ISSN xxxx-xxxx (Online)
Main Banner
Thánh Grêgôriô (03/09) - Thánh Gioan Kim Khẩu (13/09) - Suy tôn Thánh Giá (14/09) - Thánh Cornêliô và Thánh Cyprian (16/09) - Thánh Phanxicô in 5 dấu - Thánh Lễ Khấn Trọng (17/09) - Thánh Giuse Côpetinô (18/09) - Thánh Andre Kim, Phaolô Chung (20/09) - Thánh Mátthêu (21/09) - Thánh Piô Piêtrenchina (PS) (23/09) - Thánh Vinhsơn Phaolô (27/09) - Thánh Têrêsa Hài Đồng (01/10) - Các Thiên Thần Hộ Thủ (02/10) - Tưởng niệm giờ Cha Thánh Phanxicô lâm chung (03/10) - Đại lễ Cha Thánh Phanxicô (04/10) - Đức Mẹ Mân Côi (07/10) - Thánh Têrêsa Giêsu (15/10) - Thánh Ignhatiô (17/10) - Thánh Luca (18/10) - Thánh Phêrô Ancăntara (PS) (19/10)
Ngôn ngữ

Niền hy vọng và phúc lành

BTT OFMVN 02
BTT OFMVN 02
2026-08-10 10:49 UTC+7 77

Ngày 5: Buổi sáng

BÀI 9
NIỀM HY VỌNG VÀ PHÚC LÀNH
CỦA NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH TIẾN VỀ NHÀ CHA

Kính thưa anh em,

Chúng ta đang ở trong năm thánh kỷ niệm cuộc vượt qua của thánh Phanxicô. Trong những ngày qua chúng ta đã ôn lại những đường nét chính trong cuộc đời của thánh Phanxicô và các anh tiên khởi qua Di Chúc của ngài. Hôm nay chúng ta nghe những lời cuối cùng của Di Chúc ngài để lại. Lời chúc lành cuối Di Chúc này gợi ý chúng ta hướng nhìn về phúc lành Thiên Chúa hứa cho những ai tuân giữ lối sống mà Cha thánh và các thể hệ trước đã đi qua, để từ đó củng cố niềm hy vọng cho chúng ta trên con đường tiến về nhà Cha trên trời. Trong bài chia sẻ cuối cùng của khóa tĩnh tâm năm nay, chúng ta hãy cùng nhau suy gẫm chủ đề Niềm hy vọng và phúc lành của những người lữ hành tiến về nhà Cha.

Trước hết, chúng ta sẽ cùng nhau xác nhận lại một lần nữa rằng lối sống của chúng ta là một cuộc lữ hành, một cuộc lữ hành bắt xuyên qua những thực tại trần thế để về với Cha chúng ta ở trên trời. Tiếp đến, chúng ta sẽ cũng suy gẫm về phúc lành mà Chúa hứa ban cho nhưng người lữ hành và từ đó phát xuất niềm hy vọng. Sau đó, chúng ta sẽ nói đến hành trang của những người lữ hành trên đường hy vọng. Và cuối cùng là những lời kết, hướng đến cuộc hành trình của mỗi người chúng ta.

I. TÍNH CHT L HÀNH CA CUC ĐI CHÚNG TA

Lữ khách là những người thường xuyên lên đường, không lưu lại một nơi nào quá lâu vì họ ý thức rằng nơi họ đang ở không phải là quê hương của họ. Khi chọn lối sống Anh Em Hèn Mọn, chúng ta chọn cho mình một cuộc đời lữ hành giống như thánh Phanxicô và các bậc tiền bối thuở ban đầu đã sống. Những anh em tiên khởi này đã xác tín vào một quê hương ở trên trời cho nên không sự gì ở thế gian có thể níu chân họ. Thánh Phanxicô đã nhắc lại lối sống này trong Di Chúc như sau: Anh em phải giữ mình nhất thiết không nhận nhà thờ, nhà ở bé nhỏ và tất cả những gì người ta xây cất cho anh em, nếu những nơi ấy không hợp với thánh đức nghèo khó mà chúng ta đã tuyên hứa giữ trong Luật dòng, và chúng ta chỉ trú ngụ ở đó như khách lạ và kẻ lữ hành (x. Pr 2,11) (DC 20)

Các truyện ký kể lại nhiều câu chuyện cho thấy thánh Phanxicô đã luôn nhắc anh em mình về tính chất lữ hành của lối sống Anh Em Hèn Mọn. Ví dụ chuyện thánh Phanxicô truyền cho anh em, ngay cả anh em đau yếu, phải ra khỏi căn nhà ở Bologna chỉ vì nghe người ta nói rằng ở trong vùng đó “có một ngôi nhà của anh em”. Cụm từ “nhà của anh em” khiến cho thánh Phanxicô nghĩ ngay đến sự sở hữu, sự ổn định. Đối với ngài, những người lữ khách không thể có những thứ đó, vì thế ngài quay gót, đi đường khác,không đến bologna nữa. Không những thế, ngài còn truyền cho anh em phải mau chóng ra khỏi nhà đó. Một người anh em, người đã phải ra khỏi nhà đó trong lúc đau yếu, đã cung cấp tư liệu này cho anh Toma Celano và nhờ đó câu chuyện được lưu truyền đến ngày nay.

Toma Celano còn kể lại một câu chuyện tương tự như sau: Đấng thánh không muốn cho anh em sống ở bất cứ nơi nào trừ khi nơi ấy thuộc quyền sở hữu rõ ràng của một người khác. Ngài luôn luôn muốn các con cái mình tuân giữ các qui định trong "luật của khách hành hương": ở nhờ trong nhà người khác, đi đường trong tinh thần hòa bình, và trông ngóng quê hương.

Lần kia tại ẩn viện Sartêanô, có một anh hỏi một anh khác nãy giờ ở đâu, và anh kia trả lời: "Nãy giờ tôi ở trong phòng của anh Phanxicô." Thánh nhân nghe được câu nói ấy, liền bảo ngay: "Anh đã gán tên Phanxicô lên trước căn phòng, và như thế là biến nó thành sở hữu của tôi. Vậy thì anh hãy đi tìm một người anh em nào khác đến đó ở. Từ nay tôi sẽ không ở đó nữa. Khi Chúa giam mình trong hoang địa, cầu nguyện và ăn chay bốn mươi ngày, Người không có một căn phòng hoặc một ngôi nhà nào xây cho mình, nhưng trú dưới một tảng đá bên sườn núi. Về phần chúng ta, nếu không thể sống ngoài trời, thì ít ra có thể noi gương Chúa theo cách Luật Dòng đã qui định, tức là không có gì là của riêng." (2Cel 59).

Thánh Phanxicô ý thức mãnh liệt rằng người hành hương thì luôn là người ở trọ, ở nhờ. Còn khi mình sở hữu một căn nhà, hay một căn phòng thì mình không còn là người hành hương nữa, mình không còn muốn lên đường nữa. Mà không lên đường thì đồng nghĩa là không bao giờ tới đích là quê hương đích thật của mình. Hành động từ chối ở trong một căn phòng được gán cho ngài có thể là một hành động cực đoan đối với nhiều anh em của ngài, nhưng cũng là một hành động có tính biểu tượng và có sức nhắc nhở các anh em của ngài về tinh thần của người lữ khách: sẵn sàng lên đường.

II. PHÚC LÀNH CA NGƯỜI L HÀNH

Sở dĩ thánh Phanxicô đã phản ứng rất mạnh mẽ và dứt khoát như vậy đối với những cám dỗ níu chân anh em là bởi vì ngài xác tín vững vàng vào phúc lành lớn lao đang chờ đợi ngài và những ai trên quê hương. Phần thưởng ấy lớn lao đến nỗi không có gì ở thế gian này có thể đánh đổi được, thực sự là không có gì đáng để so sánh. Vì thế ngài không muốn mất thì giờ đắn đo với những gì có thể cản bước chân người lữ khách. Như người thương gia tìm được viên ngọc quý, ngài sẵn sàng bán hết tất cả để mua cho được viên ngọc ấy, hay như người nông dân tìm được kho báu trong ruộng, thánh nhân đã làm tất cả để có được kho báu ấy (x. Mt 13,44-46).

Vậy phúc lành ấy, viên ngọc ấy, kho báu ấy là gì mà đã khiến thánh nhân bừng lửa nhiệt thành đạt cho được, đến mức sẵn sàng chấp nhận bị gọi là kẻ cực đoan, điên rồ.

Câu trả lời ngắn gọn là: Chính Thiên Chúa là phúc lành lớn lao nhất. Người là viên ngọc quý đối với người thương gia, là kho báu cho người nông dân, và là đích điểm, là quê hương của người lữ hành Phan Sinh

Đích điểm của người kitô hữu nói chung, và những lữ khách Phan Sinh nói riêng không phải là một đền thánh ở Rôma hay ở Jerusalem, hay ở bất kì một địa điểm nào trên trái đất hay trong vũ trụ mênh mông này. Đích điểm của những người hành hương này là ở nơi một Đấng, một hiện hữu có ngôi vị, là Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Phanxicô đã nói đến Người một cách xúc động và xác tín trong Chương XXIII của Luật không sắc chỉ như thế này:

(1) Lạy Thiên Chúa toàn năng, chí thánh, chí tôn và cao cả, là Chúa Cha thánh thiện (Ga 17,11) và công chính, là Chúa tể, và là Vua trời đất (x. Mt 11,25), chúng con tạ ơn Cha vì chính Cha mà thôi, vì do bởi thánh ý Cha và nhờ Thánh Tử duy nhất cùng với Thánh Thần, Cha đã dựng nên muôn loài thiêng liêng và vật chất, và đã dựng nên chúng con theo hình ảnh và giống như Cha, rồi đặt chúng con trong vườn địa đàng. (x. St 1,26; 2,15)

Với những lời này, thánh Phanxicô khẳng định chính Thiên Chúa là phúc lành tối hậu của con người. Khi thánh Phanxicô nói, “chúng con tạ ơn Cha vì chính Cha mà thôi”, thánh nhân nhìn nhận một cách xác tín rằng chính Thiên Chúa là phúc lành lớn lao nhất trước khi nói đến những ân huệ phát xuất từ nơi Ngài. Chính vì Ngài hiện hữu mà loài người và muôn vật mới được có mặt. Vì thế chính Thiên Chúa là phúc lành tiên quyết mà từ đó, mọi phúc lành khác được ban cho muôn loài muôn vật. Trong đó số các ân huệ phát xuất từ Thiên Chúa, thánh Phanxicô nhắc đi nhắc lại ba hồng phúc này là: “Chính Người đã ban đã dựng nên, đã cứu chuộc và sẽ cứu độ chúng ta, do lòng thương xót của Người mà thôi.” (Lksc 23,8)

Bởi vì chính Thiên Chúa là phúc lành lớn lao nhất và từ người mà chúng ta “lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (x. Ga 1,16) cho nên thánh Phanxicô mời gọi một cách tha thiết mỗi lữ khách Phan Sinh rằng: Hết thảy chúng ta hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết nghị lực, hết sức mạnh, hết trí hiểu (x. Mc 12,30.33), hết mọi sức lực (Lc 10,27), với tất cả cố gắng, tat cả tình cảm, tất cả tâm can, tất cả lòng muốn và ý chí. Chính Người đã ban và đang ban cho tất cả chúng ta toàn thân xác, toàn linh hồn và toàn sự sống.

 Và ở một đoạn sau đó thánh nhân viết: Vậy chúng ta đừng ước ao, đừng ham muốn, cũng đừng vui thích hay tha thiết điều gì ngoài Đấng Tạo hóa, Cứu chuộc và Cứu độ chúng ta: chỉ mình Người là Thiên Chúa thật, là sự thiện viên mãn, tất cả sự thiện, sự thiện vẹn toàn, sự thiện chân thật và cao cả; chỉ mình Người là tốt lành (x. Lc18,19), khoan nhân, khả ái, ngọt ngào và dịu hiền; chỉ mình Người là thánh thiện, công chính, chân thật, và ngay thẳng; chỉ mình Người là nhân từ, vô tội, trong trắng; do Người, nhờ Người và trong Người (x. Rm 11,36), mà mọi ơn tha thứ, mọi ân huệ, mọi vinh quang được ban xuống cho tất cả những người sám hối, tất cả những người công chính, tất cả các thánh đang cùng nhau vui sướng trên trời.

Như thế, phúc lành của những người lữ hành Phan Sinh và của mọi kitô hữu là chính Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, Đấng mà chúng ta phải yêu mến và ước ao trên hết mọi sự.

III. NIM HY VNG CA NGƯỜI L HÀNH

Phúc lành làm phát sinh lòng ao ước, nhưng không đương nhiên cho người ta hy vọng. Sở dĩ người ta có niềm hy vọng là vì người ta thấy có cơ may đạt được phúc lành. Cũng thế, người lữ hành Phan Sinh có niềm hy vọng là vì có có con đường dẫn lối đến với phúc lành lớn lao ấy. Con đường ấy chính là Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể. Người phán: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (x. Ga, 14,6).

Đức Kitô đã mạc khải niềm hy vọng cho chúng ta qua bài giảng về các mối phúc. Trong bài giảng đó, Người đã nâng niềm khát vọng của chúng ta về với quê trời và đồng thời chỉ cho chúng ta con đường để đi về chốn hằng mong ước ấy.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói về Tám Mối Phúc như sau: Từ lúc khởi đầu việc giảng dạy của Chúa Giêsu, đức cậy Kitô giáo được khai triển trong lời loan báo các mối phúc. Các mối phúc nâng niềm hy vọng của chúng ta hướng lên trời, như lên miền Đất hứa mới; vạch đường tới đó qua những thử thách đang chờ đợi các môn đệ của Chúa Giêsu. Nhưng nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô và của cuộc khổ nạn của Người, Thiên Chúa gìn giữ chúng ta trong niềm hy vọng “không phải thất vọng” (Rm 5,5). Chúng ta có niềm hy vọng “như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn”, thả sâu vào “nơi Chúa Giêsu đã vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta” (Dt 6,19-20). Đức cậy cũng là vũ khí bảo vệ chúng ta trong cuộc chiến đấu để được cứu độ: “Hãy mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ” (1 Tx 5,8). Đức cậy mang lại cho chúng ta niềm vui ngay cả trong thử thách: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân” (Rm 12,12). Đức cậy được diễn tả và nuôi dưỡng trong kinh nguyện, nhất là trong Lời Kinh của Chúa, là bản toát yếu của tất cả những gì mà đức cậy khiến chúng ta ước ao. (GLHTCG 1820)

Trong khi giáo huấn của Chúa Giêsu lay động tâm trí các môn đệ thì gương sáng của Người lôi cuốn họ đi theo. Chính Người đã sống trọn vẹn những gì Người dạy, đã đi trọn con đường mà Người đề xuất. Và sự sống lại của Người là minh chứng hùng hồn cho tính chân thật của lời Người dạy. Vì thế, “chúng ta có niềm hy vọng “như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn”, thả sâu vào “nơi Chúa Giêsu đã vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta”” (Dt 6,19-20), (GLHTCG 1820).

IV. HÀNH TRANG CA NGƯỜI L HÀNH PHAN SINH
TRÊN
ĐƯỜNG HY VNG

Theo lời dạy của Đức Giêsu Kitô và bước theo dấu chân của Người, những người lữ hành Phan Sinh trang bị cho mình những hành trang mà chính Đức Giêsu và các môn đệ Người đã sắm. Trong số các hành trang đó, thánh Phanxicô nhấn mạnh đặc biệt hai điều: thứ nhất là không có của riêng và thứ hai là tình anh em.

1. Không có của riêng - hy vọng vào Thiên Chúa Hành trang thứ nhất là “không có của riêng”. Điều này nghe có vẻ nghịch lý, nhưng quả đúng như thế, đối với những người lữ hành Phan Sinh, Đức Nghèo là bảo đảm cho niềm hy vọng vì chính Đức Giêsu đã dạy và đã sống như thế. Chính Người đã dạy “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ” (Mt 5,3). Và cũng chính Người đã tự nguyện “trở nên nghèo khó ở thế gian này vì chúng ta” (x. 2 Cr 8,9; Lsc 6,3). Để nhấn mạnh yếu tố cốt yếu này, Luật dòng ghi một cách trang trọng và tha thiết rằng: Anh em không được chiếm hữu gì hết, nhà cửa, nơi chốn hoặc bất cứ của gì. Như những kẻ lữ hành và khách lạ ở đời này (x. 1Pr 2,11), phụng sự Chúa trong nghèo khó và khiêm nhường, anh em hãy đi xin của bố thí với lòng tin tưởng, không được hổ thẹn, vì Chúa đã làm người nghèo khó ở thế gian này vì chúng ta (x. 2Cr 8,9). Đó chính là bậc cao nhất của đức nghèo rất cao cả,: Đức ấy đã đặt anh em, những anh em rất thân mến của tôi, làm những người thừa tự và là vua của Nước Trời, nghèo khó về của cải nhưng cao sang về nhân đức (x. Gc 2,5). Chớ gì đó là phần gia nghiệp của anh em dẫn tới miền đất dành cho kẻ sống (x. Tv 141,6). (Lsc 6,1-5) Bình luận về đoạn Luật dòng này, các tác giả Lothar Hardick, Josef Terschlussen và Kajetan Esser đã có những suy niệm thật hay trong tác phẩm Luật Dòng Anh Em Hèn Mọn - Khảo cứu lịch sử và thiêng liêng, do cha Andre Trần Hữu Phương dịch sang Tiếng Việt.

Thánh Phanxicô gọi anh em là “những người hành hương, kẻ ngoại kiều” để định nghĩa thái độ đời sống kitô hữu của họ.

Người kitô hữu luôn lên đường! Họ không thuộc về thế gian này. Họ chỉ là “lữ khách” tiến về một thế giới mới (Ga 15,18). Trong niềm hy vọng thâm sâu, họ chờ đợi Nước-Thiên -Chúa-sẽ-đến được thực hiện trong đời sống họ. Dấu bề ngoài theo đó thánh Phanxicô nhận ra con người hy vọng và chờ đợi, đó là sự nghèo khó. Sự nghèo khó nuôi dưỡng trong con người sự luyến tiếc quê hương thật, “quê hương những người sống” (Tv 141,6) như đã được nói tới trong một Thánh vịnh mà Phanxicô ưa chuộng. Vì thế, tại nơi các anh em trú ngụ, Người không chấp nhận điều gì khả dĩ nhắc tới thế gian. Trái lại, tất cả phải mang dấu vết con người lữ khách, buôn tẩu, tha hương (1 Cel 60). Anh em phải sống sự nghèo khó tự nguyện, đôi mắt luôn hướng về lý tưởng: “quy chế người hành hương” (2 Cel 59), phúc cho những kẻ có tinh thần nghèo khó (Mt 5,3). Thánh Phanxicô xem nghèo khó như một bảo đảm cho chúng ta được thừa hưởng gia nghiệp trên trời (2 Cel 47), của cải bất diệt (2 Cel 55).

Những lời suy niệm sâu sắc trên đây giúp chúng ta thấy rõ hơn ý nghĩa của việc Phanxicô đề cao tinh thần nghèo khó của người lữ hành. Càng tuân giữ tinh thần nghèo khó đích thực thì chúng ta càng có lý do để hy vọng sẽ được chung hưởng phần gia nghiệp cùng với Chúa Giêsu trong nhà Cha trên trời. Vì thế, hành trang của người lữ khách Phan Sinh trước hết là tinh thần không chiếm hữu.

2. Tình huynh đệ - hy vọng nơi anh em Tất cả niềm hy vọng của người lữ hành Phan Sinh được đặt nơi Chúa, nhưng đồng thời Luật Dòng cũng dạy anh em phải hy vọng vào nhau. Hay nói cách khác, anh em phải cậy dựa vào nhau để có thể giúp nhau đạt tới niềm hy vọng tối hậu là về tới nhà Cha. Luật dòng chương 6 tiếp tục dạy rằng: Dù ở nơi nào hay gặp nhau ở đâu, anh em hãy tỏ ra là anh em một nhà. Người này hãy tin tưởng tỏ cho người kia biết nhu cầu của mình, vì nếu một người mẹ yêu thương và nuôi dưỡng đứa con huyết nhục của mình, thì mỗi người lại phải yêu thương và nuôi dưỡng anh em thiêng liêng của mình biết là dường nào. (Lsc 6,7-8) Luật dạy anh em phải tin tưởng bày tỏ nhu cầu của mình, đó là dấu chứng của niềm hy vọng vào lòng tốt của anh em. Thật vậy, tôi bày tỏ nhu cầu của tôi cho anh, vì tôi hy vọng anh có thể giúp tôi. Tôi có niềm hy vọng đó vì anh và tôi là anh em cùng một nhà. Tình thương của một gia đình giúp tôi có niềm hy vọng vững chắc rằng anh sẽ sẵn lòng đáp ứng nhu cầu của tôi, hoặc nếu anh không thể thì tôi cũng sẽ nhận được một sự thông cảm và tôn trọng.

Những người lữ khách Phan Sinh phải mang trên mình hành trang là niềm hy vọng vào anh em mình? Sau đây là một vài gợi ý: Thứ nhất, niềm hy vọng vào anh em là một thành trì vững chắc giúp anh em thanh thản sống đức nghèo Phúc Âm. Khi chọn sống đời lữ hành nghèo khó, anh em buông bỏ mọi chỗ dựa an toàn ở trần thế. Từ nay họ chỉ còn có Chúa là niềm hy vọng và anh em là nơi có thể nương tựa lẫn nhau. Giả như anh em không thể trông cậy vào nhau thì đức nghèo đứng trước nguy cơ bị suy yếu. Thật vậy, từ kinh nghiệm nơi các huynh đệ đoàn, chúng ta có thể thấy rằng khi huynh đệ đoàn đáp ứng cách mau lẹ các nhu cầu cần thiết của từng anh em thì anh em sẽ an tâm cống hiến tất cả tài năng để phục vụ vô vị lợi và đặt tất cả làm của chung. Còn nếu anh em cảm thấy mình không thể hy vọng rằng huynh đệ đoàn sẽ đáp ứng những nhu cầu cần thiết của mình hoặc đáp ứng một cách miễn cưỡng thì chuyện dễ xảy ra là anh em không cảm thấy yên tâm để cống hiến hết mình. Anh em bị cám dỗ và có lý do biện minh để giữ lại một phần tài năng, sức lực và cả thu nhập để có thể tự lo cho bản thân.

Hơn nữa, khi anh em không còn cảm thấy mình có thể cậy dựa vào anh em thì họ sẽ tìm cách cậy dựa vào những nơi khác, có thể là gia đình ruột thịt của mình, hoặc các ân nhân, … Hệ quả là đức nghèo khó bị đe doạ. Mà nếu đức nghèo bị đe doạ thì cũng có nguy cơ là người ta bị lạc khỏi con đường hy vọng, lạc mất nhau và lạc mất chính niềm hy vọng vào Thiên Chúa. Bởi thế Luật yêu cầu anh em phải sống trong bầu khí gia đình, phải nhìn nhận nhau như anh em để mỗi người có thể cậy dựa vào nhau. Một mặt Luật yêu cầu anh em phải tin tưởng bày tỏ nhu cầu, mặt khác, luật cũng đòi buộc anh em phải chăm sóc lẫn nhau một cách chu đáo còn hơn cả người mẹ đối với đứa con ruột thịt của mình. Chính trong bầu khí gia đình này mà anh em có thể cậy dựa vào nhau. Như thế, hành trang tình huynh đệ gắn kết chặt chẽ với hành trang nghèo khó.

Thứ hai, niềm hy vọng nơi anh em là phương thế để biện phân ý Chúa, để biết Chúa muốn anh em đi lối nào khi gặp những ngã rẽ trên hành trình. Đức Kitô là Đấng dẫn đường cho những người lữ khách trên đường về nhà Cha. Ngày nay, Vị dẫn đường ấy hiện diện khi hai hoặc ba người họp lại nhân danh Người (x. Mt 18,20). Khi anh em thực hiện biện phân trước một quyết định quan trọng thì một điều không thể thiếu là anh em phải thực sự trông cậy vào nhau. Tin tưởng rằng Thần Khí Chúa đang tác động một cách nhiệm mầu nơi người anh em của mình và vì thế không một ai bị xem là tầm tường, là vô dụng. Câu chuyện thánh Phanxicô cùng với anh em biện phân xem ngài và anh em ngài nên dấn thân vào hoạt động rao giảng hay ẩn mình trong đời sống chiêm niệm cho chúng ta một ví dụ về việc thánh nhân cậy dựa vào anh chị em mình để biết ý Chúa.

 Là một người Anh Em Hèn Mọn đích thực, nên mặc dầu đã học được nhiều điều lớn lao nơi vị Thầy Chí Tôn, về những vấn đề bé nhỏ hơn, ngài vẫn không ngần ngại hỏi ý kiến những người thấp hơn mình. Ngài luôn đặc biệt thiết tha tìm kiếm làm thế nào và dùng cách gì để phục vụ Thiên Chúa cách trọn hảo hơn theo ý thích của Người. Bao lâu ngài còn sống, triết lý cao nhất của ngài, ước nguyện cao nhất của ngài là hỏi người khôn ngoan và người chất phác, hỏi người trọn lành và người bất toàn, hỏi người già và người trẻ, để biết làm cách nào có thể đạt tới đỉnh trọn lành cách hữu hiệu hơn cả.

Vì thế, ngài chọn hai anh em và phái họ đến gặp anh Sylvetê là người đã thấy cây Thánh Giá xuất hiện trên miệng ngài và lúc ấy đang dành hết thời giờ để cầu nguyện liên lỉ trên ngọn núi phía trên Assisi. Anh được yêu cầu xin Chúa giải gỡ mối nghi ngờ của ngài về vấn đề này, rồi cho ngài biết câu trả lời nhân danh Thiên Chúa. Ngài cũng cậy trinh nữ Clara thánh thiện bàn hỏi cùng những trinh nữ tinh tuyền nhất và đơn sơ nhất đang sống theo luật của bà, xin bà cùng các chị em khác cầu nguyện để tìm kiếm thánh ý Chúa trong việc này. Do một ơn mặc khải lạ lùng của Thần Khí, cả hai người, vị linh mục đáng kính và người trinh nữ tận hiến cho Chúa, đều đi đến cùng một kết luận : Chúa muốn vị sứ giả của Đức Kitô phải rao giảng. (ĐT 12,4)

Câu chuyện này minh chứng rõ ràng rằng Phanxicô biết mình có thể cậy dựa vào anh chị em của mình. Sở dĩ ngài cậy dựa vào những người khác ở mọi cấp độ ấy là vì ngài tin tưởng rằng Thần Khí của Chúa muốn thổi đâu thì thì thổi (x. Ga 3,8). Dù ngài đã trổi vượt trên đường nhân đức, là người hướng dẫn cách anh em của mình nhưng không vì thế mà ngài coi thường ý kiến của họ; trái lại ngài hết lòng cậy dựa vào chính các học trò của mình để có thể tìm kiếm thánh ý Chúa. Noi gương thánh tổ phụ, người Anh Em Hèn Mọn đích thực cần phải có hành trang là tình anh em và khả năng đặt niềm hy vọng nơi anh em mình.

Cuối cùng, Luật dạy anh em phải hy vọng nơi anh em mình vì đó là cách anh em giữ lửa hy vọng cho nhau. Những người tham gia vào cuộc lữ hành trên đường hy vọng tiến về nhà Cha không phải luôn là những người hoàn hảo, trái lại thường thì đây là những người có nhiều giới hạn và bất toàn. Cuộc lữ hành chung của những con người khiếm khuyết, tật nguyền đủ kiểu như thế hẳn sẽ thật là khó khăn và dường như bất khả. Bởi vì những khiếm khuyết, tật nguyền của người này có thể níu kéo bước tiến của người kia và có khi làm trì trệ cả huynh đệ đoàn hoặc thậm chí làm tổn thương nhau. Cuộc hành trình với những con người như vậy đòi hỏi kẻ lữ hành phải có một niềm hy vọng lớn lao vào anh em mình. Đó là niềm hy vọng rằng anh em mình rồi sẽ khá hơn, hy vọng rằng với ơn Chúa, những khiếm khuyết rồi sẽ được bù đắp, những tật nguyền rồi sẽ được chữa lành. Một điều kỳ diệu là khi ta đối xử với anh em mình với niềm hy vọng thì chính ngọn lửa hy vọng lại được thắp lên nơi tâm hồn của những anh em mình.

Lá thư gửi cho một anh Phục vụ cho ta một ví dụ điển hình về cách thánh Phanxicô dạy anh em không được mất hy vọng vào nhau. Đây là lá thư phản hồi của thánh Phanxicô cho một anh Phục vụ đang gặp khó khăn trong việc phục vụ anh em. Có vẻ như anh Phục vụ này thấy không thể chịu nổi một anh em khó tính nào đó và ngài muốn rút lui. Trong lá thư trả lời, thánh Phanxicô viết: (2) Về việc liên quan đến tâm hồn anh, tôi xin nói như tôi có thể: những phiền hà ngăn trở anh yêu mến Thiên Chúa và bất cứ ai gây chướng ngại, các anh em hay các người khác, cho dẫu họ đánh đập anh đi nữa, thì anh hãy xem mọi điều đó như một ân huệ. (3) Anh hãy ưng chịu như vậy, chứ đừng muốn gì khác. (4) Anh hãy làm như vậy vì đức vâng lời chân thật đối với Thiên Chúa và đối với tôi; tôi biết chắc chắn đó là đức vâng lời chân thật. (5) Xin anh hãy yêu mến những người đối đãi với anh như thế. (6) Anh đừng mong muốn nơi họ điều gì khác ngoài điều Chúa sẽ ban cho anh. (7) Anh hãy yêu mến họ ngay trong hoàn cảnh đó và đừng muốn họ trở thành những Kitô hữu hoàn hảo hơn. (8) Anh hãy xem điều đó tốt hơn là ẩn viện.

(9) Chính điều này làm tôi biết được anh có yêu mến Chúa và yêu mến tôi, người tôi tớ của Người và của anh hay không, đó là không một anh em nào trên đời đã phạm mọi thứ tội có thể phạm được, mà sau khi đã gặp mặt anh để xin thương xót, lại ra đi mà không được anh thương xót. (10) Nếu người ấy không xin thương xót, thì phần anh, anh hãy hỏi người ấy có muốn được thương xót không. (11) Và nếu sau này người ấy có phạm tội trước mặt anh ngàn lần đi nữa, thì anh cứ yêu mến người ấy hơn là yêu mến tôi, hầu lôi kéo người ấy về với Chúa. Xin anh hãy luôn luôn thương xót những người anh em như thế. (12) (TPv 2-12)

Mặc dù trong lá thư này, thánh nhân không coi nhẹ trách nhiệm lương tâm của người anh em phạm tội, cũng như bổn phận sửa dạy của các anh phục vụ nhưng ngài yêu cầu anh Phục vụ hãy kiên nhẫn đối xử tử tế với những anh em này, cho cho dù có bị đánh đập đi nữa. Không những thế, ngài lại còn đề nghị phải tha thứ không chỉ những lỗi phạm nhỏ nhặt mà còn cho mọi lỗi phạm trên đời mà người ta có thể phạm, không chỉ một vài lần mà ngay cả khi đến ngàn lần, không chỉ khi người phạm tội thành tâm xin tha thứ mà ngay cả khi họ không xin thì chính anh Phục vụ này cũng phải đi bước trước. Thánh nhân khuyến khích một tinh thần yêu thương anh em như vậy trước hết là vì có lời Chúa dạy: “Anh em phải yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). Nhưng đồng thời cũng bởi vì thánh nhân có niềm hy vọng vào con người. Niềm hy vọng vào sự hoán cải của anh em: “Và nếu sau này người ấy có phạm tội trước mặt anh ngàn lần đi nữa, thì anh cứ yêu mến người ấy hơn là yêu mến tôi, hầu lôi kéo người ấy về với Chúa.” (TPv 11). Dù người anh em có phạm tội bao nhiêu đi nữa thì cũng không vì thế mà anh em mất niềm hy vọng vào nhau. Và chúng ta có thể suy thêm là nếu chính người anh em phạm lỗi không còn nhìn thấy hy vọng nơi chính mình đi nữa, thì phần anh em khác cũng không được mất niềm hy vọng vào người anh em đó. Trái lại, chính niềm hy vọng của một người thể hiện qua lòng thương thương xót không biết mệt mỏi sẽ thắp lên niềm hy vọng cho những ai lạc mất niềm hy vọng. Chính ở điểm này mà chúng ta thấy đức cậy và đức mến liên kết chặt chẽ với nhau, như thánh Phaolô quả quyết: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7).

V. TIP BƯỚC TRÊN ĐƯỜNG HY VNG

Kính thưa anh em, chúng ta vừa cùng nhau suy gẫm về niềm hy vọng và phúc lành của những người lữ hành tiến về nhà Cha. Chúng ta đã nhìn thấy rằng thánh Phanxicô và các anh em của ngài đã là những người lữ hành với niềm hy vọng đạt được phúc lành tối hậu là chính Thiên Chúa Ba Ngôi. Hành trang của những người lữ hành trên đường hy vọng là tinh thần trong nghèo khó và tình huynh đệ. Trong đó, nghèo khó là dấu chứng và là bảo đảm cho niềm hy vọng còn tình huynh đệ là cách thức mà niềm hy vọng được gìn giữ và lan truyền.

Thánh Phanxicô và những lữ khách tiên khởi đã “đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” và họ đã nhận được “vòng hoa dành cho người công chính […] và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (x. 2 Tm 4,7-8), nói theo cách của thánh Phaolô. “Những người hết tình mong đợi” ấy chính là mỗi anh em chúng ta hôm nay, những người đang tiếp bước hành trình trên con đường hy vọng tiến về nhà Cha là phúc lành lớn lao nhất mà chúng ta hằng mong đợi.

Ngày hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục lên đường. Và chúng ta sẽ lên đường với lời chúc lành của Cha thánh Phanxicô được truyền đến cho chúng ta qua bao thế hệ: Vậy ai tuân giữ các điều này thì trên trời xin Chúa Cha Tối cao ban cho tràn đầy phúc lành, và dưới đất xin Chúa Con yêu quý của Người cùng với Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo trợ, và toàn thể các dũng thần thiên quốc và tất cả các thánh ban tràn đầy phúc lành cho. (41) Phần tôi, Phanxicô, người anh em bé mọn và tôi tớ của anh em, theo quyền hạn của tôi, tôi cũng xin xác nhận, từ trong lòng đến ngoài miệng lời chúc lành rất thánh đó cho anh em. (DC 40-41)

Cha thánh Phanxicô với tư cách là một người anh em và cũng là vị tổ phụ của các Anh Em Hèn Mọn cầu xin Thiên Chúa Ba Ngôi là nguồn mạch mọi phúc lành, chúc phúc cho anh em và cũng là con cái của mình. Cha thánh cầu phúc cho “những ai tuân giữ những điều này” tức là những ai không chỉ mang danh mà thực sự kiên trì bước đi trên đường hy vọng. “Những điều này” mà thánh nhân nói đến có thể hiểu cách trực tiếp là những lời được ghi trong Di Chúc, mà những lời của Di chúc là để “chúng ta tuân giữ Luật Dòng mà chúng ta đã tuyên hứa với Chúa” (DC 34). Mà nếu trong một lúc chúng ta không nhớ hết được mọi điều Luật dòng dạy thì ít nhất chúng ta có thể nhắc nhau hai điều quan trọng này là tinh thần nghèo khó và tình anh em, hay nói cách khác đó là tình huynh đệ và nghĩa mọn hèn. Hai điều này vốn là hành trang không thể thiếu của những người lữ hành trên đường hy vọng tiến về nhà Cha.

Xin Thiên Chúa Ba Ngôi chúc lành cho mỗi người chúng ta trên hành trình hy vọng này. Amen.

Xin cám ơn tất cả anh em.

Giuse Nguyễn Anh Tuấn, OFM

CÂU HI M RNG

  1. Lữ hành ngày nay đối với người tu sĩ Phan Sinh là gì?

  2. Chúng ta có đang vun đắp niềm hy vọng cho nhau bằng cách trở thành 'nơi nương tựa an toàn' cho anh em mình không?

Đi tới Hỏi & Đáp