Sống căn tính Anh Em Hèn Mọn giữa lòng Hội Thánh
Ngày 2: Buổi chiều
BÀI 4
SỐNG CĂN TÍNH ANH EM HÈN MỌN
TRONG LÒNG HỘI THÁNH
ÉLOI LECLERC, Saint François d’Assise - Le Retour à Lsc’Évangile, Desclée De Brouwer: Paris, 1981, p. 89-104.
Chuyển ngữ: LM. GUY MARIE NGUYỄN HỒNG GIÁO, OFM, Phanxicô Assisi Trong Luồng Gió Lịch Sử, trang 56-66.
CHƯƠNG VI
TÌNH HUYNH ĐỆ TRÀN LAN NHƯ NƯỚC VỠ BỜ
Phanxicô đã theo nếp sống lưu động của người môn đệ được Đức Kitô sai đi khắp nơi. Không giây phút nào ngài nghĩ đến việc thành lập một Hội Dòng mới. Tuy vậy, Thiên Chúa đã rất mau chóng ban cho ngài những người bạn đường. Mấy thị dân Assisi xúc động bởi lời nói và gương mẫu của ngài, đã quy tụ thành nhóm đầu tiên. Mới đầu là Bernard de Quintavalle, một thanh niên thị dân có thế giá, Pierre de Catane, luật gia, và Gilles thuộc giai cấp bình dân. Một số khác tiếp tục tìm đến. Cộng đồng dần dần tăng số. Ít lâu sau, từ bảy anh em tăng lên mười hai. Từ đó trở đi gia tăng nhanh chóng. Năm 1220, lên tới ba ngàn và năm 1226 có tất cả năm ngàn tu sĩ. Vốn không có ý tìm kiếm, mà tự nhiên thánh nhân được Chúa trao cho công việc tế nhị, là phải đem lý tưởng phúc âm ngài theo đuổi nhập thể vào một cộng đồng nhân loại ngày càng đông đảo.
Vào thời đó, trong Giáo hội không thiếu gì những mẫu mực đời sống cộng đồng đã vượt qua thử thách. Có những kinh sĩ dòng thánh Augustinô và nhất là những đan sĩ sống theo luật dòng thánh Bênêđictô hoặc thánh Bênađô. Phanxicô không muốn nghe bàn đến những kiểu mẫu ấy. Với một thái độ kính trọng nhưng cương quyết, ngài từ chối. Ngài muốn trực tiếp nhờ cậy Phúc âm. Trong Bút tích ngài viết: “Sau khi Chúa đã ban cho tôi những anh em, không ai chỉ vẽ cho tôi phải làm việc gì, song chính Đấng Tối Cao mạc khải cho thấy rằng tôi phải sống theo Phúc âm thánh. Bấy giờ tôi cho thảo một văn bản ngắn, dùng những từ đơn giản, và Đức Giáo hoàng đã chuẩn phê." (DC 14.15).
Như vậy, phải chăng là nói rằng lý tưởng đan tu cổ xưa không trực tiếp bắt nguồn từ Phúc âm? Tất nhiên không phải như vậy. Song lý tưởng ấy đáp ứng những điều kiện sinh hoạt xã hội và những khát vọng khác với bây giờ. Nó thích hợp với một kiểu xã hội mà bản chất là nông thôn. Đặc tính của nó, trước hết là sự cố định (stabilitas loci). Đan viện Bênêđictô gắn liền chặt chẽ vào một sở đất, một điền trang để thu hoạch hoa mầu. Do sự kiện đó, đan viện rất tự nhiên là thuộc hệ thống phong kiến và theo đúng những quan hệ xã hội của hệ thống ấy. Đan viện trưởng là bậc chức quyền, một lãnh chúa; cùng với một chức vụ thiêng liêng, đan viện trưởng chấp chính một thế quyền thật sự. Không những cai trị các tu sĩ dưới quyền mà còn cai trị mọi gia đình nông dân cư ngụ và lao động trên đất đai đan viện. Chính quyền ấy thuộc loại chính quyền lãnh chúa, có khi bao gồm cả một vùng rộng lớn. Cho dầu nhân đạo đến đâu, chính quyền ấy vẫn đặt cơ sở trên quan hệ đẳng cấp giữa lãnh chúa và thuộc dân.
Phanxicô Assisi sống trong một bối cảnh xã hội khác hẳn. Ngài là con của công xã, chúng ta đã nói rồi. Xã hội mà ngài tiếp xúc không bị gắn chặt vào một điền trang. Bây giờ là xã hội của thành thị và thương mại, không còn lệ thuộc các lãnh chúa, là một xã hội gồm các công dân liên hiệp. Xuất thân từ môi trường mới, Phanxicô tự nhiên bén nhạy đối với một số giá trị nhân bản và phúc âm mà lý tưởng đan tu cổ đã để khuất trong bóng tối. Đời sống phúc âm, nguồn cảm hứng của ngài, tự nhiên có liên hệ với những khát vọng xã hội mới. Từ cuộc gặp gỡ giữa Phúc âm và lịch sử, sắp xuất hiện một hình thái chưa từng thấy về đời sống cộng đồng và tu trì. Khuôn mặt cộng đồng mới ấy có những đặc tính chủ yếu gì?
1. Tính Lưu Động Của Người Tông Đồ
Trước hết, hình thức mới để sống Phúc âm là sự lưu động như các Tông đồ thuở xưa. Đời sống các môn đệ được Thầy sai đi, là gương sáng để noi theo. Nay đây mai đó, Anh Em trong huynh đệ đoàn mới thành lập không có chỗ ở nhất định. Lệnh ban ra cho mọi người là: thi hành sứ vụ truyền giáo và loan báo Tin mừng. Sứ vụ bắt buộc phải có một sự tự do di chuyển rất lớn, phải sống lưu động. Giống như các thương nhân lưu động thời đó, các bạn của thánh nhân thường luôn du hành trên khắp nẻo đường. Cộng đồng huynh đệ non trẻ gồm chưa tới mười Anh Em, thế mà đấng sáng lập đã phân tán họ; ngài sai từng nhóm hai người một đi khắp nơi trong nước, lãnh sứ vụ loan báo sự bình an và rao giảng sự ăn năn trở lại. Sau này, số Anh Em gia tăng, ngài sẽ sai đi nhiều nơi trên thế giới. Không phải tất cả các Anh Em đều rao giảng, nhưng mọi người đều được sai đi làm chứng nhân cho Tin mừng. "Chúa sai anh em đi khắp thế giới" – ngài viết trong Thư gửi toàn Dòng – "chính là để anh em dùng lời nói việc làm để làm chứng cho Lời Chúa…" (TTD 9).
Do sứ vụ của mình, Anh Em Hèn Mọn là những bộ hành, có khi là những bộ hành dũng cảm. Họ ca ngợi Thiên Chúa bằng sự di chuyển chẳng kém gì bằng lời rao giảng. Tu viện của họ chính là thế giới bao la. Vì thế có khi xảy ra nhiều chuyện lý thú. Chẳng hạn, ở thành phố Erfurt (nước Đức), các thị dân đề nghị xây cất cho họ một tu viện. Tu sĩ Jourdain, chưa hề thấy Hội Dòng có tu viện, lại là người đi bộ không mệt, trả lời với tư cách người chịu trách nhiệm trong nhóm: "Tôi không hiểu tu viện là gì. Các bạn cứ cất cho anh em tôi một mái nhà gần sông cho chúng tôi tiện xuống rửa chân." (M. T. Laureilhe, Trên các nẻo đường châu Âu hồi thế kỷ 13, Ký sự - Paris, 1959, tr. 47–48). Anh Em liền được thỏa mãn.
Bộ Luật năm 1221, rồi đến bộ Luật năm 1223, dành một chương nói về “cách đi lại giữa đời". Như thế đủ hiểu du hành là một phần đời sống các Anh Em Hèn Mọn. Theo đấng sáng lập, có một cung cách phúc âm để du hành trên thế giới, cũng là một cung cách loan báo Nước Trời: "Khi nào anh em đi lại giữa đời" – ngài viết trong Luật Dòng – "tôi khuyên nhủ, tôi báo trước và răn dạy họ, trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, hãy tránh những chuyện gian lận và cãi cọ, chớ xét đoán kẻ khác, nhưng trong lúc chuyện trò hãy vui vẻ, chiếu tỏa sự bình an, hiền hòa, khiêm nhượng, nhã nhặn, lịch sự với mọi người… Trong bất cứ nhà nào anh em đặt chân tới, hãy nói: “Bình an cho nhà này! Và tuân theo Phúc âm thánh, anh em được phép dùng tất cả những món người ta đãi" (Lsc 3, 10–14).
2. Cái Nghèo Của Khách Bộ Hành
Nếp sống lưu động như các Tông đồ không thích hợp cho sự khai thác một sở đất, một điền trang, vì thế các tu sĩ phan sinh phải sống khó nghèo. Không phụ trách những đất phong, họ phải làm thuê cho dân chúng địa phương họ đi qua, hoặc nhờ vào "bàn tiệc Chúa", tức là phải khất thực. Chỉ được phép nhận lương thực, thực phẩm người ta bố thí, phải từ chối tiền bạc. Vì trong tân xã hội, tiền bạc giống như con sâu làm hư trái cây. Tiền bạc là biểu tượng mới của sự giàu sang quyền thế; chính nó làm hư các quan hệ xã hội mới. Phải tránh nó như tránh ôn dịch. Về điểm này, thánh nhân thật cương quyết: "Bất cứ cách nào, anh em không được trực tiếp nhận hay nhờ người khác nhận hộ, lạc quyên hay nhờ người khác lạc quyên tiền bạc... Tôi nghiêm cấm tất cả các anh em bằng bất cứ cách nào nhận tiền vàng hay tiền lẻ, hoặc trực tiếp hoặc qua trung gian." (Lksc 8, 9; Lsc 4, 1). Ngài chỉ miễn cho những anh em nào yếu đau bệnh tật mà thôi.
Tu sĩ phan sinh sống đời sống khó nghèo của những kẻ lang thang và những kẻ hành khất, hiệp thông mật thiết với Đức Kitô, Đấng thuở xưa không có lấy một hòn đá để gối đầu, chính Chúa cũng sống nhờ lòng rộng rãi của những người đón tiếp (Lksc 9, 6). Theo vết chân Đức Kitô khó nghèo, không nhà không cửa, những Anh Em đầu tiên di chuyển "như những kẻ lữ thứ và những khách viễn phương". Cùng với Đức Kitô, họ sống cuộc Xuất hành và mừng lễ Vượt qua, tức là vượt qua đời này về với Cha. (1 Bon 7, 9). Nếp sống khó nghèo phan sinh nguyên thủy được thấm nhuần và như được nhấc bổng lên bởi luồng thần khí to lớn của lễ Vượt qua: đối với Anh Em Hèn Mọn, đây thật sự là con đường trực chỉ Đất Hứa. Vì thế họ vui sống khó nghèo, xem khó nghèo như một sự giải phóng. Đến với xã hội công xã non trẻ, hãnh diện biết bao về những quyền tự do giành được, song lại làm nô lệ cho tiền bạc, Phanxicô và các Bạn dùng nếp vui sống khó nghèo để loan báo sự trẻ trung và tự do thật sự của xã hội.
3. Tình Huynh Đệ
Cùng với tính lưu động tông đồ và sự khó nghèo của kẻ hành hương, đặc tính chủ yếu của hình thức mới để sống Phúc âm, là những quan hệ nhân bản trong nội bộ huynh đệ đoàn. Không bị ràng buộc vào bất cứ thái ấp hay đất phong nào, cộng đồng phan sinh từ khước mọi ý muốn thống trị và mọi cấp bậc tôn ti trong cách đối xử giữa các tu sĩ trong dòng. Mọi người đều là anh em. Chúng ta lại thấy ở đây khuynh hướng cơ bản của thời đại. Cộng đồng mới thành lập là một huynh đệ đoàn theo ý nghĩa đầy đủ. Thánh Phanxicô, trong bộ Luật năm 1221, viết: "Không anh em nào có quyền thống trị, nhất là đối với các bạn của mình." (Lksc 5, 12). Do điều luật ấy, ngài loại bỏ quan niệm "cha chú" của cấp trên, coi bề dưới mãi mãi như những người vị thành niên, như thấy phổ biến trong các đan viện và chế độ phong kiến thời bấy giờ. Ngài sáng lập một "cộng đoàn anh em". Cha Chenu ghi rằng: "Do ý định minh bạch của thánh Phanxicô Assisi, các Bạn đầu tiên của ngài thành lập không phải một Hội Dòng (Ordo), nhưng là một Huynh đệ đoàn (Fraternitas), với sắc thái vô chính phủ của thời đó. Ngài tạo ra hình ảnh và ơn gọi của người Huynh đệ." (M.D. Chenu, “Fraternitas” Phúc Âm và điều kiện xã hội – văn hóa, đăng trong Tạp chí Lịch sử Linh đạo, tập 49 (1973), số 4, tr. 390–396). Từ “fratres” lại được quan niệm với tất cả sắc thái phúc âm tươi tốt của nó. Từ nay, đây là tên gọi đặc biệt cho những phần tử của tân cộng đồng để phân biệt các Anh Em Hèn Mọn với các đan tu sĩ và kinh sĩ. Thực ra, nó nói lên một phong cách tân kỳ về quan hệ nhân bản trong nội bộ một tập thể tu trì.
Phong cách mới ấy xuất hiện trước mắt nhiều người đương thời như một sự giải phóng. Xét cho cùng, từ buổi đầu lý tưởng mà các cộng xã khát khao thực hiện nhưng không làm được vì vấp phải cái họa tiền bạc, thánh nhân và các Bạn của ngài đã thật sự sống lý tưởng ấy trên bình diện tôn giáo bằng cách sống theo Phúc âm. Lý do đó giải thích sự thành công mau chóng và trên một tầm mức bao la của cộng đoàn huynh đệ non trẻ. Gia nhập đoàn huynh đệ phan sinh, “người Kitô hữu cảm thấy mình tiến vào một môi trường sinh hoạt cởi mở hơn các dòng đan tu cổ. Nhìn dưới một số khía cạnh, các dòng ấy đã trở thành những cơ cấu chuyển từ lãnh vực phong kiến thế tục sang lãnh vực Giáo hội” (F. R. Durieux, ‘Nguồn gốc Hội Dòng’, theo K. Esser trong cuốn ‘Phanxicô Assisi, một học thuyết Phúc âm cho ngày nay’, 1976, tr. 23). Hơn nữa, người Kitô hữu nhập dòng phan sinh xác tín rằng mình hoạt động theo chiều hướng lịch sử bằng cách cống hiến cho thế giới một hình ảnh tiên báo tương lai của toàn thể cộng đồng nhân loại.
Mỗi năm một hay hai lần, toàn dòng họp tu nghị. Các phiên họp đóng vai trò chủ yếu trong sinh hoạt đoàn huynh đệ. Tu nghị không chỉ đánh dấu một "thì mạnh" (một cao điểm) mà suốt thời gian đó các tu sĩ vui sướng gặp lại nhau, cùng nhau tu luyện lại trong tinh thần cầu nguyện và ngợi khen. Tu nghị cũng là dịp để cùng nhau xác định ý thức: mọi người và mỗi người lúc đó cảm thấy mình liên kết với nhau, chung sức gánh trách nhiệm đời sống tập thể và sứ vụ của tập thể trên thế giới. Phản ánh trung thực chế độ các tổ chức kinh tế chính trị của xã hội đương thời, các tu nghị là công cụ và biểu tượng sự tham gia của tất cả các tu sĩ vào đời sống cộng đồng huynh đệ. Trong các phiên họp dân chủ ấy, trong bầu khí rất tự do của những người con Thiên Chúa, các Anh Em thảo luận về các vấn đề của dòng, trao đổi những kinh nghiệm, bầu ra các cấp hữu trách. Cũng trong tu nghị mà các tu sĩ nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các điều luật, hoạch định hướng đi và lấy những quyết định quan trọng liên quan đến tương lai cộng đồng.
Như vậy, trong thời kỳ phôi thai, phong trào phan sinh xuất hiện như một hiện tượng bành trướng kỳ diệu của các huynh đệ đoàn bé nhỏ trên khắp nước Ý và chẳng bao lâu sau trên khắp châu Âu. Các huynh đệ đoàn được thiết lập tại các thành thị. Địa bàn thích hợp là xã hội thị thành. Bản đồ các tu viện phan sinh vào cuối thế kỷ 13 trùng hợp với bản đồ các thành thị Kitô giáo. Đó cũng là một đặc tính quan trọng của nếp sống Phúc âm mới: vì tiếp xúc với xã hội thành thị cho nên nếp sống phúc âm đáp ứng những khát vọng và những thắc mắc của thị dân.
4. “Anh Em Hèn Mọn”
Tính lưu động tông đồ, nếp sống khó nghèo, tình huynh đệ, sự len lỏi vào giữa thành thị, tất cả các đặc tính của nếp sinh hoạt phúc âm mới tuy thế chưa đủ cho ta hiểu rõ cộng đồng phan sinh nguyên thủy. Những đặc tính ấy với sắc thái riêng cũng thấy có trong các phong trào Phúc âm thời đó.
Muốn mô tả cho đúng cuộc thử nghiệm của Cha thánh với tất cả nét đặc thù, thì phải nói thêm về một nét chủ yếu khác. Tôma Cêlanô thuật lại chuyện sau: "Ngày kia, nghe các tu sĩ đọc Luật Dòng, tới câu “Ut sint minores” (họ phải trở nên hèn mọn, bé nhỏ), ngài cắt ngang và nói: “Tôi muốn đoàn huynh đệ chúng ta mang tên là dòng Anh Em Hèn Mọn.” (1 Cel 38). “Anh Em Hèn Mọn”, danh hiệu ấy soi sáng và làm nổi rõ quan niệm của thánh Phanxicô về đời sống tu sĩ phan sinh và ơn gọi phúc âm của họ trong xã hội và trong Giáo hội. "Các anh em đã được gọi là hèn mọn, chủ ý để cho họ không bao giờ khao khát làm lớn, chớ muốn ở trên kẻ khác. Ơn gọi của họ là phải ở địa vị thấp kém và đi theo con đường khiêm hạ của Đức Kitô…" (2 Cel 143).
Để hiểu cho hết tầm mức của danh hiệu do chính thánh Phanxicô đặt cho các Anh Em, ta phải nêu lên ở đây một nhận xét quan trọng. Tuy bắt nguồn từ một cảm hứng phúc âm, cái tên “Anh Em Hèn Mọn” vào thời đó còn có một ý nghĩa về giai cấp. Danh xưng "quý nhân, đại nhân" bao gồm các thị dân giàu có, nắm quyền kinh tế và chính trị trong tân xã hội công xã; còn hạng thứ dân sống trong các xưởng thủ công và các tầng hầm, thêm vào đó là nông dân bỏ trốn làng mạc và chế độ nông nô, tất cả những hạng người ấy đều được gọi là “kẻ hèn mọn”. Từ ngữ “các kẻ hèn mọn” bao gồm tất cả những người dân nào trong xã hội thành thị non trẻ không giữ những địa vị hàng đầu, đôi khi lại chẳng có địa vị gì hết.
Ý nghĩa xã hội của từ ngữ “hèn mọn” tất phải được thánh nhân thấu triệt, thế mà ngài không sợ. Trái lại, khi gọi các anh em mình là “hèn mọn”, ngài muốn thật sự xác định vị trí xã hội của họ giữa hạng thứ dân thành thị. Đức khiêm hạ mà ngài mời gọi họ tu luyện, không chỉ giới hạn vào một thái độ bên trong; nó còn có thêm một chiều kích xã hội. Các Anh Em không được thống trị bằng bất cứ cách nào, không những trong dòng mà cả ngoài xã hội nữa. Nhắm mục đích ấy, thánh nhân, trong bộ Luật năm 1221, yêu cầu minh bạch tu sĩ nào đến làm việc tại nhà dân chúng thì không được nhận những công việc khả dĩ có cơ hội sai khiến kẻ khác, và do đó đồng hóa mình với giai cấp lãnh đạo và thống trị. Các tu sĩ phan sinh phải từ chối các chức vụ thủ quỹ, trưởng ấn, quản lý (Lksc 7, 1), v.v..., tóm lại, mọi chức vụ lãnh đạo, chỉ huy. Và ngài nói thêm: "Mỗi người sẽ là kẻ bé mọn và vâng phục những kẻ cùng ở một nhà với mình." (Lksc 7, 3).
Tôma Cêlanô nhận thấy: "Các anh em thật sự là “hèn mọn”, vâng phục mọi người: anh em tìm địa vị thấp kém nhất và loại công việc bị người ta khinh miệt." (1 Cel 38). Nếu việc làm không đủ nuôi bản thân thì đi khất thực như kẻ ăn mày. Như vậy, các tu sĩ đầu tiên, do việc làm cũng như do cách ăn mặc và cư ngụ, thật sự thuộc hạng người “hèn mọn”, nghĩa là trong số đông đảo những kẻ không có giá trị; trong tân xã hội thành thị, họ chẳng có quyền hành, thường bị khinh miệt và ở trong tình trạng bất ổn. Cha thánh viết trong Luật dòng năm 1221: "Chúng ta cũng hãy vui mừng khi ở giữa những người tầm thường, khiêm hạ, giữa những người nghèo nàn, tàn tật, đau yếu và phung hủi, và giữa những người ăn xin ở các ngả đường." (Lksc 9, 3).
Các tu sĩ phan sinh có lý do để vui lên, vì môi trường bất hạnh ấy là thửa đất ưu đãi cho việc loan báo Nước Thiên Chúa. Có một khế ước bí mật, một sự đồng tình ngấm ngầm giữa Phúc âm và thế giới của những kẻ bé mọn và những kẻ nghèo. Đối với thánh nhân, đây là một liên hệ sâu sắc và thiết thân, vì bản thân ngài cũng bé mọn khó nghèo như họ. Chính vì nghèo khổ mà những kẻ đáng thương ấy mang gánh nặng tội lỗi cùng với niềm hy vọng của loài người. Tự nhiên họ ở trong thế mong đợi một đổi thay, mong được giải phóng. Họ không mơ ước quyền thế thống trị, nhưng chỉ khao khát một xã hội tự do hơn, huynh đệ hơn, trong đó chẳng còn thống trị và bị trị. Do đó, họ là tiếng nói sâu xa của thế giới. Cũng do đó, họ không ngờ mình là những nhà tiên tri về một Thực tại vượt trên họ, duy Thực tại ấy mới có khả năng thỏa mãn hoàn toàn niềm trông đợi của họ. Niềm hy vọng vào Nước Trời không xa lạ gì đối với ước nguyện sâu xa của người nghèo; nói đúng ra, niềm hy vọng nằm trong ước nguyện của họ, dựa vào ước nguyện của họ làm chiếc đòn bẩy để nâng cao thế giới.
Đó là lý do tại sao một tình huynh đệ theo đúng nghĩa Phúc âm chỉ có thể đơn giản là một tình huynh đệ của những kẻ nghèo khó, vun tưới sự nghèo khó như một nhân đức, trong một vũ trụ kín mít chẳng liên hệ gì với thế giới và lịch sử. Như vậy cũng phải là một tình huynh đệ gần gũi những kẻ bé mọn và những kẻ khó nghèo để chia sẻ điều kiện sinh hoạt và những khát vọng của họ, ngõ hầu tiếng nói sâu xa của thế giới kêu gọi một cộng đồng nhân loại công bằng và huynh đệ hơn, có điều kiện vang dội tại chính trọng tâm niềm hy vọng vào Nước Trời. Chính vì sống huynh đệ với những kẻ khiêm hạ nhất và những kẻ thiếu thốn nhất mà những Anh Em Hèn Mọn đầu tiên xuất hiện như là những sứ giả Tin mừng.
Trong chương trình phúc âm của thánh Phanxicô, sứ vụ và tình huynh đệ liên kết chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Sứ vụ, tức là sự loan báo Tin mừng, phải đi đôi với một nếp sống huynh đệ, nhân danh Chúa Giêsu mà sống với những anh em thua thiệt nhất. Nếp sống huynh đệ ấy lan tràn ra xung quanh và tự cống hiến cho mọi người như là hoa quả đầu mùa của Nước Chúa, như là sự loan báo tiên tri về một nhân loại trong đó không còn bóng dáng của thống trị, áp bức, và bóc lột, song chỉ có những anh em chị em cùng sống dưới mắt Cha.
5. Tuân Phục Giáo Hội
Thêm một nét cuối cùng để hoàn tất bức chân dung trung thực của phong trào huynh đệ phan sinh. Một nét trọng yếu. Danh hiệu “Anh Em Hèn Mọn” đặt vị trí xã hội cho các Bạn đường của Cha thánh giữa hạng thứ dân thành thị. Nó cũng nói lên thái độ sâu xa của họ đối với Giáo hội và vị trí của họ trong định chế ấy. Các tu sĩ phan sinh không những muốn là những kẻ "hèn mọn", những kẻ bé mọn trong xã hội thế tục mà thôi, mà cũng muốn là những Kitô hữu hèn mọn trong cơ cấu Giáo hội. Do đó, phong trào huynh đệ phan sinh có một khuôn mặt khác hẳn các phong trào phúc âm đương thời. Tất cả các giáo phái – lúc đó nhiều lắm – đều rao giảng sự trở về Phúc âm của khó nghèo, của sứ vụ truyền giáo và của tình huynh đệ. Trên bình diện ấy, không có gì khác biệt chẳng hạn giữa thánh Phanxicô cùng các Bạn của ngài và Pierre Valdo, cũng là một thương nhân trở lại với Phúc âm. Điều khác biệt cơ bản giữa phong trào huynh đệ phan sinh và các giáo phái chính là thái độ của mỗi phong trào đối với định chế Giáo hội.
Thánh Phanxicô không tự lập làm nhà giám sát, cũng không tự nhận là một nhà cải cách hay một nhà tiên tri. Ngài tự biết mình và chỉ muốn là kẻ quá bé nhỏ để làm công việc đó. Tất nhiên có chứng kiến những vụ lạm quyền của Giáo hội và thâm tâm cảm thấy chua xót, nhưng ngài không trách cứ ai hết. Đối diện cái họa thối nát của các giáo sĩ, ngài và các Bạn đường từ chối đóng vai "kẻ trong sạch", "kẻ chân chính". Vả lại cũng chẳng nghĩ đến làm việc đó. Đơn giản, chỉ tự nhận là "những người đền tội thành Assisi", chỉ muốn là những “Anh Em Hèn Mọn” theo ý nghĩa đầy đủ. Trong tập Di bút của ngài, người ta không thể tìm ra một giòng, một chữ diễn tả thái độ xét đoán Giáo hội và hàng giáo phẩm, chẳng có vết tích nào của một thái độ phản kháng. Trái lại, tập Di bút chứa đựng một niềm kính trọng rất sâu xa đối với định chế Giáo hội và một ý muốn minh bạch tỏ bày niềm tuân phục hiếu thảo, bắt nguồn từ một niềm tin sâu sắc.
Hiển nhiên, thánh nhân và các anh em của ngài muốn sống Phúc âm trong Giáo hội, tuân phục Giáo hội, hiệp thông về đức tin và đời sống với Giáo hội. Mấy giòng sau đây trong bản Di chúc của Cha thánh diễn tả hay nhất thái độ của ngài và các tu sĩ phan sinh đối với Giáo hội và các đại diện Giáo hội: "Sau đó, Chúa đã ban và vẫn còn ban cho tôi ơn tin rất mạnh vào các linh mục sống theo thể thức Hội thánh Rôma vì thánh chức của các ngài, nên dẫu các ngài có bách hại tôi, tôi vẫn chạy đến cùng chính các ngài. Và dù tôi có khôn ngoan như vua Sa-lô-môn, nếu tôi gặp những linh mục đáng thương sống theo thế tục, tôi cũng không muốn giảng dạy trong các giáo xứ các ngài ở, nếu các ngài không muốn. Tôi muốn kính sợ, yêu mến và tôn trọng các ngài cũng như tất cả các linh mục khác như là chủ tôi, và tôi không muốn xét đến tội lỗi nơi các ngài; vì tôi nhận thấy Con Thiên Chúa nơi chính các ngài, và vì các ngài là chủ tôi." (DC 6–9).
Thái độ khiêm cung ấy đem lại cho phong trào huynh đệ phan sinh khởi thủy và kinh nghiệm phúc âm của phong trào, một sự trong sáng và bình thản khôn sánh. Ở đây dâng lên một sức sống không gợn gây hấn. Ở đây tự do nảy nở một sức sống trong một bầu khí tin cậy vui sướng. Một sức sống đầy vui tươi đã tìm lại tinh thần trẻ thơ ngay tại chính ngọn nguồn.