy đức tin của chúng ta được Chúa Thánh Thần liên kết với Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta là anh chị em của Người khi chúng ta thực hiện ý Cha trên trời. Chúng ta là mẹ của Người khi chúng ta cưu mang Người trong tâm hồn và thể xác , bằng cách yêu mến Người và gìn giữ lương tâm trong trắng và chân thành; chúng ta sinh Người ra bằng hành vi thánh thiện nhằm nêu gương sáng cho kẻ khác" (thư  gửi các tín hữu, câu 48-53).

Những dòng này nói lên một cách tài tình tư tưởng căn bản của đời sống Phan sinh. Ai đã lấy Tinh thần Chúa mà chiến thắng cái tôi ích kỷ tức là "tinh thần xác thịt" (spiritus carnis), đều được tràn ngập Thiên Chúa, sống mật thiết với Chúa Ba Ngôi. Ai đã tuỳ sức mình dẹp bỏ được mọi vướng trở, lo lắng bận bịu sự đời, đều được tự do nẩy nở trong chiều hướng tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa. Họ sẽ thờ phượng Chúa với cõi lòng thanh sạch và được Chúa Ba Ngôi ngự trị trong mình. Bởi những kẻ sống nhờ Tinh thần Chúa và hành động theo Tinh thần ấy, sẽ không còn sống cho mình nữa mà hoàn toàn cho Chúa; họ đứng hẳn về phía Chúa, lấy Người làm tiêu chuẩn xây dựng vũ trụ và nhân sinh quan của mình. Họ là người của "thánh đức đơn sơ" (sancta simplicitas), đã dứt bỏ được mọi mối chia rẽ của cuộc sống. Cũng không lạ, tính cách phức tạp gây nên bởi mối liên hệ giữa cái tôi ích kỷ với tha nhân và sự vật, sẽ không còn nữa, nhưng sẽ tìm lại được sự đơn sơ nguyên thuỷ trong ánh sáng Chúa chiếu soi. Phải, con người "đơn sơ" đã bước vào trong mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm ấy tựu trung là một thực nghiệm về tình yêu đơn giản của Thiên Chúa. Bởi đó, con người của "thánh đức đơn  sơ" nhất thiết trở nên con người chí ái (séraphicus). Mà quả thực, đó là trường hợp Phanxicô xưa.

CÂU HỎI GỢI Ý:

  1. Lòng sùng đạo thời Trung cổ, đặc biệt kể từ thánh Bênađô, thích chiêm ngắm Chúa Kitô dưới khía cạnh nào?
  2. Thánh Phanxicô noi gương Chúa một cách thật sát: cho vài thí dụ.
  3. Thánh Phanxicô muốn hiện tại hoá cuộc đời Chúa Kitô: cho vài thí dụ.
  4. Ý nghĩa của Năm dấu trong đời sống thánh Phanxicô?
  5. Nòng cốt tư tưởng và thái độ sống đạo của thánh Phanxicô là gì?
  6. Hậu quả của Tinh thần Chúa nơi con người?

CHƯƠNG V: BỘ MẶT TINH THẦN CỦA DÒNG ANH EM HÈN MỌN

Tóm lược: Những nét tinh thần của hội dòng là: tình huynh đệ, nghĩa hèn mọn (bao gồm lòng khiêm nhường và nghèo khó), sự tự do và tính vui vẻ.

Cho đến nay, chúng ta thử trình bày lòng đạo đức của thánh Phanxicô trong tất cả vẻ sống động và chiều sâu của nó; bây giờ có thể dễ dàng rút ra những đặc điểm chính của Hội dòng là kết tinh của tinh thần thánh nhân.

Như đã nói trên, con cái đích thực của Phanxicô gắng noi gương Chúa Kitô cách nghiêm chỉnh và thể hiện lối sống theo Phúc Âm (Forma sancti Evangelii); nhờ đó họ lấy Tinh thần Chúa chiến thắng được cái tôi ích kỷ. Trong sự đơn sơ mà tình yêu đem lại, họ tiến gần đến Chúa và trong Chúa, đến gần mọi tạo vật; lúc bấy giờ họ được trở nên con cái của Cha trên trời và anh em của Chúa Kitô, cùng chung sống và hành động với Người. Mà ở đâu có nhiều người cùng chung sống và hành động với Người Anh Cả Giêsu, ở đó lập tức có cộng đoàn anh em. Cho nên không phải tình cờ mà thánh Phanxicô gọi cộng đoàn môn đệ ngài là huynh đệ đoàn (fraternitas), vì quả thật đó là một đoàn anh em theo nghĩa sâu sắc và căn bản nhất của danh từ.

1. HUYNH ĐỆ

Các môn đệ thánh Phanxicô sống thành cộng đoàn anh em cùng với Đức Kitô, một cộng đoàn trong đó mỗi người được đích danh mời gọi noi gương Chúa và chịu trách nhiệm về cả tập thể mình. Như thế mỗi cá nhân mang một giá trị lớn lao vì là anh em của Chúa Kitô. Điều này cắt nghĩa tại sao dòng Anh em Hèn mọn ưu ái con người cá nhân cụ thể, kính trọng những nét độc đáo của cá nhân và sứ mạng Chúa giao phó riêng cho mỗi người. Đó là một đặc điểm của dòng từ xưa đến nay. Các luật lệ của nó luôn luôn dành rất nhiều tự do cho bản lĩnh mỗi người được nẩy nở.

Trong cộng đoàn Phan sinh, quyền hành không đóng vai trò quan trọng đặc biệt nào, vì mỗi thành phần được Thần Linh Chúa thâm nhập, đều có trách nhiệm gánh vác cộng đoàn; chính trong các thành phần của nó hơn là qua những hình thức chặt chẽ bên ngoài mà cộng đoàn được thể hiện. Bởi vậy trong Bản Luật không sắc dụ Phanxicô đã viết: "Không ai được mang danh là bề trên (prior), nhưng tất cả hãy cùng mang danh là anh em hèn mọn" (6,3). Một cách đơn sơ, người điều khiển cộng đoàn phải gọi là tôi tớ, theo đúng tinh thần của Đấng đã phán: Ta đến không phải để được phụng sự (Mt 20,28)... Họ không nắm giữ chức vụ mình suốt đời trái lại phải luôn luôn sẵn sàng từ chức (x. Lksd 17). Phanxicô nhắc nhủ thêm: "Những người được đật ở địa vị cao hơn kẻ khác hãy lấy làm vinh dự về chức vụ bề trên này chẳng khác gì khi được cử ra làm công tác rửa chân cho anh em. Còn lúc bị cất chức quyền mà buồn bực, họ càng giống như kẻ giữ túi tiền gây nguy hại cho linh hồn" (Hn 4; x. Lksd 5).

Qua những lời trên, ta thấy rõ tinh thần phụng sự vì tình yêu thương là động lực cuối cùng và là sợi dây thắt chặt cộng đoàn Phan sinh.

Những cộng đoàn nào xây dựng trên Tinh thần Chúa như thánh Phanxicô và các anh em ngài đã làm xưa một cách tuyệt vời, đều có thể tổ chức theo nếp sống Phúc Âm đúng như Chúa dạy: "Tất cả chúng con đều là anh em. Vậy đừng gọi ai trên đời này là cha, bởi chúng con chỉ có người Cha trên trời" (Mt 23,8; x. Lksd 22). Từ đó chúng ta hiểu quan niệm của thánh Phanxicô về vâng lời: "Khi anh em vâng lời là vâng lời chính Thiên Chúa Cha cùng với Chúa Kitô". Bởi vậy, vâng lời là yếu tố căn bản của  sự "đi theo vết chân Chúa" (sequi vestigia Christi). Các bề trên phải vâng lời Thiên Chúa Cha với Chúa Kitô, còn cấp dưới thực hiện sự vâng lời đó qua bề trên. Mẫu mực của "đức vâng lời yêu thương" này (caritativa oboedientia) là Chúa Kitô; nó đảm bảo cho huynh đệ đoàn Phan sinh trong đó tất cả đều được thuộc về cùng đại gia đình Cha chung trên trời. Lời răn dặn sau đây của Phanxicô áp dụng cho cả bề trên lẫn bề dưới: "(anh em đừng làm hại hoặc nói xấu lẫn nhau), trái lại nhờ "đức mến do bởi Thần khí", anh em hãy sẵn sàng phục vụ và vâng lời lẫn nhau. Đó chính là sự vâng phục chân thật và thánh thiện của Đức Giêsu Kitô" (Lksd 5).

2. HÈN MỌN

Bên cạnh tình huynh đệ còn có một điểm thứ hai nữa của Hội dòng: nghĩa hèn mọn (minoritas), tức là ý chí để làm kẻ cùng rốt bất cứ lúc nào và ở đâu. Là hèn mọn kẻ nào tùng phục mọi người và sẵn sàng phụng sự mọi người vì Chúa (x. Lksd 7&17). Vì thế muốn làm hèn mọn thật nhất thiết phải đơn sơ. "Thánh đức đơn sơ tinh tuyền (sancta simplicitas) đánh bại mọi thứ khôn ngoan của con người trần tục" (x. Kinh kính chào các nhân đức) vì nó nhìn xem tất cả theo quan niệm của Chúa và coi mình chỉ là dụng cụ của Người. Ai hèn mọn theo nghĩa sâu xa trên sẽ bắt chước lòng khiêm nhu và nghèo khó của Chúa Kitô. Đó là hai rường cột của thái độ sống hèn mọn (x. L 7). Chúa đã từ bỏ sự giàu sang nơi Đức Chúa Cha, xuống thế sống nghèo khó, làm tôi tớ mọi người, làm kẻ cùng rốt, bị ngược đãi và cuối cùng phó mình chịu chết cách nhục nhã nhất. Người đã chẳng khư khư giữ lấy địa vị Thiên Chúa, hầu trở nên anh em của kẻ cùng rốt và bị khinh dể nhất đời. Ai đi theo chân Chúa và muốn sống bởi Tinh thần Người, sẽ không được muốn có của gì, phải có can đảm sống một đời không đòi hỏi, nghèo khó cả bên trong lẫn bên ngoài. Điều đó bao hàm việc từ bỏ mọi cao vọng và quyền lợi.

Ở đây mực thước duy nhất là Chúa Kitô, Đấng đã đi con đường nghèo khó trước chúng ta. Và trong điểm này nữa, ta cũng thấy thánh nữ Clara là môn đệ trung tín nhất của Phanxicô. Noi gương vị thánh nghèo, ngài đã sống cuộc đời hoàn toàn qui về Đức Kitô, trong Di chúc, ngài viết: "Trong suốt đời ở trần gian, quý tử của Thiên Chúa không hề muốn xa rời thánh đức nghèo khó. Và thánh phụ Phanxicô chúng ta cũng chẳng bao giờ lìa xa đức nghèo của Chúa Kitô trong lời nói và việc làm, đức nghèo ngài đã chọn cho mình và cho các anh em".

Nhưng ai muốn sống nghèo như thế, cũng phải can đảm hạ mình phục dịch mọi người như Chúa Kitô đã phó mạng sống để phụng sự tất cả. Đó là thánh Phanxicô đã diễn tả ý nghĩa sâu sắc của đức nghèo khó và khiêm hạ Phan sinh, trong lá thư ngài gửi cho toàn dòng: "Hỡi anh em, hãy nhìn ngắm gương khiêm nhường của Thiên Chúa và trước mặt Người hãy thổ lộ tâm can. Anh em hãy hạ mình xuống để Người nâng anh em lên. Vậy anh em đừng giữ lại cho mình bất cứ điều gì, để Chúa đã hiến trọn mình cho anh em, cũng sẽ nhận lấy toàn thân anh em".

Hẳn không nơi nào Phanxicô đã diễn tả một cách rõ ràng hơn cái định luật căn bản của nếp sống hèn mọn Phan sinh: là lấy Tinh thần Chúa lướt thắng con người ích kỷ. Nghèo khó và khiêm hạ là dốc sạch mình đi (exinanitio), triệt ngã, đó chính là cái hèn mọn của Anh em Hèn mọn vậy. Nghèo khó và khiêm hạ lại cũng là bảo đảm và nền tảng của tình huynh đệ, bởi vì, một cách mau lẹ và hữu hiệu nhất, chúng tiêu diệt được lòng ích kỷ của con người, là mối nguy lớn nhất của tình anh em.

3. TỰ DO

Ai cũng thực hiện đức nghèo khó, khiêm hạ của Chúa trong đời mình, sẽ được tự do thanh thoát như thường thấy nơi những con người Phan sinh đích thực. Họ không còn vương vấn thế gian và sự đời, không còn bị cái tôi ràng buộc, nhưng hoàn toàn thảnh thơi cho Thiên Chúa, như Phanxicô xưa. Chính vì không bị ràng buộc với mình, với thế gian và kẻ khác mà cõi lòng sẽ rộng mở đón nhận Chúa. Chỉ ai tự do, ai sống trọn vẹn trong Chúa mới cho những lời sau đây của thánh Phanxicô là hiển nhiên: "Tôi xin người anh em đau ốm hãy tạ ơn Chúa Tạo Hoá về tất cả mọi sự. Chúa muốn cho mình thế nào, khoẻ mạnh hay ốm đau, thì hãy ước ao như vậy" (Lksd 10,3-4). Khi không còn chút quan tâm nào về chính mình nữa, con người sẽ trở nên một với thánh ý Chúa, không phải theo nghĩa cam chịu cách nhẫn nại mà thôi, nhưng còn theo nghĩa cách kết hợp cách tích cực nữa. Muốn được thế, tất phải lướt thắng mình, phải hoàn toàn "tự do" đối với chính mình.

4. VUI VẺ

Phát xuất từ nghèo khó và khiêm hạ, hay nói cách khác, là kết quả nghĩa hèn mọn, sự tự do sẽ là nguồn mạch của niềm vui Phan sinh. Ai chỉ còn ao ước những gì làm đẹp lòng Chúa, thì không một ai, không cảnh ngộ nào có thể làm họ mất an vui, vì niềm vui của họ bắt nguồn từ sự tự do của con cái Thiên Chúa. Họ không còn lý do nào để buồn rầu nữa ngoại trừ khi đánh mất sự an hoà đó, khi sa ngã phạm tội. Bởi đó Phanxicô đã răn dạy một cách hết sức tự nhiên: "Anh em đừng tỏ ra buồn rầu và ủ dột như bọn đạo đức giả, nhưng hãy tỏ ra vui mừng trong Chúa, tươi cười, hoà nhã cho hợp lễ" (Lksd 7,16). Chỉ ai có Tinh thần Chúa và sống hèn mọn thật mới đạt đến nguồn vui tuyệt đối; chỉ người ấy mới khám phá mầu nhiệm của niềm vui đó mà đấng tổ phụ đã để lại cho tất cả Anh em Hèn mọn như một di sản quý báu và một sứ mệnh trọng đại.

5. TÓM TẮT: BẢN CHẤT DÒNG LÀ GÌ?

"Tất cả đều gọi là Anh em Hèn mọn": phải chăng chỉ là tình cờ, hay trái lại là một khám phá sâu sắc của Phanxicô khi ngài đặt tên cho con cái mình là Anh em Hèn mọn (Ordo Fratrum Minorum) và tên gọi đó đã diễn tả chính bản chất sâu xa của Hội dòng? Vì như đã nói, một cuộc đời được Thần Linh Chúa thúc đẩy muốn hiến dâng để noi gương Đức Kitô và tiến tới tình yêu Thiên Chúa Cha, chỉ có thể hoàn thành cách cụ thể trong tình huynh đệ và nghĩa hèn mọn, tức là ý chí làm kẻ cùng rốt bất cứ ở đâu và bao giờ.

Vậy có thể định nghĩa bản chất của Dòng Anh em Hèn mọn như sau: đó là cộng đoàn những người anh em được tình yêu Chúa thúc bách cùng đi theo vết chân Đức Kitô một cách trung tín và chân thành: mối tình đó làm họ tràn đầy Thần Linh Chúa và bắt buộc họ phải luôn luôn làm kẻ cùng rốt, sẵn sàng san sẻ với mọi người bằng lời nói và việc làm, cái tình yêu của Đức Chúa Cha mà họ được thực nghiệm ngay trong cuộc sống trần gian.

6. SỰ SỐNG VƯỢT TRÊN TỔ CHỨC VÀ LUẬT LỆ

Những điều nói trên đây còn làm sáng tỏ thêm một điểm cuối cùng nữa. Chính cái bản lĩnh sống động của thánh Phanxicô đã tạo nên trong thời đại ngài một phong trào cũng sống động như thế. Phanxicô không nghĩ đến và cũng chẳng cần nghĩ đến việc thành lập một hội dòng. Cộng đoàn Anh em Hèn mọn đã phát sinh quanh ngài, gần như trái với ý ngài; nó đã triển nở quanh ngài và ngài chẳng phải làm gì nhiều. Không được quên sự kiện quan trọng này là một hội dòng không phải là một công trình tổ chức từ trên xuống. Phải công nhận rằng dòng đã được tổ chức kém ngay từ buổi đầu và có lẽ cả ngày nay nữa. Nhưng bù lại dòng có cái lợi này là đã nhận lãnh và chu toàn thật sự một nhu cầu cốt bản cho thời đại mình. Sau hết, không ai có thể chối cãi rằng cái sức sống chảy tràn ra ngoài những lược đồ, những tổ chức chắn chắc, cái sức sống đó vẫn còn là ưu điểm lớn cho hội dòng này.

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Thánh Phanxicô quan niệm thế nào về chức vụ và quyền hành?

2. Nếu tất cả mọi người trong cộng đoàn là anh em, tại sao phải vâng lời?

3. Đâu là động lực cuối cùng và sợi dây thắt chặt cộng đoàn Phan sinh? (Có thể kiểm điểm đời sống cụ thể).

4. Thái độ hèn mọn bao gồm những yếu tố then chốt nào?

5. Thế nào là tự do thật?

6. Đâu là nguồn suối phát sinh niềm vui Phan sinh?

7. Cơ cấu tổ chức có giúp ta sống trung thành với lý tưởng không? (Kiểm điểm đời sống cụ thể).


CHƯƠNG VI: NHIỀU CÔNG VIỆC NHƯNG CHỈ MỘT TINH THẦN

Tóm lược: Vì muốn "đi theo vết chân Chúa", Anh em Hèn mọn sẵn sàng đảm nhận nhiều công việc khác nhau trong Nước Chúa, nhưng luôn luôn với một tinh thần riêng phải cố duy trì và phát triển. Anh em  Hèn mọn phải luôn luôn hoạt động trong Nước Chúa như một con người đầy yêu thương bắt chước cuộc đời Chúa, như một người anh em của mọi người và người anh em tự biết mình bé nhỏ hơn tất cả.

Trên kia chúng ta đã thử tìm hiểu bản chất của hội dòng dựa trên đời sống và bản lĩnh của thánh Phanxicô là "mô phạm" sống động của đoàn người hèn mọn (Forma minorum). Bây giờ còn phải bàn vắn tắt về sinh hoạt của con cái ngài.

1. SỐNG VÀ HOẠT ĐỘNG

Hội dòng không được thành lập để đáp ứng một nhu cầu nhất định của Nước Chúa. Điều lo lắng thứ nhất của dòng không phải là một hoạt động bề ngoài nào nhất định, nhưng là thể hiện một nếp sống mới trong lòng Giáo Hội. Cho nên Phanxicô cũng ít dùng danh từ "hội dòng" hơn danh từ "cộng đoàn anh em", ít nói đến "luật dòng" hơn "hình thức và lối sống của chúng ta". Đời sống ấy hoàn toàn do yếu tố tinh thần quyết định, cái tinh thần mà thánh Phanxicô đã biết dùng lời nói và gương mẫu để truyền lại cho anh em, ngoài ra, đó cũng là yếu tố là cho những sinh hoạt bên ngoài khác nhau của họ được nên duy nhất. Ai yêu mến lý tưởng này và mang Thần khí Chúa trong mình theo như Phanxicô đã quan niệm, thì dù làm việc nào đi nữa, hoạt động của họ cũng sẽ có tính cách "Phan sinh". Cho nên, xưa cũng như nay, không thể ràng buộc hội dòng vào những hoạt động riêng biệt, cũng như vào buổi sơ khai, dòng bây giờ vẫn lấy toàn bộ nhu cầu Nước Chúa làm lãnh vực sinh hoạt của mình. Cả ngày nay nữa, hầu như không còn hoạt động nào của Hội Thánh mà hội dòng không cảm thấy có bổn phận phải nhận làm của mình vì lý do đơn giản là "muốn đi theo vết chân Chúa".

Trung thành với mệnh lệnh và lời giảng dạy của thánh Phanxicô, dòng Anh em Hèn mọn tiếp tục làm việc giữa dân ngoại và là một trong những hội dòng truyền giáo lớn nhất. Không mệt mỏi, dòng đảm nhận nhiều công việc trong địa hạt tông đồ hiện đại, luôn luôn sẵn sàng nắm giữ các linh hồn lại trong Nước Chúa, hoặc đem họ trở về với Người. Cũng có những anh em sống hoàn toàn cuộc đời chiêm niệm trong các ẩn viện... Nếp sống đó chiếm một chỗ xứng đáng trong toàn hội dòng. Ngoài ra dòng còn lo việc giáo dục và khảo cứu, tìm cách thích ứng để cống hiến cho mỗi thời đại, các kho tàng triết học và thần học Phan sinh là di sản quý báu do tinh thần hội dòng đúc kết lại. Cũng không được quên nhiều nghệ sĩ đã sống trong dòng và đã sáng tạo nên những công trình có giá trị trường tồn.

Nhưng ngày nay cũng như trong buổi ban đầu, điều quan trọng hơn những thành tích nói trên là sứ mệnh tinh thần của hội dòng; sứ mệnh đó không thay đổi với thời gian. Nó buộc hội dòng phải trung thành với bản chất mình, phải trình bày một cách sống động cho mỗi giai đoạn lịch sử Giáo Hội, cái hình ảnh Chúa Kitô mà Phanxicô đã để lại như lý tưởng phải theo. Bất cứ sống ở thời đại nào, mỗi anh em hèn mọn đều có trách nhiệm thi hành mệnh lệnh "đi theo vết chân Chúa". Như Chúa Kitô, họ phải nên hèn mọn giữa loài người, trong đức nghèo và khiêm hạ, hầu nêu cao cho mọi người trong mọi cảnh ngộ thấy con đường dẫn tới tình yêu Thiên Chúa Cha. Vậy điều quan hệ là anh em hèn mọn biết dùng gương sáng kêu mời các tín hữu mọi thời đại theo Chúa Kitô nghèo nàn và khiêm hạ mà thể hiện lại trong cuộc đời của mình.

Vậy đã rõ ràng là sứ mệnh của hội dòng trước tiên không phải là hoạt động nhưng là sống, không phải là thực hiện một chương trình hoạt động rõ ràng, nhưng là nêu lên một cách thức sống đạo nào đó. Vả lại, không bao giờ chỉ một người hay một hội dòng mà có thể trình bày đời sống Chúa Kitô một cách hoàn toàn và đầy đủ được. Chỉ có Giáo Hội là nơi tất cả hợp thành một toàn thể duy nhất mới có thể làm chiếu ngời trọn vẹn ánh sáng Chúa Kitô. Nhưng dòng Anh em Hèn mọn luôn luôn phải góp phần riêng vào đó bằng toàn diện cuộc sống mình hơn và bằng những hành động nhất định. Trong mức độ đó, dòng vẫn còn đầy giá trị cho đời sống Giáo Hội, luôn luôn phải cho ánh sáng Chúa Kitô chiếu toả ra với tất cả vẻ huy hoàng. Thiếu cái phần đóng góp riêng nói trên, dòng Anh em Hèn mọn sẽ không có giá trị vượt thời gian cũng như lý do tồn tại trong Giáo Hội.

Đặc điểm này phải được nói rõ qua những hoạt động của anh em.

2. TÌNH YÊU KHỞI ĐIỂM VÀ CÙNG ĐÍCH

Đạo đức linh đạo Phan sinh không nhằm lập thành tích trước mặt Chúa cho bằng tạo nên một mẫu người biết hoàn toàn phó thác cho Chúa trong vẻ đơn sơ mộc mạc của tình yêu, không một kỳ vọng, không một điều kiện nào.

Thánh Phanxicô tóm tắt thái độ đạo đức này trong một lời kinh tuy ngắn nhưng đầy ý nghĩa: "Lạy Thiên Chúa toàn năng, vĩnh cửu, công chính và từ bi, vì vinh quang của Chúa, xin ban cho chúng con là những kẻ khốn nạn, thực hiện những điều chúng con biết là Chúa muốn, và luôn luôn muốn những điều đẹp lòng Chúa, để nhờ ngọn lửa Thánh Linh thanh luyện, soi sáng và nung nấu tận tâm can, chúng con có thể bước theo vết chân Con yêu dấu Chúa, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng tôi, và chỉ nhờ ơn Chúa trợ giúp, chúng con đến được với Chúa, là Thiên Chúa tối cao, Ba Ngôi trọn hảo trong mối hiệp nhất tuyệt đối, là Thiên Chúa toàn năng, Đấng hằng sống, hằng trị và hằng được tôn vinh đến muôn thuở muôn đời. Amen." (Thư gửi Toàn dòng).

Để không phản bội ơn gọi của mình là sống Phúc Âm, người anh em hèn mọn chuyên lo việc học hành không được tìm kiếm kiến thức như một cùng đích nhưng như phương tiện làm nẩy nở tình yêu, làm cho con người nên tốt lành hơn và dẫn dắt nó về với Chúa. Như thế càng hiểu biết, anh em càng thêm lòng ngưỡng mộ và kính sợ trước tình yêu của Thiên Chúa. Vì thế Phanxicô đã chỉ ban phép cho thánh Antôn giảng dạy thần học cho anh em với điều kiện là: "Trong học hành, người ta đừng dập tắt tinh thần cầu nguyện và hiến dâng (devotio)". Trung thành với lời răn dạy này, thánh tiến sĩ Bonavetura đòi hỏi khoa thần học phải nhắm dẫn đến sự chiêm niệm và làm cho chúng ta trở nên người tốt lành. Cùng đích cao cả nhất nó theo đuổi là sự tiến bộ tinh thần của ta. Cũng trong viễn tường này, nhà thần học nổi tiếng của dòng là Gioan Duns Scot cũng đã lấy tình yêu làm tiêu chuẩn tối hậu cho khoa thần học. Vì thế, theo ngài, thần học là một môn học thực hành mà đối tượng là hướng dẫn con người trên đường mến Chúa, mọi hiểu biết chỉ tồn tại để chứng minh Thiên Chúa là Đấng duy nhất đáng mến yêu.

Thái độ tinh thần này cũng phải hướng dẫn sinh hoạt mục vụ của anh em hèn mọn. Họ phải đi đến với mỗi người trong tình yêu mến, nâng cao mỗi người lên bằng cách tỏ cho họ thấy giá trị mình trước mặt Chúa và cho Chúa; và như thế là làm cho ánh sáng Chúa lại chiếu rạng lên trong họ: "Bởi vì chúng ta đã được tuyển chọn để cứu chữa những người bị thương, nâng kẻ còng lưng đứng thẳng mình và dẫn dắt người lạc lối về chính lộ. Lắm kẻ hiện còn thuộc về ma quỷ một ngày kia sẽ được trở nên môn đệ Chúa Kitô" (Ba người bạn, đoạn 58). Trong Huấn ngôn, thánh Phanxicô còn để lại một nguyên tắc chỉ đạo sâu sắc hơn về sinh hoạt mục vụ theo tinh thần của ngài: "Phúc thay người tu sĩ chỉ tìm kiếm niềm vui thú và hoan lạc trong những cuộc đàm thoại đạo đức và những công việc thánh thiện của Chúa, và nhờ đó, trong niềm vui mừng và hân hoan, họ giúp người khác yêu mến Thiên Chúa. Vô phúc cho người tu sĩ  ham thích những câu chuyện phù phiếm và trống rỗng để làm thiên hạ cười cợt" (Hn 20).

Bây giờ chắc không ai còn hoài nghi nữa: trong sinh hoạt của anh em hèn mọn, việc quan trọng không phải là điều họ làm, nhưng là cách thức làm. Tuy nhiên, không được hiểu "cách thức" theo nghĩa "phương pháp", vì nó súc tích hơn nhiều. Hội dòng có bổn phận đảm trách toàn bộ nhu cầu của Nước Chúa, nhưng với một thái độ tinh thần riêng tức là thái độ của "Anh em Hèn mọn" hiểu theo nghĩa sâu sắc nhất của mấy tiếng này.

Anh em Hèn mọn sẽ phải luôn luôn hoạt động trong Nước Chúa, như một người đầy yêu đương bắt chước cuộc đời Chúa, như người anh em của mọi người, và người anh em tự biết mình nhỏ bé hơn tất cả. Khí giới tinh thần của anh em sẽ không bao giờ là kiến thức hay uy quyền, nhưng là tình yêu được nẩy nở trong hành động phục vụ. Khi sai anh em đi đến cùng người Hồi giáo, Phanxicô răn bảo họ: "Không tranh cãi hay chống báng, nhưng hãy tuân phục mọi người vì Thiên Chúa và tuyên xưng mình là người Kitô hữu". Không gì làm sáng tỏ cái tinh thần riêng biệt của hội dòng và không gì có thể bảo đảm sự thành công của nó cho bằng thái độ tùng phục và tinh thần phụng sự vì tình yêu mà Anh em Hèn mọn cống hiến cho mỗi người hầu dẫn họ trở về tình yêu Thiên Chúa.

3. NGƯỜI ANH EM HÈN MỌN VỚI SỨ MẠNG XÃ HỘI

Nhờ hiến mình noi gương Đức Kitô nghèo và khiêm hạ, người anh em hèn mọn có thể đi vào mọi tầng lớp xã hội và tiêm nhiễm chúng với tinh thần Phúc Âm, nhưng nhất là những tầng lớp thấp kém nhất. Thái độ tinh thần của anh em đòi hỏi và thúc đẩy họ tìm kiếm môi trường hoạt động nơi đám bình dân, nơi những tầng lớp xã hội bị coi là cùng rốt: "Anh em hãy lấy làm vui mừng khi tiếp xúc với những người bình dân quê mùa và bị khinh dể, nghèo hèn và đau ốm, tàn tật và phong cùi, cũng như những kẻ ăn xin ngoài đường" (Lksd 9,2). Phải rồi, chính những người bị xã hội hất hủi bỏ rơi ấy mà tiên vàn anh em hèn mọn phải dẫn họ về với Phúc Âm, với Chúa Kitô. Cho nên Phanxicô đã răn bảo anh em ngài với một niềm "vô lo" thánh thiện: "Bất cứ ai đến với anh em, bạn hay thù, trộm hay cướp, anh em hãy tiếp đón họ tử tế" (Lksd 7,14).

Phải từ bỏ tất cả vì lòng mến Chúa Kitô, để trở nên giống người nghèo khổ và bị khinh dể nhất, đó là trọng tâm của thái độ tinh thần (linh đạo) Phan sinh mà thánh Phanxicô đã học được nơi Chúa và đã đặt điều kiện cho những ai sống theo Tinh thần Chúa. Chính ngài xưa cũng đã đặt mình vào thành phần cùng rốt của xã hôi đương thời và với thần khí Chúa, ngài đã sống lý tưởng "đi theo vết chân Chúa Kitô" trong những điều kiện sống cụ thể của những thành phần ấy. Ngài sống như thế không phải như người an phận vì chẳng còn cách nào khác, nhưng với cái đam mê của một kẻ si tình (của một người say mê Bà Chúa Nghèo). Thật vậy, ngài không còn sở thích và niềm vui nào khác ngoài sự tiêm nhiễm đạo lý của Chúa-làm-người và hoạ lại đời sống Chúa trong cuộc sống mình, bởi ngài đã vì yêu mà làm như thế.

Qua niềm vui và tình yêu mến này, ngài đã chứng minh được rằng Kitô giáo phải được sống cách nghiêm chỉnh trong mọi lúc và mọi cảnh ngộ. Để theo chân Chúa, khỏi cần có những hoàn cảnh thuận lợi. Theo lời thánh Phanxicô, Anh em hèn mọn có sứ mạng dùng đời sống phù hợp với lời nói và việc làm của Chúa mà "giúp người khác yêu mến Thiên Chúa, trong niềm vui mừng và hân hoan" (Hn 20). Vậy dù ở đâu và làm gì, họ đều có trách nhiệm hướng dẫn mọi người đến tình yêu Thiên Chúa trong niềm vui mừng và hân hoan (ad amorem Dei in gaudio et laetitia), vì đó chính là ơn gọi của Anh em Hèn mọn.

Có lẽ Chúa đã muốn dùng phong trào Phan sinh để thoa dịu những căng thẳng xã hội vào thời đại của thánh nhân. Giáo Hội thời Trung cổ là một Giáo Hội phong kiến. Đời sống giáo sĩ và tu sĩ hầu như chỉ dành riêng cho giới quí tộc. Trên bình diện học vấn trong Giáo Hội, giới giáo sĩ và tu sĩ xuất thân từ thành phần quí tộc cũng chiếm địa vị cao nhất. Nhưng giai cấp trưởng giả đang đứng chờ ngoài cửa Giáo Hội: đó là một giai cấp mới xuất hiện đang đòi hỏi quyền bình đẳng, vì thời bấy giờ nó nằm tận cùng chân thang xã hội. Nhờ dòng Phanxicô và dòng Đaminh, hai dòng thân ái liên kết với nhau từ buổi đầu, giai cấp trưởng giả có cơ hội tham dự vào một đời sống tôn giáo mãnh liệt. Qua các dòng mệnh danh là Dòng hành khất này, nhất là qua các tổ chức dòng ba của họ, giai cấp trưởng giả đã đạt đến trưởng thành tôn giáo và nhờ đó dành được một chỗ đứng trong Giáo Hội. Các hội dòng ấy giúp cho thành phần trưởng giả gia nhập hàng ngũ giáo sĩ và nắm giữ những ghế giảng dạy thần học. Không ai chối cãi rằng, nhờ một phần rất lớn vào phong trào Phan sinh thế kỷ XIII, giai cấp xã hội mới này đã đoạt được "toàn quyền công dân" trong Giáo Hội, nhưng không phải nhờ hành động tranh đấu của Anh em Hèn mọn cho bằng nhờ đời sống của họ, hay một cách đơn sơ, nhờ sự hiện diện của họ. Thái độ tinh thần của Anh em Hèn mọn đã góp phần rất lớn vào việc xoá bỏ những mối căng thẳng trầm trọng xâu xé Giáo Hội thời tiền Trung cổ cho đến lúc bấy giờ.

Hiện nay những mối tranh chấp làm rung chuyển xã hội và qua đó làm rung chuyển Giáo Hội của Chúa Kitô lại còn mãnh liệt, rộng lớn và đem lại hậu quả tai hại hơn những tranh chấp thời tiền Trung cổ. Ngày nay cũng có một giai cấp xã hội đang chờ toàn quyền tham dự vào cơ cấu Giáo Hội, như xưa giai cấp trưởng giả. Đức Giáo Hoàng Piô XI đã nói như  sau về giai cấp này: "Cho đến nay giai cấp thợ thuyền còn sống xa lạ với Giáo Hội: đó là gương xấu lớn của thế kỷ XIX". Và qua một lời tuyên bố thời danh, ngài đã xác định công việc phải làm: "Hội Thánh mà không có giới thợ thuyền thì không phải là Hội Thánh của Chúa Kitô". Những mối căng thẳng nói ở đây trước tiên không thuộc phạm vi kinh tế và vì thế không thể được thoa dịu bằng giải pháp thuộc lãnh vực kinh tế mà thôi. Xét cho cùng đây là vấn đề con người, con người Kitô ở mọi nơi và mọi thời.

Đây là sứ mệnh của Anh em Hèn mọn hiện nay, sứ mệnh được thời đại và do đó chính Thiên Chúa giao phó cho: trong tình huynh đệ đích thực và lòng ao ước sống nhỏ bé, hèn mọn, họ sẽ dẫn dắt lớp người ấy về Chúa Kitô "trong niềm vui mừng và hân hoan". Như thế Anh em Hèn mọn sẽ dùng đời sống và hành động mình hơn là lời nói, để góp phần bắc nhịp cầu trên những tranh chấp xã hội hiện đang làm Giáo Hội khổ tâm nhiều. Và như thế có lẽ thời cơ đã lại đến một lần nữa với thánh Phanxicô làm cho Hội Thánh và nhân loại được nhờ.

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Suynghĩ về câu: Sứ mệnh của Dòng Anh em Hèn mọn trước tiên là sống chứ không phải hoạt động.

2. Suy nghĩ về câu: khí giới tinh thần của Anh em Hèn mọn sẽ không bao giờ là kiến thức hay uy quyền, nhưng là tình yêu nẩy nở trong hành động phục vụ.

3. Suy nghĩ về câu: Để theo chân Chúa, khỏi cần những hoàn cảnh thuận lợi.

4. Chỗ đứng của ta trong xã hội và Giáo Hội hôm nay. 

Loading...