Làm sao một linh mục đồng quê đã Phúc âm hóa trần gian?
- Đức Thánh Cha Pi-ô thứ X đã phong chân phước cho ngài, ngày 12-4 tiếp theo Đức Thánh Cha phong ngài làm "bổn mạng các linh mục coi sóc các linh hồn ở Pháp và các miền thuộc nước Pháp."
- Ngày 31-5-1925, Đức Thánh Cha Pi-ô XI đã tuyên bố ngài là bổn mạng của các cha sở toàn thế giới công giáo,
- Ngày 23-4-1929, dịp kỷ niệm 100 năm ngày qua đời của cha sở thánh này, Đức Thánh Cha Gio-an XXIII đã nói về ngài bằng cả một thông điệp.
Thật hiếm có các vị thánh là đối tượng của một thông điệp của Đức Giáo Hoàng. Cuối cùng ngày 16-10-1986, Đức Gio-an Phao-lô II đã đến hành hương ở Ars. Ngài dâng lễ trên một đồng cỏ, gần làng, ngài đã nói trong bài giảng: "Đức Ki-tô đã dừng chân ở đây, xứ Ars này, trong thời mà cha Gio-an Ma-ri-a Vianney làm cha sở. Vâng ngài đã dừng tại đây. Ngài đã thấy nhiều đám đông đàn ông và đàn bà của thế kỷ vừa rồi, họ "mệt mỏi" như những con chiên không người chăn. Đức Ki-tô đã dừng chân ở đây như một Mục tử nhân lành."
Cái gì đã làm cho Hội Thánh vây quanh một vị linh mục đồng quê với một sự tôn trọng như thế? Cái gì đã đưa đám đông đến tôn vinh ngài, rủ nhau đến với ngài, kể ngài như một vị thánh lúc ngài còn sống?
Người ta không ngần ngại trả lời không sợ lầm rằng: vì vị linh mục này là một nhà truyền giáo vĩ đại; vì lời nói và cuộc sống của ngài đã đi vào tận đáy lòng mọi người. Cũng bởi vì, như đức Gio-an Phao-lô II nói trong bài giảng lễ ngày 6-10-1986, tất cả cuộc sống của ngài, nhắc ta nhớ đến cuộc sống của Chúa Giê-su. Ngài là tấm gương của Chúa: "Làm sao vị linh mục này, bề ngoài như chẳng có bao nhiêu khả năng, đã Phúc âm hóa được như thế? Đâu là những phương tiện ngài dùng để truyền giáo?
Khác với các vị truyền giáo, đi nơi xa xôi, để làm cho nhiều dân tộc chưa bao giờ nghe nói đến Chúa Giê-su, biết Tin Mừng. Cha Vianney, chỉ ở tại chỗ trong 41 năm, làm cha sở chỉ một họ đạo.
Bài học thứ nhất ngài cho chúng ta, là bài học sau đây: "Việc Phúc Âm hóa không cần đi xa. Người ta có thể ở tại chỗ! Nhưng dầu ở chỗ nào đi nữa, phải ở chỗ đó như Chúa Giê-su đã ở. Nghĩa là đời sống của vị truyền giáo đích thực là con đường dẫn tới Chúa Giê-su".
Sự khắc khoải của mẹ Tê-rê-xa là ở chỗ đó: "Tôi sợ rằng, mẹ nói, người ta chỉ nhìn tôi và quên mất Chúa Giê-su". Mặc dầu ở đâu, đời sống chúng ta cũng có thể đưa tới Chúa Giê-su.. Nhưng đời sống chúng ta cũng có thể làm cho người ta không nghĩ tới Chúa, có khi, làm vật cản là đằng khác. Đó là thách đố của đời sống ki-tô hữu.
Ở nơi nào cũng được, nhưng cái chính là "ta là" mới là cái quan trọng, Gio-an M.Vianney "là" linh mục; ngài cố gắng từ từ để trở nên "linh mục" một cách hoàn hảo đến nỗi không có sự khác biệt giữa Chúa Giê-su và ngài. Một người hành hương đã nói, sau khi gặp cha xứ họ Ars: "Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một con người". Cha Gio-an M.Vianney làm cho người ta nghĩ đến Chúa Ki-tô Đấng chăn chiên lành.
Phương tiện ngài đã dùng rất là đơn sơ: đó là những gì thuộc về mọi linh mục: cầu nguyện, bí tích, dạy giáo lý, giúp người nghèo. Tóm lại đức ái mục vụ khắp nơi và mọi thời.
Một cách nào đó, ngài đã làm tất cả những gì các linh mục làm, không thêm gì, nhưng ngài làm một cách hăng say, một cách dấn thân với tất cả con người của ngài, đến nỗi những phương tiện tầm thường lại đem đến hoa trái đặc biệt, như Bernanos đã nói về thánh Phan-xi-cô At-xi-di, dưới tay ngài, hành động của ngài nở hoa như bờ rào mùa xuân.
Ví dụ như cầu nguyện. Cầu nguyện đối với linh mục là lẽ thường tình. Nhưng nơi cha Gio-an M.Vianney, cầu nguyện lại trở thành hơi thở của linh hồn. Đó là nền tảng mà trên đó ngài không loại trừ một hành động nhỏ nào. Cầu nguyện liên lỷ! Đó là dấu đầu tiên cho người ki-tô hữu xứ Ars thấy, họ đã không rước về với họ một linh mục quản xứ như các linh mục khác.
Những nông dân ra ruộng từ sáng tinh sương, đã thấy le lói qua cửa sổ nhà thờ một ánh sáng nhỏ. Người ta thắc mắc...! Thật ra người ta hiểu, cha sở họ đã thức dậy trước mọi người.Từ lúc 3-4 giờ sáng, ngài đã đứng trước nhà tạm như "con chó con dưới chân chủ mình", đó là hình ảnh ngài thường dùng. Và người ta bảo, một cha sở họ sống trong nhà thờ.
Và ngài xin gì trong kinh nguyện? Nhờ vài lúc tâm sự thân mật, người ta biết một lời cầu khẩn sốt sắng và liên lỷ trên môi ngài: "Lạy Chúa xin cho giáo xứ con ăn năn trở lại'. Ngài biết chìa khóa của sự thành công của sứ vụ mình là ở trong tay Thiên Chúa, không phải trong tay mình. Người truyền giáo có thể đem nước, phân làm cho cây cối tốt, nhưng "Thiên Chúa làm cho nó lớn lên".
Đức tin của ngài vào quyền năng của Thiên Chúa tỏa ra trong sứ vụ ngài. Đó là điều làm cho dân làng ngạc nhiên! Tiếp xúc với ngài, họ thay đổi từ từ. Đức tin của cha sở đi vào tâm hồn giáo dân. Nhiều người trong họ cũng học thói quen thường vào nhà thờ cầu nguyện!
Đức nghèo đi theo đời sống cầu nguyện. Một đức nghèo rất ấn tượng. Sống từ bỏ tất cả, ngài chứng tỏ chỉ Thiên Chúa là sự giàu sang duy nhất và đích thực của ngài. Đức nghèo đưa ngài tới Thiên Chúa.
Trong các Bí tích mà một linh mục quản xứ ban trong giáo xứ, đối với cha Gio-an M.Vianney, bí tích có tầm quan trọng lớn nhất là bí tích tha tội! Trong 25 năm cuối của sứ vụ linh mục ở Ars, ngài bỏ ra trung bình 12 giờ mỗi ngày tại tòa giải tội! Ngài không hề nghĩ tới trước là sứ vụ linh mục ngài sẽ là như vậy. Chỉ vì, nhiều hối nhân ngày càng đông muốn xưng tội với ngài. Ngài luôn sẵn sàng. Một cách cụ thể, ngài bị tràn ngập! Bốn giờ sáng ngài đã giải tội. Ngài chấp nhận sẵn sàng vì ngài đã hiểu cách sâu xa rằng chính trong tâm hồn con người đang diễn ra cuộc giao tranh giữa Thiện và Ác, giữa sự chấp nhận thánh ý Thiên Chúa hay từ chối! Số phận con người là ở trong tâm hồn! Để đem bình an đến cho người đã quay lưng với con đường Tin Mừng, phải có ơn Chúa xuống ngay chỗ họ sa ngã. Phải cho họ cơ họi tự mình đưa tội mình đến trình diễn dưới cái nhìn nhân lành của Thiên Chúa. Điều đó đòi hỏi một sự gặp gỡ cá nhân, trong đó tội lỗi được xưng thú, và hối nhân nhận thấy rõ ràng mình được tha thứ.
Thời gian ngồi trong tòa giải tội không thể miễn cho ngài việc dạy giáo lý. Bởi vì cha sở họ Ars rất hiểu tầm quan trọng của việc dạy giáo lý để làm cho đức tin lớn lên. Con người ít học thức nầy dạy con nít và người lớn những bài giáo lý hằng ngày. Ngài cho mọi người hiểu bằng ngôn ngữ đơn sơ, do những hình ảnh gợi cảm; sức mạnh của sự thuyết phục mà ngài dùng khi nói, vào tận tâm can người ta. Nhất là người ta cảm thấy ngài làm những gì ngài nói. Lời nói của ngài đầy sức sống! Nó phát ra như lửa.
Trong điều kiện đó, đương nhiên là vị cha sở này, hoàn toàn thuộc về Chúa, cảm nhận được, không những những đau khổ phần thiêng liêng mà cả những đau khổ vật chất của những kẻ ngài gặp hằng ngày. Tất nhiên, những người đến cửa nhà xứ xin bánh, có khi ngài cho cả đôi giày của ngài, những chiếc áo ấm mà người ta mới mua cho ngài, đến cả áo sơ mi của ngài nữa v v...
Trong lãnh vực xã hội, ngài cũng có những sáng kiến táo bạo. Sáng kiến nổi bật nhất, nơi một cha sở không tài sản, là xây một cô nhi viện cho các cô gái trẻ bị bỏ rơi, bị vất ra đường, trong thời kỳ kinh khủng sau Cuộc cách mạng Pháp. Ngài chứa đến cả 40 trẻ nội trú, phải nuôi dưỡng và giáo dục cả đám này. Hơn nữa ngài còn xây hai trường học, một cho trai và một cho gái. Những đứa bé này, vì chúng nghèo, phải làm việc đồng ruộng nên không thể đến trường học được.Việc đi học dành cho con nhà giàu. Tóm lại, vị cha sở nghèo và không phương tiện này đã đối đầu với mọi mặt của cuộc sống!
Làm sao mà ngày nay ta không cầu nguyện, khẩn nài, để mỗi người trong chúng ta, tìm thấy con đường truyền giáo cho thời đại chúng ta! Vị cha sở đồng quê này dạy chúng ta rằng đời sống ki-tô hữu luôn phải vươn tới, không ngừng. Chúng ta không bao giờ tới đích! Vì thế ngài giúp chúng ta cất khỏi sự thách đố mà Đức Gio-an Phao-lô II đã lưu ý chúng ta trong bài giảng về Giáo hội Âu châu: "Sự thách đố này không phải rửa tội cho nhiều người trở lại cho bằng dẫn những người đã chịu phép rửa trở về với Chúa Ki-tô và Giáo hội Người"(số 47).
L'ObsertoreRomano 5-5-2009
Đamiano chuyển ngữ
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.